Chuyện Xóm Tôi

Jennifer qua chào để dọn nhà đi nơi khác. Cô nói, nhà chỉ để lên HAR.com có một hôm là bán được ngay. Cô nghĩ có lẽ vợ chồng cô đã không biết giá thị trường nên có thể bị hớ.  Người mua, trả hơn giá đòi, cả trước khi agent cắm biển bán nhà. Theo cô, có lẽ người mua đã tìm nhà trong khu này lâu rồi, nên thấy, là mua ngay. Tôi hỏi sao đang ở vui vẻ mà lại bán nhà gấp làm gì. Cô hỏi lại:

– Chị không biết gì thật sao ?

Tôi ngạc nhiên nhìn cô, lắc đầu:

– Chuyện gì vậy ?

Cô à một tiếng, rồi nói nhanh:

– À! Đúng rồi, từ khi anh về hưu, anh chị đi chơi nhiều quá nên không để ý chuyện trong xóm, phải không ?

Tôi lại giải bày:

– Chúng tôi dọn về đây 2 năm. Rất thích xóm này vì cảm thấy an toàn và gần khu Bellaire.  Lúc mới dọn vào đây, tôi cũng có tham dự những buổi họp hằng tháng của xóm, nhưng từ ngày ông xã về hưu thì tôi lại ít tham gia chuyện bên ngoài.  Có chuyện gì mà tôi chưa biết vậy ?

Cô xuống giọng:

– Mới đây, trong xóm đề nghị ông Mike lên làm “chủ xị”, chị có biết không ?

– Chuyện đó tôi có biết nhưng ai làm trưởng xóm thì tôi cũng không quan tâm lắm đâu.

– Vậy là chị không biết ông ấy nhiều rồi.

– Có phải ông Mike, “next door neighbor” của tôi không vậy?

– Đúng rồi.

– Chuyện ông Mike được đề nghị làm trưởng xóm có liên hệ đến việc cô bán nhà sao ?

– Đó là lý do chính tụi em bán nhà, đó chị à.

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

– Việc ông Mike được đề nghị làm trưởng xóm là lý do chính cô bán nhà dọn đi chỗ khác ? Tôi thật tình không hiểu.

Jennifer nhìn tôi với ánh mắt ái ngại, rồi hỏi lại:

– Khi biết có thằng ăn cắp ở ngay trong xóm, rồi thằng này lại được đề nghị làm trưởng xóm. Chị có thể không quan tâm hay dửng dưng được không ? Chị có cảm thấy an toàn nữa không ?

– Dĩ nhiên là không. Nhưng tôi vẫn chưa hiểu được ý của Jennifer.

Jennifer lắc đầu, nhìn tôi ngao ngán:

– Ý em là không chấp nhận sự kiện như vậy, nên em phải bán nhà, dọn ra khỏi xóm này.

Tôi đưa hai bàn tay lên ôm nguyên khuôn mặt của mình, che luôn đôi mắt trong vài giây, rồi bỏ tay xuống, mở mắt ra, nhìn Jennifer, hỏi:

– Rồi nơi khu nhà mới, nếu có người xấu, Jenni lại dọn nhà nữa sao ?

Cô lớn giọng trả lời:

– Tụi em ra thật xa thành phố, mỗi nóc gia có vài mẫu đất, không có ai làm chủ xóm cả, chị à.

– Jenni có điều kiện thì làm như vậy được chứ chúng tôi thì không, nên phải có cách khác.

– Cách gì vậy? Nói cho em nghe được không ?

Mời Jenni uống tiếp ly nước táo và chanh mới xay xong, tôi chậm rãi nói:

– Thì tránh họ ra thôi.

– Chị à, nó ở ngay bên cạnh, làm sao chị tránh được.

– Ở xứ này, nhà ai nấy ở, nếu tốt, gặp nhau thì mình chào, còn không thì làm lơ như mình không thấy.

– OK! Coi như chị tránh được đi, nhưng bây giờ một thằng không có tư cách như vậy lại làm chủ xị, thì chị nghĩ sao ?

Đưa tay lên vén những sợi tóc đang lòa xòa trước mắt, thay vì trả lời Jenni, tôi hỏi lại:

– Jenni có theo dõi cuộc bầu cử trong cộng đồng mình tháng trước không?

– Lúc đầu em cũng muốn theo dõi nhưng khi có ban bầu cử, mà trưởng ban lại là người bị tai tiếng trong cộng đồng nên em chán, không thèm để ý đến nữa.

– Jenni có biết kết quả cuộc bầu cử không ?

– Có.

– Jenni thấy sao ?

– It’s OK.

Tôi cười nhẹ, rồi chậm rãi nói:

– Ai cũng nói về người trưởng ban đó không tốt, có người còn phát cả tờ rơi, là bản copy những giấy tờ tội phạm của ông ta, nên rất nhiều người không tham gia cuộc bầu cử, vì vậy năm nay số người đi bầu ít hơn 3 năm trước cả 3 ngàn người. Dù vậy kết quả của cuộc bầu cử thì đa số đều vui mừng…

Không chờ tôi nói hết câu, Jenni nóng nảy cắt ngang:

– Chuyện bầu cử trong cộng đồng thì có dính dáng gì với chuyện trong xóm mình hả chị ?

– Tôi chỉ muốn đưa ra thí dụ để nói với Jenni rằng, biết đâu trong xóm mình có người đề nghị cho ông Mike làm trưởng xóm vì họ thấy kết qủa của cuộc bầu cử trong cộng đồng mình.

– Em không hiểu ý chị!

– Tôi nghe có người nói là người xấu, khi được làm việc tốt, thì họ sẽ làm tốt hơn người bình thường.

Cười lớn, cô lắc đầu lia lịa, rồi nói:

– Em không tin đâu chị.

