Thuở bơ vơ mới về …

Tôi biết  ngay từ những ngày đầu mới “chân ướt chân ráo” về nhà Anh.  là sui gia với Má nhưng có họ ngoại với Anh nên khi Anh trở về nước sau những năm du học ngoại quốc, hai gia đình lại muốn kết thân thêm một lần nữa mà không thành.  có 4 người con gái. Người thứ ba là chị dâu của Anh. Cô Út và chị Cả kẹt lại VN sau 75. Chị thứ hai lập gia đình với một người NaUy nên ở tận Oslo. Biến Cố Tháng Tư 75 đã tách rời  khỏi những người con để rồi  di tản cùng với gia đình chị chồng tôi. Giữa mùa Thu năm đó  sum họp với gia đình người con thứ ba tại Tulsa.

Trong căn nhà nhỏ bằng gỗ 3 phòng ngủ trên đường số 4 gần Tulsa University,  và Má một phòng, anh chị DD và cháu L một phòng, phòng còn lại là của Anh. Đám cưới xong, tôi về ở chung phòng với Anh.  Căn phòng của chúng tôi có cửa sổ nhìn ra vườn sau.  Phòng của anh chị DD thì cửa sổ nhìn ra đường và phòng của  và Má ngay cạnh phòng tắm, cửa sổ nhìn ra nhà anh chị C, chị gái của Anh. Không biết 2 phòng ngủ kia có khóa không chứ phòng của chúng tôi không có khóa từ bên trong.

Những ngày mới về nhà Anh, tôi không chỉ bị Má “chiếu cố” mà còn bị anh D đối xử rất là “không văn minh”. Những buổi trưa từ lớp học Anh ngữ về nhà ăn cơm, tôi vừa bưng chén cơm là Má nói ngay:

Cô ăn lẹ đi rồi lo kiếm áo quần dơ của câu H đem đi giặt để chiều cậu ấy đi làm về cậu ấy nghỉ ngơi”.

Nước mắt dàn dụa vì tủi thân, tôi buông đũa trong khi  lên tiếng:

“Bà để cho cô Ti ăn xong rồi nói có được không ?”

Má điềm nhiên:

“Tôi có biểu cô ấy làm ngay đâu, bảo ăn xong mới làm cơ mà” 

Anh D lúc đó làm ban đêm trong một tiệm McDonald. Trưa ngồi ăn cùng chúng tôi cũng lên tiếng:

“Ai đánh đập gì cô mà khóc cơ chứ”

Rồi “bồi” thêm:

“Mẹ thằng L đi làm, bà tham già yếu, cô ăn xong lo dọn nhà cửa cho sạch sẽ”

Tôi nghẹn ngào không nuốt nổi nên xin phép không ăn nữa, rút lui vào phòng ngồi khóc thầm.  theo vào an ủi:

“Cô ra ăn cơm đi chứ sao lại vào đây ngồi khóc ?”

Tủi thân, tôi khóc lớn và  kể cho tôi nghe chuyện ngày xưa  mới lấy chồng …

Khó Khăn – Trở Ngại

Càng ngày anh D đối xử với tôi càng không công bằng. Tôi tránh gặp mặt anh D tối đa dù ở chung nhà.  biết điều đó nên hay tìm cách nói chuyện vui cho không khí nhẹ đi. Tôi vẫn không kể lại với chồng những việc xảy ra khi Anh đi làm. Một người anh lớn hơn của chồng tôi, tên T, ở cạnh nhà ba mẹ tôi, đến thăm Má, hỏi tôi:

“Sao không về thăm 2 bác vậy cô Ti ? Mê chồng quá quên cả cha mẹ em út sao ?”

Tôi chỉ biết ứa nước mắt lắc đầu không nói. Vài tuần trước, khi mới về làm dâu nhà Anh, chiều chiều cơm nước xong Anh hay đưa tôi đi bộ về thăm ba mẹ tôi. Tôi rất hạnh phúc có Anh đi cùng. Nhà ba mẹ và các em tôi ở đường số 7, phía mặt trước của ĐH Tulsa. Nhà tôi ở, sau đám cưới, là phía sau của trường. Đi bộ nhanh mất khoảng 20 phút, đi chầm chậm và ngừng lại xem cây cỏ thì mất khoảng nửa giờ. Nhưng chỉ đi được vài lần là Má kêu tôi vào phòng, phán:

“Cô có về thăm ông bà thì đi học rồi ghé thăm được rồi, sao phải chờ cậu H đi làm về bắt cậu ấy đưa đi? Cậu ấy yếu lắm, đi như vậy rồi bệnh, chết thì ai nuôi tôi ?”

Tôi lại khóc nhưng không hề giận vì biết Má thương người con trai út của bà.  Má lại cùng tuổi với bà ngoại tôi và  thua Má một giáp nên mặc dù là sui gia, mẹ tôi vẫn gọi Má và  là Cụ, xưng Con.  Mẹ dạy tôi phải lễ phép và thương Má vì Má sinh ra chồng tôi. Không có Má thì làm sao có Anh cho tôi lấy. Dù vậy, có lần Mẹ cũng cười nói với tôi “Sao con không chọn ai có cha mẹ trẻ trẻ như ba mẹ cho dễ dàng xưng hô.”

Một buổi tối, không biết ăn nhằm cái gì mà tôi bị đau bụng suốt đêm nên phải ra vào phòng tắm nhiều lần thì sáng hôm sau, ngay sau khi Anh rời nhà đi làm, tôi đang sửa soạn đi học thì Má vào phòng tôi, đóng cửa lại rồi quắt mắt nhìn tôi, hỏi:

“Cô làm gì mà lục đục suốt đêm trong phòng tắm ? Tôi nói cho cô biết là cậu H không khỏe mạnh gì đâu. Phải để cho cậu ấy ngủ để còn đi làm nuôi tôi nữa. Cô phải biết điều một tí”

Tôi ngạc nhiên:

“Con bị đau bụng cả đêm mà Má!”

Tối đó tôi kể lại cho chồng nghe chuyện Má la tôi ban sáng vì tôi không hiểu tại sao đau bụng phải dùng restroom lại bị rầy. Chồng tôi nghe xong, đi qua phòng Má nói gì hơi lớn tiếng. Khi tôi hỏi thì anh bảo là anh cự Má và nói với Má là “Khổ quá Má ơi, từ lúc cưới tới giờ đã làm ăn gì được đâu mà Má cứ suy nghĩ tào lao vậy”.

(Tôi phải mở ngoặc để nói một tí về chuyện này. Trước đám cưới khoảng 3 tuần, trên đường từ trạm xe Bus đi bộ về nhà với một bao giấy lớn đầy thực phẩm vừa mua từ chợ Safeway cho mẹ tôi, tôi bị một gã đàn ông Mỹ trắng tấn công ngay trên đường vắng vào buổi trưa.  Tôi đã quăng bao thực phẩm xuống đường để chạy thoát thân sau khi kêu cứu mà không có một người nào xuất hiện.  Vừa chạy tôi vừa la lớn “Help! Help!” mà không có ai nghe,  may là chỉ cách nhà tôi  có hai blocks. Mẹ ra mở cửa khi nghe tiếng đấm cửa liên hồi của tôi.  Vào nhà tôi chỉ biết khóc vì ngực tôi bị đau khinh khủng do sự tấn công và làm bậy của gã đàn ông đó. Vì sự việc này tôi muốn hủy cái đám cưới đang được những người trong nhà Thờ lo giúp.  Tôi gọi cho “bà mẹ nuôi” nói ý định này. Các bà trong nhà Thờ bảo trợ gia đình tôi, cùng ông mục sư đến thăm và nói họ sẽ làm theo ý tôi.  Chiều đó Anh đến thẳng nhà tôi sau khi tan sở và năn nỉ tôi đừng hủy đám cưới.  Anh hứa với ông mục sư, với ba mẹ tôi là Anh sẽ không làm gì để tôi sợ.)

Đúng sáu tuần sau ngày cưới thì tôi mới thật sự trở thành đàn bà. Sau đó tôi mới hiểu ra lý do Má la tôi khi tôi bị đau bụng phải dùng phòng tắm nhiều lần trong đêm hôm. Chuyện Má rầy rà tôi chịu được vì Má là mẹ Anh nhưng việc anh D cứ bắt lỗi tôi đủ điều và sai khiến tôi làm việc như người giúp việc thì tôi không chịu được.

Lúc đó tôi không hiểu lý do gì mà anh D lại “pick-on” tôi hoài như vậy. Sau này tôi mới biết được là sau khi làm “ông mai” để mai mối chồng tôi với cô Út nhà vợ anh không thành, anh D lại “làm mai” ông em cho em gái của vợ bạn cũng không thành.  Tôi nghe kể lại là trước năm 75 ở Việt Nam, những người du học trở về nước thường được nhiều gia đình khá giả “ngắm nghía”. (Cô chú bác và các anh chị họ của tôi đi du học về tôi không biết có được nhiều nơi “ngắm nghía” không vì tôi còn quá nhỏ để được biết chuyện trong gia tộc, nhưng trong gia đình nhỏ của ba mẹ tôi thì anh Ba của tôi lúc đó vẫn còn học ở Tây Đức chưa về nước nên tôi không kiểm chứng được điều này). H không tránh được những mai mối từ cô, chú, bác, dì, anh, chị và cả cháu trong nhà, sau khi về nước cuối năm 71. Bao nhiêu người mai mối cũng không thành cho đến năm 74 thì gặp tôi trong một lớp Anh ngữ, anh dạy thêm buổi tối của London School.

Có lẽ  biết tôi không vui nên những lúc cùng làm bếp với tôi,  kể cho tôi nghe chuyện ngày xưa ở Việt Nam, chuyện Quan Âm Thị Kính, chuyện tiền kiếp của đức Phật…  cũng coi tuổi, coi tướng và chỉ tay của tôi và nói rằng số tôi rồi sẽ rất sung sướng sau này. Tôi thương và rất quí trọng . Nhiều lần  cũng kể cho tôi nghe chuyện hai người con bị kẹt lại Sàigon. Tôi rất phục cái tính chịu đựng của .  Trong lúc mẹ tôi khóc lên khóc xuống vì gia đình anh Hai của tôi kẹt lại ViệtNam thì tôi chưa từng thấy  khóc khi nhắc đến hai người con của  cũng đang ở Saigon. Cô Út hơn tôi hai tuổi, nhưng trong nhà ai cũng gọi là Cô Út nên tôi cũng gọi theo luôn. Dù chưa hề gặp cô Út nhưng qua lời kể của , tôi rất có cảm tình với Cô.

Chữ Hiếu …

Ở chung được một thời gian, không khí trong nhà ngày càng ngột ngạt, tôi thì ngày càng gầy, mất hẳn tiếng cười, chồng tôi quyết định mua nhà dọn ra riêng với Má cùng đi với chúng tôi. Trong lúc đang lo thủ tục mua nhà thì một buổi sáng cuối tuần tôi thức dậy sớm mà không thấy Anh bên cạnh, tôi rón rén đi ra bếp thì thấy Anh và anh D đang rù rì nói chuyện. Tôi rút lui về phòng nằm đọc sách. Sau đó Anh vào và kể cho tôi nghe là anh D lo ngại nếu chúng tôi dọn ra thì anh chị ấy không thể trả nổi tiền thuê nhà hàng tháng. Chồng tôi hứa sẽ phụ trả tiền nhà thuê cho gia đình anh chị DD cho đến khi nào họ có thể tự túc được.

Qua nhà mới, tôi thi vào làm Nurse Aide trong nhà thương Saint Francis. Chị D cũng được tuyển dụng cùng khóa với tôi. Sau mấy tuần được huấn luyện, tôi phải làm ca hai, từ 3 giờ chiều đến 11 giờ đêm.