– OK, cô không tin thì thôi nhưng ngoài lý do chính thì còn có lý do phụ nào nữa?

Yên lặng một lát, Jenni hỏi lại tôi:

– Chị có thấy trong xóm này “phe đảng” không ?

Không suy nghĩ, tôi lắc đầu đáp ngay:

– Không, tôi chẳng thấy ai phe đảng gì cả.

– Có lẽ chị ít để ý chuyện chung quanh. Thôi, vậy cũng tốt chị à.

Nói xong, Jenni đưa tay lên gãi đầu rồi tự dưng đổi đề tài:

–  Em muốn hỏi chị là chuyện cái bà cà chớn TV, mấy tháng trước, khi ra cộng đồng làm việc, lại dùng tên của chị, bị chị viết thư gửi đi khắp nơi, nên bà ấy bị người ta chê cười. Bây giờ ai gặp bà ấy cũng gọi là HV-China, đến đâu rồi?

– Tại sao lại gọi là HV-China?

– Thì China chuyên làm đồ giả đó mà chị.

Tôi phá ra cười:

– Thiệt tình! Tôi chưa biết chuyện này, đó nha. Còn cô hỏi chuyện đến đâu thì tôi cũng chịu, chẳng biết nó tới đâu nhưng dạo gần đây, tôi gặp bà ấy vài lần ngoài cộng đồng, tôi lờ bà ấy đi.

Jenni nhanh nhẩu:

– Em cũng có thấy bà ấy một lần trên chùa VN. Em chỉ cho chồng em, ảnh nói “Ối Giời! Kinh thật!”

Chạm nhẹ tay Jenni, tôi nói:

– Jenni biết không, khi bà ấy lấy tên tôi để ra cộng đồng sinh hoạt với cô DS trẻ kia thì lúc đầu tôi cũng khá ngạc nhiên vì bà ta tên là TV, tôi đã gặp bà ấy, đã liên lạc emails, đã phỏng vấn bà ta trong một phóng sự của chúng tôi. Bà đã tự giới thiệu tên là TV. Tôi lại quen biết với vài người bạn của bà ta, những người biết bà ấy từ lúc bà mới dọn đến đây …

Jenni ngắt lời tôi:

– Vậy mà chị không làm dữ thì em cũng thua chị luôn.

– Để làm gì hả Jenni?

– Vạch mặt ra cho mọi người biết, chứ chị.

Tôi lắc đầu:

– Đừng tưởng người ta không biết Jenni ạ. Phần đông người ta khinh cho đấy chứ. Nhiều người emailed, phoned, text cho tôi nói về bà ta không hay ho chút nào. Tôi chỉ giải thích là, khi người ta đã có ý gian thì mình có nói hay có làm gì đi nữa cũng không ngăn được họ đâu. Họ không còn biết ngượng ngùng nữa đâu. Nếu biết ngượng, là người có tư cách, đạo đức rồi, thì đã không “cầm nhầm” tên tuổi hay sản phảm của người khác.

Jenni không đồng ý, cãi lại:

– Chị à, không nói, những hạng người đó lại tưởng là không ai biết, không bao giờ bỏ thói ăn cắp.

– Có lẽ chẳng cần phải chờ đến mình nói đâu Jenni à.

– Là sao, chị ?

– Nếu là người ưa cầm nhầm thì chắc chắn họ cầm nhầm đồ đạc, sản phẩm của nhiều người, thì thế nào cũng có người không im lặng như mình đâu.

– Nhưng chị là người bị cầm nhầm cả cái tên mà không lên tiếng thì hơi lạ.

– Không lạ đâu, Jenni. Tôi cũng đã làm những gì cần làm rồi đó chứ. Nếu không, thì Jenni làm gì biết chuyện đó, phải không ?

– Không đâu chị, tại em thấy mấy đài truyền hình giới thiệu là HV, mà chiếu ra cái bà hắc ám gì đâu, không phải chị, nên em cũng thắc mắc và hỏi chị đó chứ.

Tôi hạ thấp giọng một tí:

– Jennie thấy đó, cái tên mình còn bị người khác cầm nhầm thì sá gì mấy cái bài mình viết, bị thiên hạ cầm nhầm, phải không ?

– Thật ra em thấy bà ta cũng khôn quá trời đi chứ ?

– Khôn ?

– Chị không thấy hả, thì chỉ cần mượn một cái tên đã “thành danh” trong cộng đồng, đặt cho mình, thì sẽ có nhiều người nhầm tưởng mình là tác giả của những “sản phẩm đã có sẵn trên thị trường.”

Tôi cười muốn tắt thở với ý nghĩ lạ lùng của cô bạn nhỏ hàng xóm, rồi đính chính:

– Làm gì mà “thành danh” hả, Jennie.  Vài cái truyện ngắn, vài tấm hình, vài bài phóng sự, thì có gì đâu mà Jenni nói là “thành danh” ! Nói vậy, “chúng” chửi cho tắt bếp luôn đó cô à.

Jenni cũng cười theo và phụ họa:

– Còn những chương trình Sử, chương trình thiếu nhi trên LSR chị đã làm cả chục năm nữa chi ?

Tôi nghiêm trang đáp lời Jenni:

– Chỉ là những việc nhỏ xìu xiu thôi cô em à. Thích thì làm thôi chứ có gì mà Jenni cho nhiều credit vậy?

Tôi vừa dứt lời, Jenni đã nói nhanh:

– Chị nói credit, làm em nhớ vài năm trước, sau khi anh chị có bài phóng sự về chợ chồm hổm ở nhà thờ La Vang, thì ngay sau đó, mấy đài truyền hình ở đây cũng làm phóng sự đó, mà “tục” nhất là đài GLB-TV. Họ “cầm” nguyên  bài của đài VOA, thêm vài chi tiết khác rồi làm thành của họ mà không nhắc một tiếng là mượn bài của anh.

Tôi lại cười:

– Thì họ sập tiệm rồi đó! Xét cho cùng thì tại họ không có người viết bài thôi.

– Không có người viết, đi lấy bài nơi khác thì phải để “nguồn” chứ, chị.

Tôi trầm ngâm:

– Lúc đầu tôi cũng có ý phiền giận vì sự không trong sáng của họ.  Họ có thể lấy bài nhưng ít ra phải để xuất xứ. Sau này, tôi nghiệm ra một điều là họ cần những lời khen, nên để “tiện việc sổ sách” thì khỏi ghi gì cả để những ai không biết, sẽ tưởng họ viết, họ làm from scratch, rồi khen thưởng họ. Thôi, mình bỏ qua cho họ đi nha. Chuyện chôm chôm, cầm nhầm thì ở khắp nơi rồi, không chỉ ở Tầu, VN và những xứ chậm tiến, mà ngay cả người sống lâu năm tại Mỹ, tại Úc, cũng có không ít người mang chứng bệnh trầm kha này. Chừng nào Jenni dọn nhà?

– Cuối tuần này rồi chị.

– Tôi rất tiếc là vợ chồng Jenni dọn đi nơi khác. Nếu biết trước, tôi đã năn nỉ Jenni đừng bán nhà.

– Cám ơn chị, nhưng mọi việc đã xong rồi.

Đưa Jenni ra cửa, tôi nói trong tiếc nuối:

– Về đây được hai năm, tôi rất vui được quen biết với Jennie. Tôi mong rằng sau này sẽ có dịp ở gần với Jenni.

Cầm tay tôi, Jennie ngập ngừng:

– Em cũng mong có dịp ở gần chị. Biết đâu chừng, khi tụi em lớn tuổi, cũng sẽ dọn về lại gần đây cũng nên.

– Chúc Jenni vui với căn nhà mới và mong mọi điều tốt lành sẽ đến với gia đình cô./.

 

Xuân Trong Cửa Thiền

 

Sau hơn một tuần lễ làm việc với con số, kiểm tra sổ sách một công ty dầu, trong chuyến công tác đến thành phố nhỏ miền trung Mỹ, vào những tuần đầu tháng Hai của năm dương lịch, Thanh tìm được địa chỉ một ngôi chùa trong cuốn điện thoại niên giám. Không ngại cái lạnh triền miên của những ngày mùa đông, với cơn mưa tuyết vừa chấm dứt chiều hôm trước, Thanh quyết định lái xe đến đó để tìm không khí Tết trong lúc phải xa gia đình vào những ngày cuối năm âm lịch.

Trải qua những đoạn đường đông đá, cuối cùng thì cô cũng đến được ngôi chùa nhỏ, nằm khuất dưới những tàng cây không còn lá, trong khuôn đất rộng, với tấm biển nhỏ Tịnh Xá Thanh Lam bên ngoài hàng rào. Sáng sớm thứ Sáu, bãi đậu xe vắng vẻ, Thanh cẩn thận từng bước trên mặt sân còn trơn ướt. Mùi trầm hương thoang thoảng khi cô đến gần cửa. Định đưa tay gõ nhẹ cánh cửa bên góc trái, nhưng hàng chữ nhỏ đập vào mắt cô “Cửa mở, mời vào”.

Đẩy nhẹ cửa, hình ảnh một tu sĩ đang ngồi yên lặng trước bàn thờ Phật, quay lưng lại cửa ra vào, làm Thanh hơi khựng lại. Cô bỏ giày, khép nhẹ cửa, đi vào bên trong. Vị tu sĩ như không hề biết sự hiện diện của cô. Ngước nhìn tượng Phật màu trắng với khuôn mặt thanh thoát, Thanh cúi đầu, lễ ba lạy, rồi ngồi xuống phía cuối chánh điện.

Không biết Thanh đã ngồi đó bao lâu, nhưng khi cô bắt đầu xả thiền thì bắt gặp một ánh mắt trong sáng, hiền từ đang nhìn cô. Cô chắp tay chào, nhưng vị tu sĩ ra dấu, bảo cứ thong thả xả thiền. Chờ cô xả thiền xong, vị tu sĩ lên tiếng:

– Đạo hữu đến chùa sớm vậy có lạnh không ?

Thanh gật đầu:

– Vâng, trời ở đây lạnh quá!

– Đạo hữu từ đâu đến ?

– Dạ từ California.

Vị sư nhìn cô, hỏi:

– Đạo hữu mới dọn đến thành phố này ?

– Dạ không, con chỉ công tác ở đây vài tuần.

– Làm sao biết Chùa mà đến ?

Thanh bẽn lẽn:

– Dạ con coi trong cuốn điện thoại niên giám.

Với nụ cười thật hiền, vị sư hỏi tiếp:

– Sớm quá, có lẽ đạo hữu cũng chưa dùng điểm tâm, mời đạo hữu dùng sáng nhé?

Thấy Thanh có vẻ ngại ngùng, sư lên tiếng:

– Đừng ngại, tới chùa thì cứ tự nhiên.

Buổi điểm tâm với bánh tét nhân đậu xanh và dưa món chay làm Thanh chạnh nhớ những ngày Tết ở quê nhà. Nơi xứ lạ, dù khí hậu lạnh lẽo những ngày trước Tết, nhưng trong lòng Thanh rộn ràng ấm áp khi được biết Thanh Lam là chùa sư nữ.

Với nét mặt dịu hiền nhưng trong sáng, cùng với làn da trắng mịn màng, sư Diệu Hiền nhìn như chưa tới bốn mươi. Thanh không nhớ là mình đã gặp khuôn mặt thanh tú này ở đâu, chỉ biết là nhìn rất quen thuộc. Trí nhớ của Thanh không giúp nàng nhận diện được người trước mặt. Có lẽ vì giọng nói hiền hòa từ tốn của sư Diệu Hiền nên dù mới gặp, Thanh không ngần ngại chia sẻ vài chuyện rất riêng tư để rồi biết ra sư Diệu Hiền là cô Thục Hiền, em của cha Thanh, đã trốn gia đình, xuất gia gần 40 năm trước.