Rồi tôi có thai lần đầu. Lúc đó tôi không hiểu “ốm nghén” là gì, chỉ biết mỗi lần Má nấu nấm Đông Cô thì tôi ói tới mật xanh mật vàng. Dù đã vào phòng đóng cửa nhưng cái mùi nấm Đông Cô vẫn theo vào trong phòng ngủ nên tôi vẫn bị ói liên hồi.  Vì vậy khi biết Má sắp nấu món Nấm là tôi lái xe ra khỏi nhà. Có hôm tôi lên nhà ba mẹ tôi nhưng chẳng có ai ở nhà ban ngày. Ba mẹ tôi đi làm, các em thì đi học nên tôi thường lang thang ngoài mall cho đến giờ đi làm.  Việc này bị nhà chồng cho là tôi hỗn láo, không muốn Má ở chung. Gần ngày sanh con đầu lòng, Anh bảo tôi xin nghỉ làm. Ở nhà tôi còn khổ hơn vì anh chị của Anh đến thăm Má mỗi ngày.  Chị C của Anh, bữa thì đem vài cái nấm, bữa thì đem vài quả lê hái bên sân trường đại học, dúi dúi cho Má. Tôi không hiểu tại sao chị C phải mất công làm như vậy vì Má muốn gì, cần gì là chúng tôi mua ngay cho Má.  Cho đến một hôm, Mẹ tôi gọi điện thoại bảo tôi về nhà gấp, Mẹ cần hỏi tôi vài chuyện.

Bước chân vào nhà, tôi thấy Mẹ ngồi nơi bàn ăn, khuôn mặt buồn bã. Mẹ không trả lời khi tôi hỏi Mẹ có khỏe không. Tôi ngồi xuống chiếc ghế đối diện với Mẹ mà lòng đầy âu lo. Tôi tưởng Mẹ không khỏe hay có tin không vui từ VN.  Một lát Mẹ nhìn vào mắt tôi, hỏi:

“Sao con không nghe lời Mẹ dạy ?”

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

“Con không nghe lời Mẹ chuyện gì ?”

Giọng Mẹ buồn buồn nhắc lại những gì đã dặn dò tôi, nào là phải thương và quí nhà chồng hơn nhà mình, nào là phải lo cho Má chu đáo hơn lo cho Mẹ vv và vv…  Tôi bật cười nói với Mẹ: “Khổ quá! biết rồi, nghe rồi, áp dụng rồi. Sao mẹ nói mãi thế ? Mẹ kêu con về để dạy con lại vậy thôi sao?”

Mẹ cầm tay tôi, thở dài rồi kể cho tôi nghe là bạn của Mẹ nói với Mẹ là nghe chị C của anh nói tôi bỏ đói Má, không cho Má ăn uống gì cả, chị C phải mua thức ăn đem đến cho Má. Lúc đó tôi giận Mẹ vô cùng vì Mẹ nghe những lời như vậy mà rầy tôi, nên hỏi Mẹ:

“Mẹ có nghĩ là con làm như vậy không ?”

Mẹ siết chặt tay tôi, nói:

“Mẹ không tin con gái mẹ làm như vậy vì mẹ biết tính nết của con”

Tôi ngắt lời Mẹ:

“Biết tính con rồi, sao Mẹ không nói cho người ta biết mà còn kêu con về để la con ?”

Mẹ tôi gật gật cái đầu, chậm rãi đáp:

“Dĩ nhiên là Mẹ đã nói với bạn mẹ những việc đó không thể nào có, vì đó không phải là cá tính của con, nhưng mẹ vẫn hỏi con cho rõ ngọn ngành”

Ra khỏi nhà Mẹ, tôi lái xe đến nhà . Chỉ có  và cháu L (lúc đó chừng 3 tuổi) ở nhà.  Tôi kể cho nghe chuyện tôi vừa bị oan.  Nghe xong  nói tôi đừng có buồn, tính tình của cô C nó như vậy, cô không đi làm ở nhà rảnh rỗi nên ưa gây chuyện.   cũng nói Má già nên lẩm cẩm và khuyên tôi nên bỏ qua, đừng nói lại với Anh.  Tôi không nghe lời khuyên của  mà đem chuyện này than phiền với Anh. Nghe xong, Anh ôm tôi và nói trong nước mắt:

“Vì Má khó tính nên mãi đến hơn 30 tuổi, gặp em, anh mới dám lấy vợ. Thương anh, em chịu khó nhịn cho yên nhà. Anh mang ơn em suốt đời.”

Nghe lời Anh, tôi không nói gì nhưng rất ấm ức. Má thương và quí Anh vô cùng. Tôi cũng yêu và kính trọng Anh không ít. Có những lúc Má kể cho tôi nghe về cách cư xử của những người con dâu lớn với Má, nghe xong tôi xót xa cho Má. Má không hề nói nặng tôi nhưng đối xử với tôi khá lạ lùng.  Với cái bụng bầu đã gần ngày sinh của tôi, Má vẫn nhắc tôi đem rác ra ngoài để khỏi nhọc công Anh phải làm, dù Anh đã cẩn thận dặn tôi không được làm việc nặng khi Anh đi làm. Mỗi lần tôi làm bếp, Má luôn xuất hiện khi thấy tôi cầm chai tiêu định rắc vào món ăn với câu nhắc nhở: “Câu H đau bao tử mà cô cho ăn tiêu là chết sớm, ai nuôi tôi …”  Có lần  đến thăm, nghe Má bảo tôi đem rác ra ngoài,  bất mãn can: “Cái bụng cô Ti lớn như vậy sao không để chú H khiêng rác mà bà bắt cô ấy khiêng”. Má chỉ nói gọn “Cậu ấy không có khỏe đâu bà”.

Rồi tôi sinh con đầu lòng.  Theo lời chỉ dẫn của những người đã có con, tôi nhất định không cho con ăn đêm để tập cho con quen.  Nghe cháu khóc mà không thấy tôi bế, Má giận lắm ra bế cháu lên.  Tôi cự thì Má bảo phải để yên nhà cho Anh ngủ để còn đi làm chứ nó khóc như vậy Anh không ngủ được, sinh ốm, chết thì không ai nuôi Má. Sáng hôm sau anh D và chị C đến thăm Má. Má kể chuyện tôi cứng đầu không chịu dỗ con ban đêm, để Má và Anh không ngủ được. Tôi tức không nói được nên thở không được, tay chân bủn rủn hết.  Đúng lúc đó, một người bạn của Ba Mẹ tôi đến thăm tôi sinh con đầu lòng. Thấy tôi bị như vậy, chú đến chỗ Mẹ tôi làm (cách nhà chúng tôi chừng 3 miles) kể cho Mẹ nghe rồi chở Mẹ đến nhà tôi ngay, vì chú sợ tôi bị “sản hậu” có thể nguy đến tánh mạng.

Khi mẹ tôi đến thì Anh D, chị C cũng đã chở Má ra khỏi nhà.  Mẹ tôi khóc khi thấy tay chân tôi lạnh ngắt, mặt mày thì tím dắt.  Mẹ ôm tôi và than thở: “Sao khổ vậy con ơi! Chồng con gì mà khổ thân như vậy! Con có chết thì chỉ có mẹ là thiệt thòi thôi, con ơi!” và Mẹ ở lại với tôi cho đến khi Anh đi làm về. Mẹ nói với Anh để Mẹ đem tôi và con về nhà Mẹ nhưng Anh không chịu. Từ đó tôi bị gắn cho cái tội là đuổi mẹ chồng ra khỏi nhà.

Má dọn vào ở một mình trong căn nhà thuê trên đường số 5, cách nhà anh chị DD và chị C một block đất trống, đứng bên này thấy được bên kia.  Với 3 người con trai và một gái cùng sống tại Tulsa, chỉ cách nhau vài miles mà Má không ở với ai cả. Thấy Má cô quạnh một mình, tôi cầu cứu , nhờ nói  về lại với chúng tôi, nhưng anh D không cho, bảo là để Má ở một mình tiện hơn.  Con cháu muốn đến thăm, đến chơi với Má thoải mái hơn.

Chỉ một khoảng thời gian rất ngắn sau đó, anhD đi Houston thăm bạn, những người anh đã gặp trên đường di tản. Sau chuyến đi đó anh D quyết định đem gia đình anh và  về Houston với lý do Tulsa mùa đông lạnh quá không tốt cho bệnh suyển của anh và cháu L. Cũng với lý do thời tiết, Má muốn đi Houston sống. Vài tháng sau, chồng tôi đưa Má về Houston bằng máy bay. Anh D đã thuê cho Má cái apartment một phòng ngủ bên cạnh cái apt hai phòng của gia đình anh và .  Trước khi Má rời Tulsa, tôi đem con đến thăm. Má ngập ngừng hỏi tôi:

“Chắc cô không cho cậu H về Houston ở gần tôi đâu phải không ?”

Tôi hỏi lại:

“Tại sao Má hỏi con như vậy ?”

Má ngập ngừng:

“Thì những chuyện đã xảy ra khiến tôi nghĩ như vậy”

Tôi trêu Má:

“Nếu con không cho chồng con đi, thì Má làm gì con ?”

Má nhìn tôi, đáp:

“Tôi biết cô không phải người xấu. Cô không cấm cậu H ở gần tôi đâu. Cô biết tôi thương cậu H mà cậu H cũng thương tôi. Thầy mất sớm…”

Dĩ nhiên là tôi không cấm được Anh gì cả nhưng thật tình là tôi đã rất vui mừng khi gia đình anh chị DD dọn khỏi Tulsa.

Trong chuyến đưa Má về Houston, chồng tôi đi xin việc tại hãng điện của thành phố.  Chỉ mấy tuần sau là họ gọi, mời trở lại để interview. Khi được hãng điện Houston cho việc với số lương gấp rưỡi lương đang làm tại hãng điện Tulsa, Anh nói với tôi là nếu tôi không muốn đi thì Anh sẽ ở lại Tulsa. Tôi xin Anh vài ngày để suy nghĩ.

Có lẽ đó là thời gian chờ đợi lâu dài và hồi hộp nhất trong đời Anh dù chỉ có 2 ngày. Tôi cũng mất ăn mất ngủ vì suy nghĩ. Tôi cầu cứu mẹ tôi, Mẹ chỉ nói:

“Hiếu thảo với cha mẹ là điều tối quan trọng trong đời người. Hiếu thảo với cha mẹ chồng lại quan trọng hơn vạn lần”

Chỉ một câu nói của Mẹ là tháo gỡ tất cả vướng mắc trong tôi. Khi tôi nói với Anh là tôi bằng lòng đi Houston, Anh ôm tôi, hôn lên tóc rồi nói trong nghẹn ngào:

“I know you’re a good girl, Bé”

Nỗi Oan Ức

Đến Houston, anh D làm thợ tiện cho một hãng tiện vùng Đông Nam. Chị D tiếp tục làm nurse aide trong một nhà thương vùng downtown. Trước năm 75 anh chị đều là giáo sư của một trường trung học tỉnh lỵ, cách Saigon khoảng hơn một giờ chạy xe gắn máy.  Rồi gia đình anh chị T cũng bỏ Tulsa về Houston sinh sống.  Anh chị DD ra mua nhà mới, khu Đông Nam của Houston. Má lại đổi qua sống một mình trong cái apt một phòng ngủ, cùng chung cư với anh chị T.  AnhD rủ chồng tôi mua nhà cùng khu vực nhưng chúng tôi quyết định mua vùng Tây Nam nên các anh chị ở gần Má hơn chúng tôi. Mỗi cuối tuần Anh đều đưa tôi và con về thăm Má và thỉnh thoảng chúng tôi ghé thăm . Má rất thương cháu nội trai. Có lần vợ chồng anh Cả của chồng tôi từ Canada sang thăm Má, Má mách với anh Cả là “Ở chung một nhà mà một cô thì chỉ có làm, không chịu ăn, còn một cô thì chỉ ăn, không chịu làm, mà bừa.” Khi nghe anh chị Cả kể lại tôi đã cười ra nước mắt vì những tưởng Má không hề bận tâm là tôi đã phải làm việc nhà như một con sen khi mới về làm con dâu út của Má.

Cuộc sống tại Houston khá yên ổn. Má vẫn khỏe mạnh, chỉ bị đau nhức xương cốt khi trở trời. Trong khi  thường đi chùa PQ mỗi sáng Chủ nhật, thì Má không bao giờ đến chùa nhưng khi Chùa có chương trình bán đất tại một nghĩa trang của người bản xứ, để làm khu nghĩa trang đặc biệt của người Việt, thì Má muốn mua đất ở đó cho hậu sự. Chồng tôi mua 6 lô hàng ngang cho Má vì policies của nghĩa trang này là phải có ít nhất 6 lô mới được một tấm bia đứng.  chung với bác B mua 6 lô, 3 lô phía này, 3 lô phía đối diện. Sau đó  và bác B đã dựng tấm bia đứng ngay chính giữa 6 lô đất này. Trên bia khắc sẵn ngày sinh mà chưa có ngày tử, mỗi phía cho từng người.

Vài năm sau, Má mất. Ngày hôm trước Má kêu mệt, chị D đưa Má đi bác sĩ. Bác sĩ nói Má bị cảm nhưng hôm sau Má mệt hơn, chở vào bệnh viện thì Má mất. Má ra đi nhẹ nhàng, không đau đớn, không phiền hà con cháu. Thầy nói tuổi tôi hợp với giờ mất của Má nên tôi và 2 người cháu nội của Má được chọn vào tẩm liệm Má. Chồng tôi và các anh chị cũng như các cháu nội ngoại khác phải ở ngoài vì “kỵ tuổi”. Các anh chị đưa cho tôi một bịch giấy có áo dài và quần của Má, rồi trước khi tôi vào tẩm liệm Má, chị C đưa cho tôi thêm một bao giấy nữa, nói là áo quần, vật dụng của Má. Chị dặn tôi để những vật dụng đó vào trong áo quan cho Má ấm và dặn dò liệm Má phải nhẹ tay, cẩn thận từng chút.  Tôi làm xong nhiệm vụ, lòng thanh thản nhẹ nhàng.

Hôm sau trở lại nhà quàn, gặp Bà, tôi chào, thì  lạnh lùng đáp “Không dám, chào Cô”. Tôi thắc mắc không biết tại sao  lại lạnh lùng và xa cách với tôi như vậy nhưng tôi không có thì giờ để suy nghĩ vì khách và bà con đến thăm Má rất đông. Tối về, chồng tôi hỏi:

“Sao hôm qua em liệm áo quần của bà tham cho Má ?”

Tôi ngạc nhiên:

“Mấy anh chị đưa cho em bịch áo quần của Má mà.”

Anh hỏi lại:

“Chứ không phải tự em lấy nhầm áo quần của Bà Tham sao?”    

Tôi cãi lại:

“Không, em đâu có biết áo quần nào các anh chị muốn liệm cho Má. Chính chị C đưa cho em mà. “

Chồng tôi nói nhẹ:

“Vậy mà anh D nói em lấy nhầm áo quần của Bà nên Bà giận em lắm.”

Mà  giận tôi một thời gian thật vì như anhD nói với chồng tôi là  tin rằng  sắp chết vì tôi đã lấy áo quần của  liệm cho Má. Sở dĩ có chuyện này vì, sau này tôi nghe kể lại, là  sợ lạnh nên đem theo thêm áo quần, phòng khi cần đến. Lúc đến nhà quàn Bà đã để bịch áo quần vào một góc. Chị C thì nhất định chối việc chính chị đã đưa bịch áo quần của  cho tôi. Suốt một năm trời tôi sống trong lo âu và sợ hãi. Tôi cầu Trời khẩn Phật nếu được thì cho tôi chết thay  chứ nhỡ  mất, thì trong nhà lại kết tội là tôi giết Bà. Thấy  lạnh lùng, chúng tôi cũng ngại ghé thăm. Chỉ gặp  dịp Tết hay cúng giỗ, hoặc có bà con phương xa đến nhờ chở đi thăm .

Làm thợ tiện được vài năm thì anhD bị lay-off, anh ra mở một tiệm giặt máy (washateria) và làm một tờ báo Việt ngữ, chuyên quảng cáo các cơ sở thương mại do người Việt làm chủ.  Khi tôi sinh đứa con thứ hai và đang nghỉ 6 tháng để lo cho con thì một đêm khuya đang ngồi thiền, tôi bỗng thấy anhD đến ngồi trong góc nhà, đối diện với tôi, nhìn tôi mà không nói gì cả. Tôi xả thiền lên nằm cạnh chồng vì cảm giác là lạ làm tôi hơi sợ. Khoảng nửa tiếng sau, điện thoại nhà reng, chồng tôi nhấc máy. Trong đêm khuya thanh vắng tôi nghe giọng  thảng thốt bên kia giây nói: “Anh D chết rồi chú ơi”. Chồng tôi đang nửa tỉnh nửa mơ vì lúc đó chỉ hơn 2 giờ sáng, nên hỏi  dồn dập.   nói cảnh sát mới đến nhà báo tin anhD bị xe đụng chết tại chỗ. Lúc đó anhD mới 43 tuổi ta.

Cái chết của anh D mang tôi lại gần  hơn. Chúng tôi đến thăm , chị D và hai cháu thường hơn. Cháu nhỏ nhất chưa được hai tuổi. Chị D bỏ việc làm nurse aide về trông coi tiệm giặt. Bà lại âm thầm nuôi cháu và gửi tiền về Việt Nam nuôi con. Mỗi Chủ nhật  lên chùa làm công quả. Có bữa chúng tôi ghé thăm,  chưa về thì chúng tôi lên Chùa đón Bà về. Rồi có tin người con trưởng của  mất tại VN vì ung thư trong khi chờ đợi đi Mỹ do  bảo lãnh. Tôi lại một lần nữa chứng kiến sự can đảm chịu đựng của  “làm tuần” cho con gái tại chùa. Tôi chỉ thấy mắt bà long lanh lệ, chứ chưa bao giờ nghe  khóc gào gì cả.

Tình Đời

Vài năm sau khi anhD mất, cô Út qua đoàn tụ với  và chịD cùng 2 cháu.  Chúng tôi đến thăm mới biết là trong thời gian ở Việt Nam, cô Út đã bỏ đạo Phật qua đạo Baptist.   chỉ nói là tại ở Việt Nam cô Út cô đơn nên bị họ dụ dỗ.  Chị C, sau đám tang của Má, đã ly thân với chồng và cũng về Houston sống với con gái út của chị. ChịC mai mối cô Út của  với anh của một người con dâu của chị.  Anh này đang ở Tulsa, một mình nuôi con vì vợ anh ấy bỏ chồng con, đi theo “tiếng gọi con tim”. Anh ấy đến Houston vài lần để gặp và tìm hiểu cô Út. Chúng tôi tưởng sắp được ăn cưới cô Út nhưng hoài vẫn không thấy được mời.  Sau này tôi được biết sở dĩ cuộc hôn nhân không thành vì cô Út muốn anh ấy “trở lại đạo” và vì sự lấn cấn trong việc chia sẻ tình thương của anh ấy với người con trai của anh ta.

Làm tiệm giặt một thời gian chị D quen một người đàn ông bản xứ. Ông S hay đến tiệm sửa máy cho chị. Ông S dạy chị và cô Út vẽ tranh sơn dầu. Mỗi lần chúng tôi đến thăm, chị khoe những tác phẩm của chị và cô Út đã vẽ.  Sau khi kết hôn với ông S, chị D bán tiệm giặt, đến một thành phố nhỏ có hồ phía Bắc Houston, nơi anh S có một căn nhà tiền chế  đã cũ, xây “lâu đài tình ái” với anh S. Hai người xây một căn nhà sàn khá đẹp. Tôi chưa hề đến, chỉ nghe chồng tôi nói mà thôi. Chồng tôi khen anh S là xây nhà lần đầu mà anh S làm rất khéo.   vẫn ở với cô Út và cháu ngoại trong căn nhà ngày xưa anh chị DD mua trước khi anh D mất. Chúng tôi vẫn đến thăm  nhưng không thường xuyên như trước. Bà tránh nói đến chuyện chị D tái giá và chuyện cô Út cải đạo.

Không biết có phải chuyện tái giá của chị D làm cho chị C của Anh bất bình mà tỏ ra thân thiện với tôi hơn không. Chị C thường gọi phone nói chuyện và nhiều lần nhắc đến chuyện “chị D lấy Mỹ”,  rồi tâm sự xa gần là “Ở lâu mới biết lòng người”. Khi thấy tôi không “hợp tác” với chị trong việc nói chuyện về người khác thì chịC cũng không nói thêm nhiều nữa. Dù vậy thỉnh thoảng ChịC vẫn gọi than phiền chuyện này chuyện kia. Chị hay làm thức ăn cho chồng tôi vì theo chịC thì tôi không chịu nấu nướng thức ăn ngon cho cậu em út của chị.

Theo năm tháng  yếu và mất dần trí nhớ. Chị D và cô Út thay nhau săn sóc . Lúc thì  ở Houston, khi thì lên trên hồ ở với chị D và anh S. Chồng tôi có đưa anh chị Cả, từ Canada sang Houston trú lạnh vài tháng mùa Đông, đến nhà mới của chị D thăm . Còn tôi chỉ thăm  khi  về Houston.

Một lần chúng tôi đến thăm Tết , gặp cháu Th đang ra xe đi chơi. Tôi lì xì cho cháu rồi vào nhà ngồi nói chuyện với  mời chúng tôi ăn quất ngọt hái từ vườn cùng với mứt bánh. Ăn xong  nhờ chúng tôi giúp  ra vườn hái thêm Quất. Trước khi ra về,  cho chúng tôi khoảng 20 quả quất ngọt. Tôi nhận cho  vui, dù nhà tôi cũng có trồng đủ 3 loại quất; chua, ngoài ngọt trong chua, và ngọt. Vài tuần sau, chị C phone cho tôi khuyên tôi không nên tới thăm  nữa. Tôi hỏi tại sao thì chịC nói là mách với chị là “cô Ti đến thăm mà ăn cắp Quất” của .  Tôi nghe xong chỉ cười và nói với chị C là “có ‘cậuH’ đi với em mà chị”. Nhưng đó là lần cuối cùng tôi đến thăm . Tôi không buồn giận  vì không biết  có nói không nhưng để tránh phiền phức nên tôi không đến thăm  nữa. Anh thì chỉ nói là  lẫn rồi. Mấy năm sau chị C cũng theo Má và anhD.

 

Cách đây ba năm,  có tham dự đám cưới con gái chúng tôi.  không còn nhớ gì nhiều nữa. ngồi xe lăn, khi chúng tôi chào hỏi,  chỉ cười ngây thơ như đứa bé lên hai. Hai tháng trước đây, trong một lần nói chuyện với chị D, chị cho biết  yếu lắm rồi. Tôi nói với chị là tôi sẽ lên thăm nhưng khi hỏi Anh đi với tôi thì Anh nói xa quá, chờ  về Houston rồi thăm. 

Cuối Đời 

Tin  mất được cháu L gửi bằng email đến bà con thân thuộc vào sáng sớm  thứ Bảy cuối cùng của tháng Ba. Bản tin viết  mất từ chiều hôm trước. Chồng tôi gọi điện thoại cho chịD, hỏi chương trình tang lễ, chị nói không có chương trình gì cả. Anh chuyển phone cho tôi chia buồn với chị. Tôi hỏi lúc nào chúng tôi có thể viếng . Chị nói không có thăm viếng, chỉ có một cái memorial service tại nhà thờ Baptist của người Việt vùng Đông Nam Houston, lúc 6 giờ chiều thứ Ba mà thôi. Nhưng sáng hôm sau, chị cho biết chúng tôi sẽ được viếng Bà từ 7 đến 8 giờ chiều Chủ Nhật.