***

Những ngày cận Tết Quý Sửu (1973), Sàigòn có những cơn gió mát nhẹ làm Thục Hiền thêm hồi hộp trong sự đợi chờ. Mới ngày nào, tiễn Hoàng đi du học mà giờ đây chàng sắp về thăm gia đình. Hoàng là bạn của anh kế Thục Hiền, hay đến nhà học thi với anh nàng. Hoàng bày tỏ tình cảm qua những cử chỉ ân cần săn sóc, qua những ánh mắt tình tứ. Rồi khi xa nhà, những lá thư xuyên đại dương trong ba năm trời, gói trọn mối tình đầu của Thục Hiền. Những dòng chữ yêu thương, hứa hẹn, giúp nàng thoát được sự mai mối của người thân quen. Trước khi lên máy bay đi Đức, Hoàng đã nắm tay nàng nói nhỏ “Chờ anh nhé!” Chỉ ba chữ đó thôi mà Thục Hiền coi như lời hứa hôn và nàng đã hạnh phúc gật đầu với nước mắt rưng rưng.

Là con út trong một gia đình đông anh em, Thục Hiền lớn lên cùng các con của anh chị nàng. Có cháu còn ra đời trước cả Thục Hiền vài năm. Các cháu giỏi giang hơn dì út. Cô cháu gái Thục Vi, con bà chị cả, xinh đẹp thi đâu đậu đó, mới vào trường Dược được hai năm và đang có bạn trai là con của một luật sư nổi tiếng trong thành phố. Lúc Hoàng rời nước, Thục Vi chỉ 17 tuổi,  học lớp đệ nhị trung học (lớp 11). Thục Vi thương và rất gần gũi dì út Thục Hiền.

Lòng rộn ràng, Thục Hiền nôn nao chờ đợi. Nàng đếm từng ngày, từng phút, từng giây để ra phi trường đón người yêu. Tháng ngày chờ đợi dài vô tận nhưng nàng sống trong niềm hạnh phúc không cùng.  Ngày Hoàng về thăm nhà, Thục Hiền lại không được ra Tân Sơn Nhất đón người yêu vì mẹ Thục Vi nói xe không đủ chỗ ngồi, nhưng Thục Vi thì được theo mẹ ra phi trường.

Không ai biết được chuyện gì xảy ra trên chuyến xe từ Tân Sơn Nhất về nhà Hoàng, trong Chợ Lớn, ngày hôm đó, mà chỉ một tuần lễ sau là đám hỏi của Thục Vi và Hoàng. Đám cưới cử hành hai tuần sau đám hỏi. Và Hoàng trở lại Đức sau đám cưới một tuần. Bà con họ hàng thân hữu, bàn tán không dứt về cuộc hôn nhân lạ lùng này. Người thì cho rằng cưới như chạy tang, dù trong gia đình không có người chết. Người thì nói “chị giật chồng sắp cưới của em út cho con gái”. Có người chê Thục Vi cướp người yêu của dì út, nhưng có kẻ lại chê Hoàng ham vợ trẻ và giàu mà phụ người yêu. Người khách quan hơn thì cho rằng thời buổi loạn ly, ai lại không muốn tìm cách cho con đi ngoại quốc …

Không biết có phải là để tránh những bàn tán xôn xao về mình, hay là quá thất vọng vì sự thay đổi của người yêu, mà một ngày, sau khi Hoàng trở lại Đức, Thục Hiền cũng bỏ nhà ra đi. Trong bức thư để lại cho gia đình, Thục Hiền chỉ xin đừng tìm kiếm nàng, và hứa sẽ không làm tổn hại bản thân để khỏi phụ công ơn sinh thành dưỡng dục của song thân…

***

Trong lúc sư Diệu Hiền châm thêm trà vào tách cho Thanh, cô chậm rãi hỏi:

– Sao lúc đó Sư Cô lại bỏ nhà ra đi ?

Cười nhẹ, sư lắc đầu, rồi nói:

– Lúc đó bà con họ hàng bàn tán dữ quá, mẹ của Thục Vi thì bị bà con xỉ vả. Ai gặp, cũng đem chuyện đó ra hỏi, mà Cô thì không muốn thấy Thục Vi buồn. Bác Thiềm, mẹ của Vi, lại là chị cả trong nhà, nên cô chỉ muốn tránh mặt một thời gian.

– Cô vào Chùa từ lúc đó ?

– Chuyện khá dài dòng, cháu ạ. Lúc đó cháu còn nhỏ quá mà.

– Vâng, cháu mới 6 tuổi. Cô có buồn khi anh Hoàng cưới chị Thục Vi không ?

– Có chứ! Không những buồn mà còn thất vọng, hụt hẫng nữa. Từ lâu lắm rồi, Cô đã theo Bà đến Chùa lễ Phật.  Sau khi chú Hoàng đi Đức học, cô lại đến chùa nhiều hơn. Lúc đó, cô chưa biết gì về đạo Phật, chỉ đến lễ Phật và cầu nguyện mà thôi. Đến khi chú Hoàng về thăm nhà và cưới Thục Vi, rồi trở lại Đức để hoàn tất việc học, thì bác Thiềm thấy cô buồn quá nên lại làm mai, làm mối nhiều người khác cho cô …

– Ủa, sao lạ vậy ? Bác Thiềm có giải thích với cô vì sao anh Hoàng lại cưới chị Vi không ?

– Không, cháu ạ.

– Cô có hỏi anh Hoàng hay chị Vi không ?

– Cô không hỏi, nhưng Vi có nói với cô là “Me dàn xếp mọi chuyện”. Chú Hoàng thì tránh gặp mặt cô.

– Lúc đó cháu nhỏ quá, không biết gì hết. Đám cưới chị Vi xong thì cũng chẳng thấy cô đâu. Mãi sau này lớn lên, cháu nghe Bố Mẹ nói cô đi tu ngoài Đà Nẵng. Họ hàng nói cháu giống cô nhất nhà.

– Ừ, cháu giống cô lúc trẻ.

– Có lẽ vì vậy mà lúc nãy cháu cứ thấy cô quen quen.

– Cô cũng nghi là có liên hệ, khi mới thấy cháu.

– Cô đến Mỹ từ bao giờ ?

– Cũng hơn hai mươi năm rồi, cháu.

– Trong nhà, ai cũng tưởng cô vẫn còn ở Việt Nam.

Sư Diệu Hiền nhìn Thanh, chậm rãi nói:

– Cô nào có định đi khỏi Việt Nam đâu. Thời đó người Việt mình vượt biên chết nhiều quá nên Phật tử trong chùa năn nỉ cô đi với họ. Họ tin là có cô thì mọi việc sẽ hanh thông.

– Cô có biết Bố chết không ?

– Cô có nghe là Bố mất trong tù.

– Vâng, bị đi “trại cải tạo” đó cô.

– Mẹ cháu bây giờ ra sao ?

– Mẹ cháu cũng mất rồi cô.

– Mẹ cháu mất lúc nào ?

– Dạ qua đây mới mất.

– Mẹ cháu hiền, chị dâu mà thương cô hơn cả chị ruột.

– Cháu nghe mẹ kể là hồi đó mẹ đi kiếm cô quá chừng.

– Cô có biết, nhưng cô tránh gặp.

Nhìn sư Diệu Hiền thật lâu, Thanh ngập ngừng hỏi:

– Cô còn nhớ hay buồn chuyện ngày xưa không, cô ?

Lắc đầu, sư Diệu Hiền chậm rãi trả lời Thanh:

– Nếu nói quên chuyện xưa là không nói thật, nhưng buồn thì không, cháu ạ. Cô cho rằng cô có duyên đi tu nên mới xui đẩy những chuyện như thế.

– Là sao, cô ?

Sư Diệu Hiền trầm ngâm một lúc rồi thong thả nói:

– Cô phải thú thật là lúc đầu Cô đi tu vì thất vọng nhưng về sau cô hiểu ra và cảm ơn những người đã mang lại sự khổ đau ban đầu đó, bởi vì những bất hạnh đó mở ra một cuộc đời mới cho cô. Sự tu hành làm cô giảm đi Ái Nghiệp và hiểu được lý Nhân Duyên. Cô nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc đời, của tình yêu. Bây giờ trong sự thanh thản, cô đang cố theo gương Đức Phật, mang tâm Từ Bi trải cho mọi người và mọi loài. Có lẽ cháu không tin đâu, cô cũng không muốn nói nhiều về lý thuyết nhưng cháu cứ thử đi, ráng tu tập và cầu nguyện đức Phật Tự Tâm, cháu sẽ hiểu cô và có được sự nhẹ nhàng và hạnh phúc khi mình mang Tâm Từ trải rộng cho muôn loài, chứ không khép kín trong sự yêu thương đôi lứa hay trong họ hàng thân thuộc.

Thanh vẫn nghi ngờ, hỏi thêm:

– Tết đến rồi ở chùa Cô không buồn sao?

Ni sư Diệu Hiền mỉm cười, dịu dàng trả lời:

– Với người tu, thời gian và không gian không còn ảnh hưởng. Ngày xưa thiền sư Chân Không đời Lý có câu thơ này mà cô rất tâm đắc, cô đọc lại cho cháu nghe này:

“Xuân đến Xuân đi ngờ Xuân hết

Hoa nở Hoa tàn chỉ là Xuân”

Thành thử ra tất cả là tùy Tâm mình. Xuân, thu, ở Mỹ hay Việt Nam, nếu Tâm an thì lúc nào, ở đâu cũng là mùa xuân trên quê hương mình cả.

Thanh nhìn Sư Cô Diệu Hiền mà lòng cảm thấy an tịnh lạ thường. Nàng cảm thấy Mùa Xuân đang thực sự trở về dù thời tiết đang là những ngày cuối đông lạnh giá./.

 

Please! Be My Valentine!

Sáng sớm cuối Đông, trời còn hơi lạnh, mới hơn 5 giờ, Hoàng Uyên đã ngồi đọc báo trong lúc uống coffee. Nghe như có tiếng chân ai rón rén đến gần, nhưng cô vẫn không ngẩng đầu lên.
– Good Morning! – Chào Buổi sáng –

Tiếng chào quen thuộc làm Hoàng Uyên ngạc nhiên. Ngừng đọc báo, cô ngước lên nhìn, mỉm cười với người vừa chào mình, rồi đáp:
– Good Morning! Alex. Sao dậy sớm vậy ?

Alex với dáng rụt rè, hai tay giấu sau lưng, ngập ngừng:
– I don’t know. – Không biết! –

Hoàng Uyên hỏi:
– Alex có gì sau lưng đó ?

Lắc đầu nguầy nguậy, Alex nói thật nhanh:
– Nothing ! – Đâu có gì đâu!

Hoàng Uyên cười:
– OK! Không có gì !

Alex tiến đến gần Hoàng Uyên, rồi bất ngờ đưa hai tay đang giấu sau lưng, ra trước mặt Hoàng Uyên, nói nhanh:
– Happy Valentine!