Từ nhà thờ Holy Rosary trong downtown Houston, sau buổi thánh lễ cầu nguyện bình an cho NS Việt Khang và những nhà tranh đấu tại Việt Nam, chúng tôi lái xe đến nhà quàn thì trời bắt đầu tối. Xa và lạ đường, dù có GPS trong cellphone, chúng tôi vẫn bị lạc một quãng, khi đến nơi thì đã 7:15′.  Trong căn nhà quàn nhỏ  của tỉnh lỵ, đứng bên xác Bà chỉ có chị D, cô Út, cháu L, cháu Th và một người đàn ông da trắng lạ. Chúng tôi được giới thiệu ông là mục sư của một nhà thờ Tin Lành trong tỉnh mà anh S và chị D thường đi lễ.

 nằm trên bàn giữa căn phòng nhỏ, giống như phòng nguyện, có đèn khá ấm cúng. Khuôn mặt an bình như đang ngủ. Không áo quan nhưng có 2 chậu hoa Lily nhỏ màu trắng và vài chậu ferns. Chị D nói nhờ không có áo quan nên thấy được  rõ hơn.  Chồng tôi hỏi tại sao không có áo quan, chị trả lời là nhà quàn nói không cần. Anh hỏi như vậy làm sao thiêu, chị nói chị không biết. Rồi chị nói thêm là nhà quàn sẽ thiêu Bà thứ hai, đến thứ ba chị và gia đình sẽ đem tro của  về chôn tại nghĩa trang chùa, nơi  đã có sẵn mộ phần và bia đứng.

Hơn 7 giờ 30 tối anh chị T và con trai của anh chị mới đến vì lạc đường. Anh T ngạc nhiên hỏi “Ủa chưa liệm à” nhưng không ai trả lời anh. Chị D cho chúng tôi biết là nhờ cháu L từ CA bay về và muốn thấy Bà Ngoại trước khi thiêu nên nhà quàn mới dành cho gia đình một tiếng đồng hồ. Vì vậy chúng tôi mới được viếng . Anh T hỏi chị sao không thấy chồng chị, chị trả lời là anh S đang trong bệnh viện vì còn yếu sau những lần chạy chemo vì ung thư phổi.  Chị D cũng nói người con thứ hai của từ NaUy không sang vì xa quá.

Mọi người rời nhà quàn lúc 8 giờ tối sau khi nhờ tôi bấm vài tấm hình. Trên đường lái xe về Houston chúng tôi khá thắc mắc về thủ tục mai táng của . Anh không hiểu tại sao  lại không có được một cái áo quan.  Theo suy đoán của Anh thì có thể  đã lo xong việc hậu sự với nhà quàn VP tại Houston từ lâu lắm rồi. Anh lý giải là bia đứng đã được dựng sẵn từ lâu thì hẳn là áo quan và chi phí tang lễ cũng đã được trả xong từ lâu lắm rồi.  Trong lúc tôi lái xe, Anh mở phone nghe tin nhắn. Một người cháu dâu của Bà đang ở Cali, vợ của cháu ruột gọi  bằng cô, để lại một message trong phone của chồng tôi với giọng bất mãn về việc tang lễ của . Chị phiền trách cô Út khá gay gắt: “Cô Út có theo đạo gì thì theo nhưng tang lễ của Bà đâu có làm như thế được”.  Về đến nhà sau 10 giờ tối, khi nhìn vào cuốn lịch treo tường, tôi chợt ước ao mọi việc vừa xảy ra trong ngày chỉ là “Cá Tháng Tư”khi thấy Chủ Nhật là ngày 1 tháng 4 năm 2012.

Từ những thành phố xa, vài người con của chị C gọi điện thoại cho Anh, báo tin sẽ về dự đám tang của . Tôi nghe Anh nói đám tang có làm gì đâu mà về.  Dù vậy tối thứ hai thì các cháu từ Dallas về đến và sáng sớm thứ ba thì người con lớn của chị C từ Tulsa cũng có mặt tại Houston để dự buổi chôn tro của  tại nghĩa trang lúc 11 giờ sáng.  Sở dĩ tôi không dùng chữ “Lễ” vì không có một vị mục sư hay vị thầy nào cả. Tôi không tham dự buổi chôn cất này vì có việc khẩn phải làm, nhưng khi mọi người về lại nhà tôi thì tôi được biết là nhân viên của nghĩa trang đã đào huyệt nhầm chỗ.  được chôn trên phần đất của bác B. Chôn xong mọi người mới thấy điều này. Chị D có đưa cho anh T một cuốn kinh Phật, bảo anh muốn đọc thì đọc.  Tôi cũng được nghe kể là khi sắp hạ huyệt thì có cơn gió lớn, làm mọi thứ rơi hết xuống đất. Và cháu L đã lên tiếng “Bà giận nên làm đổ hết đó”. Buổi hạ huyệt của  chỉ có người trong gia đình và vợ chồng một người bạn của anhD ngày trước. Tất cả chưa được 20 người  Xong buổi hạ huyệt các cháu trở lại Tulsa và Dallas, không dự buổi lễ tưởng niệm được tổ chức buổi chiều cùng ngày tại nhà thờ.

Trong thánh đường khá lớn của Vietnamese Baptist Church, Chị D, cô Út và hai cháu L, Th ngồi dãy ghế đầu. Chị D muốn chúng tôi và gia đình anh chị T  ngồi hàng ghế ngay sau lưng họ, nên dù đã ‘an tọa’ ở dãy ghế phía sau, chúng tôi phải dời lên trên theo lời yêu cầu của chị D. Bằng hữu và thành viên của nhà thờ ngồi vài hàng ghế phía sau. Tổng cộng khoảng trên dưới 60 người. Không có một người quen của  từ chùa. Buổi lễ tưởng niệm được cử hành với hai ngôn ngữ, Mục sư H.Q.Kh làm lễ bằng tiếng Việt, một thanh niên người Việt rất trẻ dịch lại tiếng Anh. Đang ngồi nghe chăm chú với sự ngưỡng mộ bởi giọng nói trầm ấm của mục sư Kh cũng như giọng tiếng Anh không có âm hưởng tiếng Việt của người dịch, tôi chợt ngỡ ngàng khi nghe mục sư Kh thao thao:

“Bà … đã sáng suốt quyết định trở về với Chúa năm 2003, sau khi nghe mục sư Tôn Thất Bình rao giảng…”

Rồi mục sư Kh kêu gọi những người chưa về với Chúa hãy thức tỉnh về với Chúa để khi chết sẽ được về dưới chân Chúa và sẽ gặp Bà…

Mục sư Kh chưa dứt lời mà những cặp mắt của chúng tôi đã vội tìm nhau. Anh T nhìn tôi. Chồng tôi nhìn tôi. Tôi chỉ lắc đầu.  Quay sang con bé, tôi nói nhanh “Mẹ chết con không được convert mẹ nghe chưa”.  Con bé nắm chặt tay tôi, nói nhỏ “Mẹ, đừng có lắc đầu, họ đang quay phim.”

Mục sư kết thúc buổi lễ và mời mọi người sang phòng bên cạnh có thức ăn nhẹ để hàn huyên. Tôi nói với Anh và con bé “Không ở lại nha, mình cùng đi về”. Cầm chìa khóa xe trong tay, tôi bước ra khỏi giáo đường. Anh T theo chúng tôi ra ngoài sân đậu xe. AnhT lắc đầu nói với chúng tôi là “Họ không có văn minh”. Trong parking lot chúng tôi gặp gia đình một người con khác của chị C từ Dallas vừa đến. Các cháu cho biết sở dĩ đến muộn vì xa lộ bị đóng do những cơn bão lốc ban trưa. Anh T đưa các cháu vào bên trong để gặp chị D và cô Út trong khi chúng tôi lái xe ra khỏi khuôn viên nhà thờ. 

Trên đường về nhà tôi hỏi chồng tôi là có tin  đã “sáng suốt” quyết định về với Chúa không.  Chồng tôi cười lớn hỏi lại “Bộ em tin hả ?”. Tôi chỉ lắc đầu thay câu trả lời. Một lát, Anh nói chậm rãi “Cô Út cải đạo, chị D cũng cải đạo mà bây giờ mình mới biết, Họ tin vào Chúa thì họ làm những gì họ nghĩ là tốt cho Bà mà thôi.” Tôi nói với Anh “Sao lại ‘cả gan’ làm như vậy được.”  và hỏi thêm “Nếu anhD còn sống, anh có nghĩ là cô Út làm được vậy không?” Anh đáp “Chắc chắn là không.”

Hơn một tuần sau, sau cuộc điện đàm với cháu ruột của  ở Cali, chồng tôi kể lại với tôi là, cháu của  cho biết là anh ấy yêu cầu chị D gửi cho một tấm hình của  để “làm tuần” cho Bà. Anh ấy đã nhận được hình và đang “làm tuần” cho  tại một ngôi chùa bên đó ./.

 

Những Đoản Khúc Rời

image

1.

Chị qua đời vào một ngày lạnh lẽo cuối năm 2013. Sự ra đi của Chị làm tôi băn khoăn không ít. Những ngày cuối đời của chị, chúng tôi đến thăm rất thường.

Chứng kiến những cảnh mà tôi cho là rất bất nhẫn, tôi phải nói với em gái của tôi những ước muốn của mình, để mong những cảnh đau lòng trong đoạn cuối đời của Chị, sẽ không xảy đến cho gia đình nhỏ của tôi.

Lâu lắm rồi tôi không khóc trong đám tang nhưng lần này tôi đã không ngăn được dòng nước mắt khi nghĩ tới suốt cuộc đời của Chị đã chỉ biết lo cho chồng con, nhưng …

Tôi đang viết về chuyện này. Có lẽ phải lâu lắm mới hoàn tất vì tôi cần thời gian để bớt hằn học, chua cay.

Đầu năm, không dưng có một chú Downy Woodpecker đến gõ trên cây oak, trước cửa sổ  phòng làm việc của tôi. Chưa bao giờ tôi thấy loài chim này ở cây oak trong sân nhà từ ngày dọn vào đây hơn hai năm qua.

 

2.

Sau bài giảng của Ni Sư sáng Chủ Nhật, 19 tháng Giêng, cháu kiếm tôi, hỏi:
– Làm sao có thể đối xử với gia đình chồng giống như đối xử với gia đình mình được, hả cô ?
Tôi nhìn cháu, hơi ngạc nhiên vì sự lúng túng của cháu, rồi thản nhiên đáp:
– Thì coi cha mẹ chồng như cha mẹ mình, coi anh chị chồng như anh chị ruột mình.
Cháu lắc đầu, khó khăn kiếm cách trả lời:
– Nhưng bố chồng, anh chồng, không đứng đắn thì làm sao mình kính trọng được, hả cô ?
Tôi không biết nói gì với cháu nên tìm ni sư Giáo Thọ hỏi. Ni sư cười hiền rồi giải thích:
– Cô có nói là đàn bà thì phải hiền lành, cư xử nhu mì nhưng cô không có nói là nhu nhược. Nhu mì và nhu nhược khác nhau xa lắm à nha.
Lời giải thích của Ni Sư cho tôi hiểu là tùy trường hợp mà ứng biến. Hy vọng sau Tết, Ni Sư sẽ giảng thêm về vấn đề này.

*

Những năm chị bệnh, có được người đến nhà chăm sóc, nhưng cứ vài tháng lại đổi người. Tôi đến thăm, hỏi chị sao lại đổi người hoài vậy, chị ngao ngán nói:
– Cái ông này (chồng chị) thiệt là kỳ cục, bạ ai cũng ôm, cũng vuốt, thì ai mà muốn làm cho mình nữa.
Mới nghe, tôi cũng tưởng là chị ghen như anh hay than thở: “Chị ghen quá là ghen. Với mấy bà Mỹ đen, chị cũng ghen.” Khá ngạc hiên, tôi đã hỏi chị:
– Chị à, chị ghen làm gì cho cực thân vậy. Em nói thật nha, nhìn cái hàm răng của anh là chẳng có bà nào có thể thích anh được đâu, nếu không muốn nói là ghê nữa.
Chị chậm rãi nói:
– Chị không có ghen em à, gần cả 20 năm nay chị có cho ổng đụng tới người chị đâu.
Tôi ngạc nhiên hỏi lại:
– Hai chục năm! Wow, sao vậy chị ?
– Chị gớm!
Nghe chị nói, tôi cầm tay chị, hỏi nhỏ:
– Chuyện gì mà ghê vậy ?
Chị thong thả kể:
– Anh lung tung lắm, trẻ không tha già không thương! Em gái chị, anh cũng mò, cháu dâu của chị, anh cũng dê. Thậm chí đến em dâu của anh, chồng chết, anh cũng không tha. Ai, anh cũng sàm sở được.