Hoàng Uyên ngạc nhiên nhìn Alex, rồi nhìn vào nhánh hoa dại, và tấm thiệp trong tay Alex. Tấm thiệp tự làm với tờ giấy trắng, xé từ một cuốn tập nào đó, vẫn còn vết răng cưa, được xếp làm tư.

Xúc động, Hoàng Uyên đưa tay nhận, rồi từ từ mở tấm thiệp. Hình trái tim vẽ vụng dại, với hàng chữ viết nguệch ngoặc bằng Crayon …. “Please! Be My Valentine!”

Nước mắt dàn dụa trên má, Hoàng Uyên cúi xuống, bế Alex lên, nghẹn ngào chưa nói được gì, thì Alex đã lên tiếng:

– Pl…e…a…s…e…! Mommy … Please! Be my Valentine!

Hôn con liên tiếp mấy cái, Hoàng Uyên chậm rãi nói:

– Thank you so much, Alex! You are My Valentine!

Xuân Lẻ Loi

– Thục Uyên! Thục Uyên!…
Tiếng gọi ngạc nhiên chen lẫn ngỡ ngàng làm Thục Uyên ngơ ngác nhìn quanh. Wallee cũng rộn ràng chạy loay hoay dưới chân nàng như tìm kiếm. Đứng trong đoàn người hối hả vừa từ Caltrain Station túa ra để đến sở làm vào sáng sớm mùa đông của San Francisco, Thục Uyên nghe âm thanh của tên mình thật xa lạ với chính nàng. Ai mà biết mình giữa thành phố chưa quen vào buổi sáng tinh sương này ? Ý nghĩ đến nhanh trong đầu nàng, rồi tưởng mình đang mơ, Thục Uyên chăm chú nhìn vào đèn đường. Khi thấy dấu hiệu “đi” sáng lên trên cột đèn giao thông, Thục Uyên cúi xuống, lắc nhẹ chiếc dây trong tay, nối liền với cái vòng trên cổ của Wallee, nói:
– Wallee, ngoan nào, đi …
Thục Uyên chưa dứt lời, thì nghe một giọng nói thật ấm ngay sau lưng:
– Phải Thục Uyên không ?
Nàng hốt hoảng xoay nhanh người lại để bắt gặp một khuôn mặt đàn ông đang đối diện với mình. Người đàn ông nhìn nàng rồi đưa một tay ra như muốn choàng qua vai Thục Uyên. Nàng mừng rỡ reo lên:
– Ô! Anh Hoàng! Anh Hoàng hả ?
Người đàn ông xiết nhẹ vai nàng, gật đầu, rồi dồn dập hỏi nhanh:
– Sao Thục Uyên lại ở đây ? Qua đây lâu chưa ? Ở với ai ở đây ? Sáng sớm còn lạnh như vậy mà đi đâu đây ? …
Vừa hỏi Hoàng vừa kéo nàng đi nhanh theo đoàn người băng qua đường trong khi Wallee ngoan ngoãn chạy theo.
Vẫn nắm tay Thục Uyên khi đã đứng nép vào gần thân cây cherry bên góc đường, để nhường lối cho khách bộ hành, Hoàng nhìn xuống chú chó nhỏ lẩn quẩn dưới chân nàng, hỏi tiếp:
– Thục Uyên có chú chó đẹp quá!
– Thanks, nhưng Wallee là của Quang.
Hoàng ngạc nhiên:
– Cháu Quang ở San Francisco à ?
– Vâng, cháu ở đây từ lúc ra trường.
– Gần đây không ?
– Dạ 2 blocks.
Nhìn Thục Uyên, Hoàng tiếp lời:
– Thục Uyên chưa trả lời mấy câu hỏi của anh.
– Anh hỏi nhiều và nhanh quá, lại phải băng qua đường …
Hoàng cười:
– OK! OK! Xin lỗi! Tại bất ngờ quá!
Thục Uyên hỏi lại:
– Anh đi đâu mà lại thấy và nhận ra Uyên ?
– Đi làm. Vừa xuống train, đang đi vội để đến văn phòng thì chợt thấy có dáng ai quen quen. Tưởng là một cô Tàu nào, nhưng khi thấy gió làm bay nón của cái áo, rồi tóc dài bị gió thổi, anh ngờ ngợ là Uyên. Bèn gọi thử thì thấy “cô Tàu” nhìn quanh nên biết là Thục Uyên. Còn Uyên đi đâu với Wallee sớm vậy ?
Thục Uyên cười bẽn lẽn:
– Sáng nào Uyên cũng dắt Wallee đi một vòng…
– Ủa bao lâu rồi? Sao hôm nay anh mới thấy ? Anh vẫn đi con đường này từ mấy năm nay rồi mà.
Thục Uyên lắc đầu:
– Cũng mới đây thôi, nhưng mọi lần thì đi về hướng đường số 5. Sáng nay Quang text khi vừa đến sở, nói đừng đi hướng đó vì có tai nạn bắn nhau gì đó, nên Uyên đi ngược lại hướng đường số 3…
Hoàng reo lên:
– Ô! Hên quá, nhờ vậy anh mới gặp được Uyên.
Thục Uyên nhìn vội xuống chiếc đồng hồ trên tay mình, hỏi:
– Anh nói chuyện có trễ giờ làm không? Văn phòng gần đây không?
Hoàng đáp nhanh:
– Cách đây 10 blocks. Sáng nay anh có một buổi họp quan trọng rất sớm nên bây giờ phải xin Uyên địa chỉ của cháu Quang, và số phone của Uyên, khi họp xong, anh sẽ gọi và đến nhà cháu Quang, gặp Uyên nhé.
Ghi số phone và địa chỉ xong, Hoàng đưa tay ra nắm lấy bàn tay Thục Uyên bóp nhẹ, nói:
– OK, anh phải chạy, lát nữa anh gọi.
Nhìn theo Hoàng nhập vào đám đông trên đại lộ Brannan, đi về hướng Downtown, Thục Uyên vẫn không tin được những gì vừa xảy ra. Nàng chậm rãi cúi xuống bế Wallee lên, vỗ nhẹ vào đầu nó, rồi quay người lại, đi về hướng nhà Quang.

*

Suốt buổi họp, tâm trí Hoàng bị chi phối vì cuộc gặp gỡ tình cờ với Thục Uyên. Hơn mười năm trời không gặp mà nàng không hề thay đổi và chàng thì vẫn xúc động dạt dào khi gặp lại. Hình ảnh Thục Uyên những ngày còn là sinh viên của trường UT hiện ra như những thước phim quay chậm trong đầu Hoàng. Cô sinh viên nhỏ nhắn, tóc dài nhưng luôn cột cao, làm cho khuôn mặt càng thêm thanh tú, đã khiến chàng giáo sư rung động mỗi lần cô hỏi bài. Dù ái mộ nàng đến đâu thì Hoàng cũng không thể bày tỏ cảm tình của mình vì chàng đã có gia đình. Suốt 4 năm học tại Austin, Thục Uyên vẫn một mình chăm chỉ học, không tham dự những cuộc vui của bạn cùng lứa. Có nhiều lần, Hoàng đã cố gợi chuyện để tìm hiểu về nàng, nhưng Thục Uyên khá kín đáo nên Hoàng không biết nhiều về cô. Chỉ có một lần, vì không hiểu nhiều chữ Anh ngữ, cô mới tâm sự là chỉ mới đến Mỹ vài năm trước đó. Và rồi do một tình cờ, chàng đã biết được là trên đường vượt biển tìm tự do, tàu của Thục Uyên đã gặp hải tặc. Học xong, Thục Uyên có việc làm ở Houston rồi lập gia đình. Hoàng vẫn theo dõi cuộc sống của nàng và biết nàng không hạnh phúc với chồng dù họ có một con trai. Rồi họ chia tay cách đây ba năm, trước khi Quang học xong.
Những giòng tư tưởng chạy lung tung trong đầu Hoàng cho đến khi xong buổi họp, chàng vội ra ngoài để gọi cho Thục Uyên. Cuối cùng thì hẹn được với nàng tại nhà hàng Freshroll, ngay trên đường số 4, chỉ cách nhà Quang vài blocks đường.

*

Thục Uyên nghiêng bên phải, nhìn qua trái trước tấm gương, rồi thêm chút phấn hồng, tí môi son, tí bút chì trên đường viền mắt, trên hàng lông mày… cho tới khi bằng lòng với những gì nàng thấy, mới bước ra khỏi phòng tắm. Nàng tự hỏi tại sao mình lại “điệu” đến thế. Lâu lắm rồi nàng không dùng tới những hộp mỹ phẩm này, nhất là từ lúc dọn đến San Francisco vì nàng chẳng đi đâu ngoài việc dắt Wallee ngày hai lần ra đường và đi mua thực phẩm cho mẹ con nàng. Thục Uyên không có người quen biết nào ở đây, ngoài Quang. Nàng quyết định về hưu ở tuổi 50 để theo con qua thành phố Cựu Kim Sơn sống.
Thục Uyên nghe mình tự hỏi, là đi gặp và ăn trưa với một người quen ngày xưa thì tại sao phải rộn ràng, cuống quít như vậy. Nàng mỉm cười khi nghĩ tới người giảng sư của đại học Austin năm nào đã chiếm nhiều cảm tình của nàng thuở ấy nhưng chưa hề có một hẹn hò giữa hai người. Cuộc hành trình kinh hoàng trên biển cả để tìm tự do, đã mang lại tâm trạng sợ hãi cho nàng khi gặp những người khác phái. Nàng nhớ lại những ngày đến trường trong cô đơn ở thủ phủ Austin của tiểu bang Texas đã làm nàng suýt bỏ học mấy lần, nhưng rồi nàng cũng qua được những lúc buồn chán để quyết chí học hành. Với sự giúp đỡ không ít của người giáo sư tốt bụng tên Hoàng, cuối cùng thì nàng cũng học xong. Thục Uyên biết Hoàng có gia đình và tình cảm giữa hai người cũng rất chừng mực, tuy nhiên, những lần ngồi nghe Hoàng kiên nhẫn giảng bài cho mình, Thục Uyên không khỏi xúc động.
Với mảnh bằng cử nhân của UT- Austin, Thục Uyên có việc làm ở Houston. Tại đây nàng gặp và kết hôn với một đồng nghiệp. Dù Thục Uyên đã không dấu diếm chồng về tai họa khủng khiếp nàng gặp trên biển cả, nhưng cuộc hôn nhân cũng bị ảnh hưởng nặng nề vì chuyện đó. Có lẽ những cơn ác mộng thỉnh thoảng đến với nàng ban đêm đã làm phiền lòng người phối ngẫu. Nhưng làm sao nàng có thể bảo lòng đừng nhớ đến những tai họa kinh hoàng đó! Rồi cuối cùng họ phải chia tay khi Quang vẫn còn chưa học xong cử nhân…