Tôi ngẩn người khi nghe chị tâm sự nhưng hơi nghi ngờ là có thể chị không nhớ đúng sự việc. Tháng trước, tôi có dịp gặp lại vài “nạn nhân”. Tôi hỏi chuyện, thì được xác nhận và được nghe thêm chi tiết, không chỉ về những hành động sàm sở của anh, mà còn về sự cư xử đê tiện của anh, với họ hàng nhà chị. Từ đó tôi đâm ra coi thường và ngại phải gặp mặt anh.

*

Bài giảng, rồi lời giải thích của Ni sư làm tôi nhớ lại có một lần, cháu kể với tôi là cháu không thể nào chấp nhận việc ở chung với bố mẹ chồng. Tôi đã đồng ý với cháu:
– Cháu không chịu là đúng vì bố chồng cháu không đứng đắn đâu. Phòng bệnh hơn chữa bệnh cháu ạ.

3.

.

Who Are You ?

I’m asking you, who are you?

You arrested me,

What wrong did I do?

Who are you?

Why did you beat me

Without pity?

Who are you?

Why didn’t you let me demonstrate

My love for our country,

For our long-suffering people?

Where are you from?

Why did you prevent me

From fighting against the invading Chinese?

Where are you from?

Why are you cursing me

In the tongue of my people?

Who are your kinsmen?

Aren’t you Vietnamese?

Why are you being the lackeys of the Chinese?

So your hands are stained for thousands of years

With the blood of your fellow Vietnamese.

I couldn’t sit still

When Vietnam is teetering!

When my people is entering

Into a thousand years or more of darkness and slavery!

I couldn’t sit still with a possibility

My offsprings

Live in a world without a country

Called Vietnam.

Translated by Roberto Wissai/NKBa’

December 31, 2011

Anh là ai?

Xin hỏi anh là ai ?

Sao bắt tôi,

tôi làm điều gì sai ?

Xin hỏi anh là ai ?

Sao đánh tôi,

chẳng một chút nương tay !

Xin hỏi anh là ai ?

Không cho tôi xuống đường để tỏ bày,

tình yêu quê hương này,

dân tộc này đã quá nhiều đắng cay !

Xin hỏi anh ở đâu ?

Ngăn bước tôi

chống giặc Tàu ngoại xâm !

Xin hỏi anh ở đâu ?

Sao mắng tôi

bằng giọng nói dân tôi !

Dân tộc anh ở đâu ?

Sao đang tâm

làm tay sai cho Tàu !

Để ngàn sau ghi dấu

bàn tay nào

nhuộm đầy máu đồng bào !

Tôi không thể ngồi yên,

khi nước Việt Nam đang ngả nghiêng !

Dân tộc tôi sắp phải đắm chìm

một ngàn năm hay triền miên tăm tối !

Tôi không thể ngồi yên

để đời sau cháu con tôi làm người

Cội nguồn ở đâu ?

khi thế giới này đã không còn VIỆT NAM !

 

By Việt Khang

WHERE IS MY VIETNAM? – VIỆT NAM TÔI ĐÂU?

VIỆT NAM TÔI ĐÂU?

Việt Khang

Việt Nam ơi! Thời gian quá nửa đời người …

Và ta đã tỏ tường rồi

Ôi cuộc đời ngày sau tàn lửa khói

Mẹ việt Nam đau từng cơn xót dạ nhìn đời

Người lầm than đói khổ nghèo nàn

Kẻ quyền uy giàu sang dối gian …

Giờ đây, Việt Nam còn hay đã mất?

Mà giặc tàu ngang tàng trên quê hương ta

Hoàng Trường Sa đã bao người dân vô tội

Chết ngậm ngùi vì tay súng giặc tàu

Là một người con dân Việt Nam

Lòng nào làm ngơ trước ngoại xâm

Người người cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi

Từng đoàn người đi chẳng nề chi

Già trẻ gái trai giơ cao tay

Chống quân xâm lược, chống kẻ nhu nhược bán nước Việt Nam

Việt Nam tôi đâu…? Việt Nam tôi đâu…? Việt Nam tôi đâu …? 

WHERE IS MY VIETNAM?

Oh my Vietnam! I have lived half my life.

And I now thoroughly understand

Ever since the horrific war came to an end

In my country what has transpired:

My motherland Vietnam is in wrenching agony

The people are slaving in abject poverty

While the rulers are steeped in riches and lies.

 

Now… I wonder whether Vietnam is still alive

Because the Chinese brazenly occupy our land.

I wonder how many Vietnamese have died

In defense of Paracel and Spratly Islands.

As Vietnamese we must not be indifferent

With regard to the Chinese invaders.

Every one of us must rise up and take up arms

In defense of the motherland.

The throng, the crowd, the sea of us all rise up

In defense of our rivers and mountains.

Old men, young men, boys and girls all raise our hands

To fight against the greedy Chinese,

To fight against the Việt rulers lackeys.

Where is my Vietnam?

Where is my Vietnam?

Where is my Vietnam?

SAVE VIETNAM FROM CHINA’S QUIET INVASION

DECLARATION OF CONCERNED VIETNAMESE WORLDWIDE REGARDING CHINA’S CURRENT QUIET INVASION OF VIETNAM 

For over two thousand years, China has pursued a policy of annexing Vietnam. The Han, the Tang, the Song, the Yuan, the Ming and the Qing dynasties all undertook full-scale invasions of Vietnam, but Vietnam managed to eventually prevail over the invaders. However, recent events have shown that again China has undertaken a quiet but comprehensive invasion of Vietnam. The latest attempts of China to annex Vietnam involved:

  1. 1974:  the naked take-over of the Paracel Islands after a brief naval battle.
  2. 1979: the land grabbing in the northern border region after a brief and bloody border war during which more than tens of thousands died on each side.
  3.  1988: the occupation of part of the Spratly Islands after another brief naval battle.
  4. Since 2007 to date: the presence of “mining” companies in the strategic central highlands of Vietnam.
  5. The strangling of the economy of Vietnam, with the aim of making Vietnam too weak economically to resist the Chinese domination.

The Paracel and Spratly Islands in the East Sea have been part of Vietnam for centuries. We have legal and historical documents as well as maps to prove our claims. Only very recently when vast oil and gas deposits were discovered in the area did the Chinese brazenly claim the islands were theirs under the absurd doctrine of Cow’s Tongue (the Paracel and Spratly Islands are like the tongue of a cow extending from their Hainan Island!), and subsequently sent their naval forces to the area to back up their expansionist claims.

Recently Chinese naval forces have increased their bullying and unlawful acts of aggression against Vietnamese fishermen who ply their trade in the waters traditionally considered part of Vietnam. There have been numerous incidents in which Vietnamese fishing boats have been rammed, shot at and quite a number of Vietnamese fishermen were either killed from gunshot wounds or detained for large amount of ransom money.

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/SouthChinaSea-blood-and-tears-TVan-07172009113941.htmlhttp://www.rfa.org/vietnamese/VietnameseNews/vietnamnews/Vietnamese-fishermen-detained-by%20chinese-sea-patrol-forced-to-pay-fine-insistently-07182009121523.html)(http://mil.news.sina.com.cn/2009-07-02/0844557400.html). (http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/another-Vietnamese-fisherboat-hit-by-a-strange-boat-on-ChinaSea-07152009103037.html)(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/9-fishermen-from-ship-hitting-in-south-china-sea-QNhu-07172009143806.html)

China’s territorial designs on Vietnam did not stop at sea. China forced the current Vietnamese government to give up land at the border and set up new demarcation posts to the advantage of China.

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-China-a-long-standing-grievances-historical-MLam-07022009133546.html).

China also forced Vietnam to permit Chinese mining companies to move into the strategic highlands in Central Vietnam. These mining companies ostensibly do mining work, but with a labor force consisting of tens of thousands of Chinese men of military age and their workplace being off limits even to the local Vietnamese authorities, their presence has caused deep concerns to the Vietnamese public across all walks of life. Retired General Vo Nguyen Giap, ex-Minister of Defense, and thus a man who should know about military matters, has publicly written three letters of concern to the highest Vietnamese authorities.

Further, China is pursuing an economic policy which is designed to strangle the economy of Vietnam. On top of flooding Vietnam with inexpensive consumer products, China has encouraged a massive smuggling program into Vietnam at the northern border. The result is that the Vietnamese business production has been weakened in the last few years. In addition, with the aim of destroying the rice-production capability of Vietnam in the south, China has plans for building a total of eight dams in the Langcang Jiang, the upstream of the Mekong River, which is located in Yunnan, China. Three of these dams have been completed. These dams have altered the natural flow of the river and resulted in the loss of 75% of fish population in the basin area. The rice production and agricultural activities in the Mekong Delta—the world’s second largest rice-producing region— are being adversely affected.

We strongly protest these expansionist and unlawful acts of aggression of China against Vietnam.

We demand China:

  1. Stop all expansionist and unlawful acts of aggression in the East Sea.
  2. Release immediately all detained Vietnamese fishermen and their boats and repay in full the costs for the damages to the boats and the values of the confiscated catches.
  3. Stop building more dams on the Langcang Jiang. Pre-treat industrial dischargeand preserve water quality in the Langcang Jiang in order to prevent the Mekong River from becoming an open sewer system for the Yunnan mining industrial giants.
  4. Resolve land, islands, sea disputes with Vietnam through diplomacy and arbitration, not though acts of bullying of a nuclear-armed power.These acts only increase the instability not only in the East Sea but also the whole Southeast Asiawhich is in need of political stability for economic development.

We, the undersigned, the concerned Vietnamese worldwide are reacting to the events in the East Sea, in the highlands and China-Vietnam border areas with increasing concern and asking for the support of the international community in our struggle to avoid being assimilated as what have happened in Xinjiang and Tibet. We are calling the world attention to China’s current quiet invasion of Vietnam and pointing out China’s long-standing policy of annexation of Vietnam.

We are asking Human Rights organizations to look into the current abuses and killings of the unarmed Vietnamese fishermen by the Chinese naval forces, and vigorously demand China to respect basic human rights with regard to the Vietnamese fishermen they are detaining unlawfully and holding for ransoms.

Attachment:

(1)   The map showing various sites of attack which are clearly in the waters hitherto considered part of Vietnamese territory.

(2)    Some photos of Vietnamese fishermen being terrorized by the Chinese vessels and their naval personnel.

(3)   Letters of Vo Nguyen Giap:

http://bauxitevietnam.info/1933/thu-thu-3-cua-dai-tuong-vo-nguyen-giap-gui-bch-tu-bo-chinh-tri-cung-quoc-hoi-va-chinh-phu-ve-van-de-bauxite-tay-nguyen/?c

http://bauxitevietnam.info/tulieu/0904_DTVoNguyenGiap.htm

http://bauxitevietnam.info/tulieu/090114_thudaituongVNG1.htm

(4)   Submission to the United Nations Commission on the Limits of Continental Shelf

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm2009n_executivesummary.pdf

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mys_vnm2009excutivesummary.pdf

If you agree with declaration, please sign up by sending your name

and those of your like-minded relatives and friends

(please include name of city and country)

to the following email address:

savevietnam09@gmail.com

or

 http://baovetoquoc.blogspot.com/

We are sending our declaration with list of signers

to The United Nations and elected officials.

We are designing a website where we keep the declaration, the list of signers, and all relevant information concerning our fight to keep Vietnam from the hands of the expansionist and annexing-minded Chinese.

Thank you for your consideration.

On behalf of

Organizing Committee of Save Vietnam from China Campaign

Ngô Khoa Bá – MBA – Houston, Texas, USA
Nguyễn Hùng – BE – Sydney, Australia
Le Q. Long – BE -Auckland, New Zealand

*************************************************************

Current list of supporters :

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/danh-sach-moi-nhut.html

Letter to  The Secretary General of United Nations:

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/tho-goi-ong-tong-thu-ky-lien-hiep-quoc.html

Letter to The Prime Minister of Australia:

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/thu-goi-thu-tuong-uc-va-mot-so-bo.html

 

LỜI MINH XÁC CỦA HIỀN VY, Thông Tín Viên đài Á Châu Tự Do (RFA) – Tuần Báo VietTide tại Nam California – Hoa Kỳ

Kính thưa đồng bào,
Kính gửi Cơ quan Thông tin

Chúng tôi là Hiền Vy, Radio Free Asia (RFA) và VietTide Weekly Contributor, có trụ sở tại Little Saigon, Nam California.

Như bạn đã biết, chúng tôi đã ở Houston chưa đầy 15 năm, kể từ khi chúng tôi bắt đầu làm việc với Little Saigon Radio, Chương trình Trẻ em, Cuộc tấn công đói nghèo trên Internet trong suốt 20 năm qua.

Gần đây chúng tôi đã nhận được rất nhiều cú điện thoại và email yêu cầu tôi có phải là thành viên của Hiệp hội Phụ nữ Texas ở Texas hay không. Và liệu chúng ta có trở thành một nhà hoạt động?

Vì quan niệm sai lầm này, chúng tôi muốn có thể xác minh với bạn: Chúng tôi không phải là thành viên của Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam của Texas.

Khi học, chúng tôi rất ngạc nhiên khi biết rằng sự nhầm lẫn này là do một thành viên của Hội Phụ nữ Texas Texas tại Houston, sử dụng tên Hien Vy trong thông báo của họ, đã được phát sóng vào 900 giờ sáng và một số chương trình truyền hình bằng tiếng Việt trạm ở Houston.

Để tránh những hiểu lầm có thể gây hại cho lợi ích của bạn vì tình yêu của bạn và sự tin tưởng cá nhân của bạn, chúng tôi chân thành thừa nhận rằng:

Chúng tôi là một phóng viên độc lập

Để giữ tính chung thực cho bài viết của mình, chúng tôi không tham gia vào bất kỳ một hội đoàn, một tổ chức tài chính hay một tổ chức tranh đấu chính trị hay xã hội nào cả.

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về sự xuất hiện gần đây của Hien Vy trong cộng đồng Houston trong vài tuần qua.

Cám ơn vì sự quan tâm của bạn. Chúng tôi cũng muốn cảm ơn bạn vì tình yêu và sự tin tưởng của bạn trong nhiều năm.

Trân trọng,
Hiền Vy, phóng viên RFA Radio và VietTide
hienvy@gmail.com

 

Trường Việt Ngữ Hùng Vương: Sự Thành Ý và Tâm Hồn Việt

Cách đây khoảng một năm, Cô Túc Trí có email cho tôi nói tôi phải viết một bài cho số đặc san Trường Hùng Vương.  Bẵng đi một thời gian không thấy Cô nhắc đến tôi tưởng đặc san đã hoàn tất nhưng không ngờ tháng Tư vừa rồi Cô lại nhắc nữa.  Té ra là Đặc San xuất bản vào năm 2011 chứ không phải 2010 như tôi tưởng.  Tôi ngại ngùng viết, không phải vì khiêm cung đâu, nhưng một phần vì lười viết, một phần vì thấy ‘tài nghệ’ của mình ngày thêm sa sút, tối ngày chỉ đợi về hưu, ‘gác tay rửa kiếm’,  nên chẳng biết viết gì xứng đáng cho người đọc.   Nghe tôi trình bày tự sự,  Cô Túc Trí ra lệnh: “Anh cứ viết đi, viết gì cũng được, chữ A, chữ  C cũng được”.  Thôi đành tuân lệnh vậy, cung kính bất như tùng, các cụ vẫn dậy như thế.  Xin  viết 3 chữ, ‘lời quê góp nhặt dông dài’,  để quí vị đọc chơi giải trí. 

Chữ A: Tôi trở thành giáo viên trường Việt Ngữ Hùng Vương một phần vì tính nể vợ và một phần vì tính dễ bị thuyết phục của tôi trước những sự nhiệt tình của bạn bè.  Nếu tôi nhớ không lầm thì khoảng cuối năm 1988 bà xã tôi quyết định dẫn 2 cháu Alex và Dĩ An đi học Việt Ngữ tại Trường Hùng Vương, chẳng bao lâu thì Bà xã tôi cũng trở thành Cô giáo Hùng Vương.  Ngày xưa “Phu Xướng Phụ Tùy”, bây giờ “Phụ Xướng Phu Tùng”,  thì tôi cũng không ngoài lệ đó.  Tôi trở thành tài xế ngoan, sáng Chủ nhật nào cũng chở cả nhà đến trường Hùng Vương, lúc đó còn ở Đại học St. Thomas.  Sau một thời gian chừng vài tuần chờ đón vợ con về sau giờ tan học, tôi cảm thấy hơi dư thừa nên tìm hiểu thêm về Trường.  Các Thầy Cô lúc đó đa số còn là sinh viên, làm việc rất hăng say và lý tưởng với tất cả Thành Ý.  Việc tuyển chọn Thấy Cô cũng khó khăn, phải dạy thử, phải khai lý lịch đàng hoàng.  Mỗi ngày vô sở làm đều nghe Cô Vân Anh thuyết phục làm thầy giáo Hùng Vương, vì lúc đó Vân Anh làm chung sở và đang là trưởng ban Giảng Huấn của trường Hùng Vương thì phải.  Rồi một buổi sáng, không biết có đẹp trời không mà tôi cũng điền hồ sơ lý lịch xin làm thầy giáo.  Tiếp sau đó là các thầy cô phỏng vấn, bắt dạy thử cho các thầy cô chấm điểm giống như thi tuyển ca sĩ vậy đó.  Tôi còn nhớ, người lý tưởng và khó nhất có lẽ là Cô Chiêu.  Ấy thế mà tôi cũng được các Thầy Cô chấm điểm nhận vào giáo ban.

Chữ B:  Hồi đó tuyển chọn giáo viên rất khó.  Các chức vụ trong ban điều hành, ban giảng huấn được chọn lựa gay go lắm, có bầu bán, tranh cử đàng hoàng.  Tôi rất phục tinh thần hy sinh của các Thầy Cô trẻ, lúc đó đều là sinh viên.  Một hồi sau hình như các Thầy Cô trẻ có vẻ mệt mỏi.  Khoảng năm 1990 Thầy Thắng làm Hiệu trưởng đã 2 năm mà chưa ai ứng cử ra thay và lúc đó tôi là giáo viên già nhất, có lẽ là người duy nhất có gia đình.  Tôi rất cảm động các thầy cô coi tôi như người anh lớn trong gia đình.  Cô Hoài Anh đặt cho tôi cái chức Anh Cả và cho đến bây giờ mỗi lần gặp lại, Hoài Anh vẫn gọi tôi là Anh Cả.  Các Thầy Cô túm lại thuyết phục tôi làm Hiệu Trưởng và dĩ nhiên tôi đã được làm anh Cả thì phải làm Hiệu Trưởng.  Sau một năm tôi làm Hiệu Trưởng tôi bị gia hạn 2 năm cho đến khi tôi cũng mệt mỏi vì công việc trong sở làm nên nhất định xin từ chức thì lúc đó Thầy Thuận lên làm Hiệu trưởng.  Khỏang thời gian 1990-1992, các Thầy Cô lần lượt tốt nghiệp đại học, ra trường hoặc lập gia đình hoặc đi làm xa nên Thầy Cô rất thiếu. Trong thời gian làm hiệu trưởng tôi làm một sự thay đổi khá lớn để đáp ứng nhu cầu giáo viên cho trường là tìm cách tuyển chọn giáo viên ngay trong hàng ngũ phụ huynh và cho các em học sinh xuất sắc lớp lớn nhất làm phụ giáo để các em có cơ hội tiếp tục học thêm cũng như phụ giúp các Thầy Cô.  Sự thay đổi này khá thành công, các em phụ giáo làm việc hăng say và thấy việc học Việt Ngữ có một kết quả nào đó và làm các em rất hãnh diện.  Các phụ huynh mang một luồng gió mới vào trường, một sự cộng tác đắc lực hơn.  Nếu những thầy cô trẻ mang không khí trẻ trung vào lớp học thì các vị phụ huynh lại có những kinh nghiệm dạy con và cái uy mà các thầy cô trẻ độc thân chưa có hay chưa thông cảm.  Theo thiển ý, hai yếu tố này dung hòa phụ trợ nhau rất là hợp lý mà ít trường Việt Ngữ nào có ngoài trường Hùng Vương.

Tôi nhớ mãi là hai vị thầy rất đặc biệt của Trường là Thầy Dỵ và Thầy Đạo. Có lẽ Bác Sĩ Nguyễn Tiến Dỵ là vị thầy chăm chỉ và dậy kỹ nhất trường, khó nhất trường từ xưa tới nay và cô Chiêu dù khó nhưng thua xa thầy Dỵ.  Từ khi Thầy Dỵ vào trường thì tôi vui mừng nhường chức già nhất cho thầy.  Học trò sợ thày đã đành mà phụ huynh cũng sợ thầy luôn, vì khó theo được sự đòi hỏi nghiêm túc của thầy. Thầy dậy các em học sinh Hùng Vương không khác gì các sinh viên y khoa của thầy trong Trung Tâm Y Khoa M.D Anderson.  Thầy soạn bài kỹ hơn bất cứ ai trong trường.  Cũng nhờ vậy mà học trò nào qua được lớp thầy Dỵ đều là học trò giỏi của Hùng Vương.  Thầy Bùi Văn Đạo lại là một thái cực khác.  Học trò rất mê học với thầy Đạo vì thầy là một con người có thể gọi là rất xuề xòa, dễ dãi về mọi mặt nhưng rất nhiệt tình.  Thầy Đạo làm tôi nhớ đến các thiền sư phá cách, rảnh tay xuống núi, không coi quan trọng vẻ bề ngoài.  Thầy Đạo dậy rất tận tâm nhưng không hề gó ép, những  em học trò ‘ba gai’ lại rất thích thầy và trở thành học trò giỏi.  Nhiều vị phụ huynh lúc chưa biết thầy có đến than phiền với tôi tại sao lại để một người ‘lè phè’ như vậy dạy học trò.  Họ không thể ngờ rằng trong cái vẻ ‘lè phè’ đó là một con người nhiệt thành với tuổi trẻ, một tiến sĩ đại học Berkley của Hoa kỳ và đã cải hóa nhiều con ngựa chứng trong sân trường Hùng Vương. 