*

Từ ngã tư đường Howard, Thục Uyên đã thấy Hoàng đứng chờ trước tiệm Freshroll, không dưng tim nàng đập nhanh hơn bình thường. Hơi bối rối, nàng chợt mỉm cười một mình. “Lạ thật! Sao mình giống người say vậy nè?”, Thục Uyên lẩm bẩm, rồi đi nhanh hơn.
Đón nàng với nụ cười thật tươi, Hoàng ân cần hỏi:
– Đi bộ mệt không ?
Thục Uyên lắc đầu:
– Không đâu, ngày nào Uyên cũng đi vài miles mà.
– Thục Uyên có thường ăn ở đây không ?
– Không thường lắm ạ. Còn anh thì sao ?
Hoàng cười:
– Mỗi tuần vài lần thôi.
– Vậy là anh ăn hết các món ở Freshroll rồi hả ?
Hoàng nheo mắt:
– Còn phải hỏi!
Rồi tinh nghịch nói tiếp:
– Thục Uyên có muốn hỏi món nào ngon không ?
– Không cần hỏi đâu. Nhờ anh order giùm luôn.
Hoàng cười lớn:
– Ấy! Không nên! Không nên! Dù tôi vẫn nhớ Uyên thích món gỏi cuốn.
Thục Uyên ngạc nhiên:
– Trí nhớ của anh hay thiệt! Được đi ăn với anh có 2 lần ở Austin mà anh vẫn nhớ Uyên thích gỏi cuốn.
– Nhớ chứ, vì từ đó đến giờ tôi cũng thích món này luôn.
Mở mắt lớn nhìn Hoàng, Uyên hỏi:
– Thật vậy hả ?
Hoàng trêu:
– Không thật! Hơi nói dối đấy.
Thục Uyên cười theo:
– Anh vẫn không thay đổi gì cả sau bao nhiêu năm …
Hoàng vờ nghiêm mặt:
– Làm sao thay đổi được khi mình không muốn thay đổi.
Đánh nhẹ vào tay Hoàng, Uyên nói:
– Thiệt tình! Nghiêm chỉnh đi ông thầy.
– OK, nghiêm chỉnh đây. Thục Uyên muốn ăn gì ?
– Tiệm Freshroll thì có lẽ ăn spring roll là hợp lý, phải không ạ.

*

Ăn trưa xong, Hoàng rủ Thục Uyên ra công viên ngay sau lưng tiệm. Ngồi dưới bóng của một cây cổ thụ, hai người nhắc đến những ngày ở Austin. Rồi Hoàng cho biết là hiện đang ở tận San Jose, mỗi sáng đón train vào San Francisco làm việc, chiều lại đi train về. Chàng còn nói là chỉ làm thêm vài năm nữa thì về hưu. Thục Uyên thắc mắc:
– Gia đình anh thì sao ?
– Bây giờ anh ở một mình.
– Ủa! Sao vậy ?
– Tụi anh đang ly thân.
– Oh! Sorry, anh Hoàng.
– Không sao đâu, Thục Uyên!
– Em có thể hỏi tại sao không ?
Nhìn Thục Uyên, Hoàng ngần ngại, nói chậm :
– Có quá nhiều khác biệt giữa hai người.
– Sorry! …
Hoàng để tay lên vai Uyên, rồi lắc đầu:
– Chịu đựng nhau lâu quá và nhiều quá cũng không tốt, đâu Uyên.
– Vâng…
Thấy Hoàng im lặng hơi lâu, Thục Uyên nhắc:
– Anh cần trở lại sở chưa ?
– Không cần đâu. Anh đã nói với bà thư ký là anh nghỉ luôn chiều nay.
– Vậy sao ?
– Gặp lại Uyên anh mừng quá. Có nhiều chuyện cần nói với Uyên.
– Vâng.
Hoàng ngập ngừng:
– Có lẽ Uyên cũng biết cảm tình anh dành cho Uyên từ dạo còn ở Austin ?
Uyên lắc đầu:
– Em không hiểu rõ lắm đâu.
– Anh tưởng Uyên biết.
– Sao hồi đó anh không nói ?
– Anh thì có gia đình. Uyên thì luôn luôn khép kín. Rồi Uyên lập gia đình, anh tôn trọng Uyên nên phải giữ tình cảm trong lòng…
Thục Uyên nhìn Hoàng, chậm rãi nói:
– Có lẽ cứ để yên như vậy mà tốt đó, anh Hoàng.
Hoàng lắc đầu:
– Tới lúc mình cần phải sống cho chính mình Uyên ạ.

*

Tiễn Hoàng ở trạm xe lửa để về nhà chiều đó, Thục Uyên hứa sẽ gặp lại Hoàng cuối tuần tới ở San Jose để cùng lên tu Viện Kim Sơn đón Tết. Câu nói của Hoàng làm Thục Uyên suy nghĩ mấy ngày liền. Muốn lắm chứ, có một người bên cạnh trong tuổi xế chiều. Thèm lắm chứ, một vòng tay ôm khi trời trở lạnh. Nhưng những cơn ác mộng lại đến với nàng trong đêm vắng. Nỗi sợ hãi kinh hoàng khi thức dậy sau những cơn mơ hãi hùng làm nàng ngần ngại khi suy nghĩ về câu nói của Hoàng. Thục Uyên biết mình sẽ không thể sống hạnh phúc bên một người đàn ông nào cả, cũng như sẽ không mang lại hạnh phúc cho ai.
Ba năm nay, nàng đã thấy yên ổn hơn khi chia tay với chồng. Những cơn ác mộng thưa dần với thời gian. Nhưng gặp lại Hoàng rồi nghe lời đề nghị của chàng lại làm nàng nhớ lại những chuyện hãi hùng trên đại dương cách đây đã 30 năm. Những chuyện mà nàng đã cố gắng không nghĩ tới, những chuyện mà nàng không dám nhớ tới. Nước mắt lăn dài trên má, Thục Uyên biết cuối cuộc đời nàng sẽ chỉ là một người cô độc, lẻ loi mà thôi. Nàng không muốn thêm một người nào nữa phải chịu chung những khổ đau của nàng. Mùa Xuân đã thật sự từ giã nàng trên chuyến vượt biển tìm tự do năm xưa. Dưới chân nàng Wallee đang nằm ngủ ngon lành. Thân nhiệt của nó như đang sưởi ấm đôi chân lạnh ngắt của Thục Uyên. Có lẽ chỉ có Wallee là bạn đồng hành với nàng trong cuộc đời còn lại mà thôi.