Chữ C:  Với tôi, những ngày làm việc tại Trường Hùng Vương là những ngày rất vui và có ý nghĩa.  Tôi hân hạnh gặp các bạn trẻ và các phụ huynh có nhiều thiện chí cho tôi những cảm tình thân thương mà tôi luôn luôn trân quý. Trong mấy chục năm qua, có em học sinh rất giỏi tiếng Việt, có em học đâu quên đó, nói tiếng Việt vẫn ngọng nghịu.  Nhưng theo tôi, tất cả các em đếu có thêm một chút Việt Nam trong người, giữ lại trong các em tâm hồn Việt Nam.  Trong kỳ lễ tốt nghiệp tại đại học Texas ở Austin của cháu Dĩ An năm 2005, tôi được một sự ngạc nhiên thích thú vì có vài vị tân khoa áo mũ xêng xang đến khoanh tay cúi đầu chào tôi bằng tiếng Việt. Thì ra các em là học trò của tôi tại trường Hùng Vương trước đây.  Một phần thưởng tôi không ngờ.  Gần đây, tôi có dự một cuộc hội thảo tại Trung tâm Việt Mỹ và được nghe bác sĩ Phạm Gia Cổn là một người có nhiểu sinh hoạt văn hóa trong cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ, phát biểu rằng cái quan trọng là các em có còn tâm hồn Việt không chứ không phải là bắt buộc phải nói tiếng Việt lưu loát mới không bị mất gốc.  Cũng trong dịp này Giáo sư Nguyễn Văn Trường, một nhà giáo lão thành, nguyên là Bộ Trưởng Văn Hóa Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa trước biến cố 1975, đã nhấn mạnh, là người Việt, dù ở tuổi nào, dù ở đâu cũng cần đối xử với nhau với Thành Ý, nếu không xã hội Việt Nam ở mọi nơi sẽ là những xã hôi xây dựng trên sự dối trá và chúng ta sẽ mất gốc.  Tôi rất tâm đắc vói hai quan điểm này và tôi nghĩ các Thầy Cô trường Hùng Vương đã và đang có Thành Ý xây dựng một xã hội tương lai có những trẻ em  gốc Việt với đầy đủ tâm hồn Việt Nam.

Trong niềm hoài niệm tháng tư đen tôi tin tưởng những Tâm Hồn Việt Nam được gây dựng từ trường Việt Ngữ Hùng Vương sẽ tiếp tục đem Thành Ý xây dựng lại quê hương đang dẫy đầy sự dối trá đau thương.

 

 

Canada: Công viên Quốc Gia Banff với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ

image

Canada

 Công viên Quốc Gia Banff

với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ

Bài: Nguyễn Phục Hưng

Ảnh: Hiền Vy

VietTide – Oct 11th, 2013

Với những người thích phồn hoa đô hội, thích mua sắm, thì có lẽ phải bỏ nhiều ngày tháng đi thăm New York, Paris hay Milan, Florence…  Tuy nhiên, với những người mê phong cảnh thiên nhiên thì tiêu dao bên rặng núi Rocky Mountains có thể là một nơi chốn tuyệt vời. Rocky Mountains nằm giữa hai tỉnh bang (*) Bristish Columbia và Alberta của Canada. Vùng này rất rộng lớn, chỉ riêng trong ranh giới Alberta cũng phải mất nhiều ngày giờ mới thăm viếng hết được.  Dĩ nhiên, nếu du khách chỉ muốn “cưỡi ngựa xem hoa” thì có thể đi một vòng tam giác, từ Calgary lên Edmonton, trở qua vùng đá lạnh Jasper, lái xuyên công viên quốc gia Banff, rồi trở lại Calgary.  “Cưỡi ngựa xem hoa” như thế thì cũng mất năm ba ngày.  Với những người yêu thiên nhiên thì vài tuần ngao du, chỉ trong Công viên quốc gia Banff, vẫn còn chưa đủ.

Lake Louise nhìn từ KS The Fairmont Chateau

Công viên quốc gia Banff cách thành phố Calgary chừng 150 cây số về phía tây theo Xa Lộ Xuyên Canada, Trans Canada Highway, tức là xa lộ số 1 của Canada. Xa lộ này kéo dài từ  ven biển Thái Bình Dương ở phía tây, qua tới ven biển Đại Tây Dương ở phía đông của quốc gia này, và xuyên qua rất nhiều công viên cũng như thành phố lớn của Gia Nã Đại.  Nếu du khách chỉ đi xuyên qua công viên Banff thì không phải trả lệ phí đậu xe, nhưng nếu định ghé lại viếng cảnh núi đồi hay sông hồ nào đó trong vùng, thì phải trả khoảng 20 dollars mỗi ngày. Trạm thâu tiền nằm ngay trên tuyến đường trước khi xuyên qua công viên trên quốc lộ số 1.  Mới nghe, lệ phí có vẻ quá cao nhưng nếu bạn dừng lại để ngắm những thác nước hay các hồ trong công viên, thì sẽ thấy chi phí này rất thấp, vì việc bảo trì các thắng cảnh không phải là ít. Từ Calgary đi lên, du khách sẽ đi qua nhiều thị trấn, thác nước và hồ; từ tỉnh lỵ Canmore, tới thị trấn du lịch nổi tiếng Banff, rồi lên Lake Louise.  Những thị trấn này qui tụ đủ loại khách sạn cho du khách, tùy túi tiền. Các thị trấn này nằm dọc theo xa lộ 1 và cũng nằm ven sông Bow.  Sông  Bow bắt nguồn từ rặng núi Rocky Mountains, uốn khúc bên xa lộ 1, chảy qua thành phố Calgary.  Thường thì con sông này rất thơ mộng nhưng mùa tuyết tan tháng Sáu năm 2013 vừa qua, với những cơn mưa quá lớn, đã làm ngập lụt nhiều vùng dọc theo bờ sông và một phần Downtown Calgary, gây nhiều thiệt hại nặng nề.

KS The Fairmont Chateau Lake Louise nhìn từ Fairview Lookout.

Nổi tiếng nhất trong công viên quốc gia Banff là thị trấn Lake Louise với hồ Lake Louise vô cùng thơ mộng.  Không biết cảnh Thiên Thai đẹp như thế nào hay chỉ trong tưởng tượng của nhiều thi sĩ, chứ bây giờ dừng bên Hồ Louise thì có lẽ ai cũng phải ngẩn ngơ như Tản Đà mơ cảnh Thiên Thai trong bài Tống Biệt.

Tống biệt

 Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai

Suối tiễn, oanh đưa luống ngậm ngùi

Nửa năm tiên cảnh

Một bước trần ai

Ước cũ, duyên thừa, có thế thôi!

Đá mòn, rêu nhạt

Nước chảy, huê trôi

Cái hạc bay vút tận trời

Trời đất từ đây xa cách mãi

Cửa động

Đầu non

Đường lối cũ

Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi

(Tản Đà)

Đứng bên hồ nước mầu xanh ngọc bích soi bóng núi tuyết, dù mùa hè tuyết cũng chưa tan hết, trong buổi hoàng hôn hay lúc bình minh thì không thể có cảnh nào hút hồn du khách hơn. Mầu nước của Hồ Louise thay đổi tùy theo ánh sáng của mặt trời. Lúc mây đen, mặt hồ có mầu bạc sẩm tối, khi mây trắng, mầu nước sáng hơn và sẽ trở thành mầu ngọc thạch khi mây bay hết. Nếu là người thành phố ưa náo nhiệt, có thể thuê thuyền chèo trên hồ. Nhưng xin đừng chèo quá mạnh cho nước văng vãi tứ tung, đừng la hét vào lúc bình minh hay lúc mặt trời lặn vì sẽ làm mất đi vẻ đẹp siêu nhiên của cảnh hồ.

Lake Moraine

Nếu có tiền, hãy thuê phòng trong khách sạn The Fairmont Chateau Lake Louise ngay trước hồ, nhớ chọn cho được một phòng có ban công nhìn ra hồ để có cơ hội nhâm nhi ly cà phê bên người tình, ngắm hồ phản ánh mặt trời lúc bình minh, hay nhìn mặt trời lặn dần bên sườn núi lúc hoàng hôn, chẳng khác gì lạc cảnh Thiên Thai. Còn nếu bạn không đủ tiền bạn có thể tìm đến dịch vụ cho vay tiêu dùng nhanh nhất để có ngay khoản chi phí nhanh nhất, để cuộc vui của bạn không bị gián đoạn. Khách sạn này khỏang 4 đến 6 trăm dollars mỗi tối cho một phòng trung bình và có thể đắt hơn nhiều, tùy mùa nhưng phải giữ chỗ trước nhiều tháng hay cả năm trời.  Nhiều du khách mê chụp hình, những nhà nhiếp ảnh nghệ thuật đã không ngần ngại dậy sớm tinh mơ đến hồ đón bình minh hay cố tình ở lại trễ để đón hoàng hôn bên hồ, nếu ở những khách sạn xa hồ.

Từ khách sạn The Fairmont Chateau Lake Louise, có thể đi bộ (hiking) trên nhiều lối tùy theo khả năng chịu đựng và thời gian cho phép.  Lối mòn Lake Louise Lakeshore là dễ đi nhất, chỉ dài chừng 4 cây số khứ hồi và không phải leo đồi. Lối mòn này chỉ mất khoảng 1 giờ đồng hồ là đi xong.

Lối mòn Lake Agnes Tea House dài khoảng 7 cây số, dẫn du khách lên độ cao gần 400 mét, khá gập ghềnh. Đi đoạn đường này mất khoảng 4 giờ đồng hồ nhưng đến cuối đường bạn sẽ có cơ hội uống cà phê hay trà tại Tea House nổi tiếng trong lịch sử bên hồ Angnes. Nếu chưa mỏi chân bạn có thể đi thêm chừng 1.5 km đến cuối hồ để chiêm ngưỡng phong cảnh thung lũng Bow và cả vùng Lake Louise.

Cũng từ Hồ Louise bạn có thể chọn đường mòn Plain of Six Glaciers. Đường này dài khoảng 11 cây số, khá gập ghềnh, trung bình mất khoảng 4, 5 giờ đi bộ leo đồi.  Đường này có lẽ là đường đẹp nhất để ngắm rặng núi đá Canadian Rockies như Mt Lefroy, Mt Victoria và vùng băng hà có tên The Plain of Six Glaciers.

Lake Moraine

Vùng này không chỉ có Lake Louise trữ tình mà còn nhiều hồ khác, tuy nhỏ hơn nhưng cũng không kém phần thơ mộng. Trong các hồ này phải kể đến Hồ Moraine, Hồ Consolation, Hồ Eifel, Hồ Angnes và Hồ Temple. Có nhiều lối mòn (hiking trails) cho du khách yêu thiên nhiên đi bộ quanh hồ hay leo núi bên hồ. Những đường đi bộ ven hồ hay leo núi, cho du khách hòa mình vào thiên nhiên.  Người Canada rất yêu thiên nhiên và có lẽ họ là những người thực hành lối sống bảo vệ thiên nhiên nghiêm túc nhất.  Hình như đa số đều thấm nhuần tư tưởng hòa nhập vào thiên nhiên, ngoại cảnh chính là họ và ngược lại. Họ bảo vệ thiên nhiên, môi trường sống, một cách tự nhiên và đầy trí tuệ chứ không phải là vì luật pháp nghiêm phạt những sự hủy hoại môi trường.

Lake Moraine

Hồ Moraine cách Hồ Louise chừng 15 cây số đường đèo. Bên cạnh Hồ Moraine là Hồ Consolation và cách Hồ Moraine chừng 7 cây số là Hồ Eiffel. Đến Hồ Moraine bạn có thể đi bộ theo lối mòn quanh hồ. Đường này rất dễ đi, dài chừng 3 cây số và phong cảnh rất đẹp.  Một lối mòn khác là lối mòn quanh Hồ Consolation cũng bắt đầu từ Hồ Moraine.   Lối này dài chừng 6 cây số khứ hồi, nhưng không gập ghềnh lắm, và tốn chừng 2 giờ đồng hồ.  Cũng từ Hồ Moraine, những người có sức có thể đi đường Lake Eiffel.  Chặng này dài khoảng 12 cây số khứ hồi, khá gập ghềnh nhưng khi lên đến đỉnh, bạn sẽ thấy phong cảnh hùng vĩ vùng thung lũng của 10 đỉnh núi cao trong vùng Lake Louise.

Trên đây chỉ liệt kê vài đường mòn nổi tiếng trong vùng Lake Louise. Có tất cả khoảng 20 đường mòn cho du khách chọn lựa. Ngoại trừ các lối mòn sát bờ hồ, khách du lịch được khuyến cáo nên đi từng đoàn ít nhất là 4 người và nhớ mang theo thuốc xịt đuổi gấu ( bear spray) đề phòng gấu tấn công.  Những năm trước, có thể đi Gondola lên đỉnh núi để nhìn toàn cảnh khu Hồ Louise nhưng năm nay phương tiện này không mở cho du khách.  Đi ngoạn cảnh hết vùng Lake  Louise chắc cũng cần cả tháng nếu bạn muốn thực sự sống với thiên nhiên, chứ không chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa”.

Lake Minnewanka.

Trở về thị trấn Banff cũng còn nhiều nơi ngoạn cảnh. Đi tàu du ngoạn trên Hồ Minnewanka, là hồ lớn nhất trong khu công viên quốc gia Banff và là hồ duy nhất được phép dùng tàu có động cơ. Chuyến đi kéo dài chừng 1 giờ để thấy cảnh đồi núi hùng vĩ soi bóng bên hồ cũng rất là thú vị.  Cạnh Hồ Minnewanka là Two Jack Lake rất thơ mộng và có thể chèo thuyền tại đây. Từ thị trấn Banff, có thể lái xe lên Mount Norquay. Con đường quanh co và có thể thấy những chú nai hay huơu thơ thẩn dạo chơi trên đường.  Mount Norquay là trung tâm truợt tuyết trong mùa đông nhưng mùa hè bạn có thể đi bộ leo núi để thấy cảnh hùng vĩ của những rặng núi quanh vùng Banff vẫn còn đóng tuyết vạn niên trên đỉnh.  Dĩ nhiên, nếu mỏi chân thì bạn có thể lấy Gondola lên tuốt đỉnh núi Sulfur Mountain, là núi cao nhất gần trị trấn Banff, để nhỉn xuống dòng sông Bow uốn khúc bên trị trấn Banff  hiền hòa.  Dọc theo sông Bow từ Canmore, qua Banff , lên tới Lake Louise, có rất nhiều nơi cắm trại cho những ngưới thích thiên nhiên mà không muốn ở khách sạn. Nếu không muốn đị bộ thì có nhiều nơi cho thuê xe đạp để rong chơi hay mạo hiểm trong các đường đi xe trong rừng núi (biking/hiking trails).

 Elbow Falls

Đời sống tại Banff, và có lẽ hầu hết ở Canada, là một đời sống thanh bình, vui thú thiên nhiên. Ở vùng này người ta ngại gấu hơn đạo tặc, cướp giựt.  Người dân không được phép mang súng.  Họ uống rượu vui chơi nhưng hiền lành lịch sự, chưa hề thấy cảnh say sưa nhiễu loạn như tại các thành phố lớn Hoa Kỳ.  Nếu là khách du lịch, nên cẩn thận chớ coi thường các vị cao niên dân địa phương.  Có nhiều bà đã già nhưng họ leo núi phăng phăng mà dân trai trẻ quen sống thành thị, ham thể thao trên TV khó lòng bì kịp. Đó là kinh nghiệm bản thân của chúng tôi khi nhập đoàn hiking cùng hai vị bô lão và cuối cùng chúng tôi đành bỏ cuộc vì các cụ bỏ xa chúng tôi trên Eiffel Trail, gần Hồ Moraine. Những ngày ở Banff thật là thú vị và bổ ích. Rời Banff mà lòng luyến tiếc vì có nhiều nơi chưa kịp thăm viếng lại, nhất là vùng băng hà và công viên Jasper. Đây là lần thứ ba chúng tôi đến vùng Lake Louise nhưng lần này được sống với núi rừng thiên nhiên, khác hẳn các lần trước.  Hai mươi năm trước chúng tôi đã viếng cảnh Jasper nhưng chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa”. Chúng tôi hẹn nhau sang năm trở lại để đi hết những phong cảnh vừa hùng vĩ vừa thoát trần của Rocky Mountains. Có lẽ đây là tâm sự của chàng Lưu Nguyễn vừa ra khỏi Thiên Thai trong huyền thoại:

Cửa động

Đầu non

Đường lối cũ

Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi

Banff nhìn từ Sulfur Mountain

 

Nguyễn Phục Hưng

9/2013

(*) Canada có 10 Tỉnh Bang (Provinces):

Alberta, British Columbia, Manitoba, New Brunswick, Newfoundland and Labrador, Nova Scotia, Ontario, Prince Edward Island, Quebec, and Saskatchewan.

Phản Kháng Âm Mưu Xâm Lược Việt Nam của Trung Quốc

image

Đây là Bản Tuyên Bố của những Người Việt Thầm Lặng không đảng phái chính trị, vẫn thường xuyên quan tâm đến tình hình đất nưóc. Nếu quí vị đồng ý với những lời kêu gọi trong bản Tuyến Bố này xin vui lòng ký tên bằng cách gửi tên, tuổi(optional), nơi cư ngụ về địa chỉ điện thư dưới đây: savevietnam09@gmail.com

BẢN TUYÊN BỐ

CỦA NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI

VỀ SỰ XÂM LĂNG THẦM LẶNG CỦA TRUNG QUỐC

 ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Trong thời gian hơn hai ngàn năm qua, Trung Quốc đã liên tục theo đuổi sách lược thôn tính Việt Nam. Nhiều triều đại kế tiếp của Trung Quốc  từ Hán, Đường, Tống, Minh, Nguyên, và cuối cùng nhà Thanh, tất cả đều có dã tâm xâm lăng và đồng hóa Việt Nam.  Nhưng Việt Nam đã kiên trì vượt qua mọi hiểm nghèo, chống lại một cách thành công dã tâm của Trung Quốc và tồn tại cho đến ngày nay.  Tuy nhiên những sự kiện xảy dồn dập trong những năm qua cho thấyTrung Quốc đang tiến hành trở lại âm mưu xâm lăng tuy thầm lặng nhưng không kém nguy hiểm, bao trùm cả Việt Nam.

Những sự kiện xảy ra giữa Trung Quốc và Việt Nam gồm:

  1. Năm 1974, chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa sau trận hải chiền ngắn.
  1. Năm 1979, chiếm đóng mốt số lãnh địa gần biên giới phía Bắc sau trận chiến khóc liệt tại suốt khu vực biên giới Việt  Trung.
  2. Năm 1988, chiếm đóng một số đảo trong quần đảo Trường Sa sau trận hải chiến ngắn khác.
  3. Từ năm 2007 đến nay, có sự xuất hiện đáng nghi ngờ cùa các công ty quốc doanh Trung Quốc chuyên khai thác tài nguyên khoáng sản quặng mỏ  tại nhiều vùng được đánh giá rất quan trọng về  mặt an ninh và chiến lược  quân sự, -cụ thể như vùng Tây Nguyên của Việt Nam.
  4. Bóp nghẹt nền kinh tế Việt Nam nhằm mục đích làm cho Việt Nam trở nên suy yếu về kinh tế và hậu quả tai hại là Việt Nam sẽ không thể chống cự lại được mọi  khống chế của Trung Quốc.

Từ nhiều thế kỷ nay, Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông là lãnh thổ của Việt Nam. Nhiều thế hệ  người Việt Nam đã xây dựng cơ chế xã hội và quân đội trên  hai quần đảo này. Việt Nam có nhiều tài liệu cũng như  các bản đồ do các triều vua Việt Nam từ nhiều thế kỷ trước thực hiện, chứng minh rõ ràng chủ quyền của Việt Nam. Chỉ mới gần đây, khi nhiều quặng mỏ dầu và khí đốt được tìm ra, Trung Quốc bắt đầu đơn phưong tuyên bố chủ quyền các quần đảo này qua –tài liệu lãnh hải hình “Lưỡi Bò”  tiếm  nhận  toàn bộ vùng biển bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa trong lãnh hải  kéo dài từ phía nam đảo Hải Nam – và sau đó Trung Quốc điều động lực lượng hải quân của họ đến kiểm soát toàn khu vực.

Thời gian mới đây hải quân Trung Quốc gia tăng hành động bạo lực phi pháp đối với ngư phủ Việt Nam trên Biển Đông. Nhiều sư kiện liên tục xảy ra, trong đó tàu thuyền đánh cá của ngư phủ Việt Nam bị tàu hải quânTrung Quốc đụng chìm, bắn phá, ngư dân bị bắn chết, bị thương vong và bị bắt làm con tin đòi tiền chuộc mạng.

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/SouthChinaSea-blood-and-tears-TVan-07172009113941.html)

(http://www.rfa.org/vietnamese/VietnameseNews/vietnamnews/Vietnamese-fishermen-detained-by%20chinese-sea-patrol-forced-to-pay-fine-insistently-07182009121523.html) (http://mil.news.sina.com.cn/2009-07-02/0844557400.html)

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/another-Vietnamese-fisherboat-hit-by-a-strange-boat-on-ChinaSea-07152009103037.html)

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/9-fishermen-from-ship-hitting-in-south-china-sea-QNhu-07172009143806.html

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-China-a-long-standing-grievances-historical-MLam-07022009133546.html).

Trung Quốc vừa dùng tiền của, vật chất vừa áp lực nhà nước Việt Nam để các công ty quốc doanh chuyên khai thác tài nguyên khoáng sản quặng mỏ được vào vùng Tây Nguyên độc quyền dài hạn khai thác quặng kim loại quan trọng như Titanium, Nhôm, vân vân.  Những công ty Trung Quốc này không thu dụng công nhân Việt Nam nhưng lại đem hàng ngàn thanh niên Trung Quốc trong lứa tuổi phục vụ quân đội sang làm việc và sinh sống biệt lập trong các khu vực giành riêng của họ.  Ngay cả các cơ quan nhà nước Việt Nam cũng không được phép vô kiểm tra những nơi này.

Dân chúng Việt Nam nghi ngờ và rất lo lắng về dã tâm đen tối của Trung Quốc, lợi dụng việc khai thác khoáng sản quặng mỏ để bí mật cài đặt tiềm lực quân sự cùa họ, nhất là vùng Tây Nguyên.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam, là người dày dặn kinh nghiệm và có nhiều thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến an ninh quốc phòng, đã ba lần công khai lên tiếng đến các cấp lãnh đạo cao cấp nhất của đảng và nhà nước Việt Nam, bày tỏ nỗi lo lắng sâu xa trước sự có mặt của Trung Quốc trong khu vực Tây Nguyên, vùng rất quan trọng về mặt chiến lược trong việc giữ gìn an ninh toàn vẹn lãnh thổ của  Việt Nam.

Đồng thời, Trung Quốc còn lũng đoạn kinh tế Việt Nam bằng cách cho tràn ngập và phá giá thị trường Việt Nam với nhiều loại hàng hóa tiêu dùng không đủ tiêu chuẩn an toàn vệ sinh, và chuyển vận bất hợp pháp nhiều loại hàng hóa, – vật liệu xuyên qua toàn vùng biên giới Việt Trung. Hậu quả của ý đồ thâm độc này là các ngành sản xuầt của  Việt Nam đang  bị suy yếu chết dấn mòn.

Ngoài ra, với âm mưu nhằm hủy hoại khả năng sản xuất lúa gạo của vùng đồng bằng miền Nam của Việt Nam, Trung Quốc  đang thực hiện kế hoạch xây 8 đập thủy điện lớn trên khu vực thượng nguồn của sông Cửu Long trong vùng Vân Nam. Trung Quốc vừa hoàn tất  ba đập thủy điện lớn.  Những đập này đã thay đổi dòng chảy tự nhiên của sông Cửu Long và gây thiệt hại đến khoảng 75% số lượng thủy sản trong khu vực hạ lưu sông Cửu Long.  Mức độ sản xuất lúa gạo và các hoạt động nông nghiệp trong vùng châu thổ sông Cửu Long của Việt Nam  – khu vực sản xuất lúa gạo lớn nhất thế giới – bị suy giảm nghiêm trọng.

Chúng tôi cực lực chống lại những hành động bành trướng phi pháp và bá quyền cùa Trung Quốc đối với Việt Nam. Chúng tôi đòi hỏi Trung Quốc:

  1. Thả tự do lập tức và vô điều kiện tất cả ngư phủ Việt Nam hiện đang còn bị bắt giữ trái phép cùng với tàu thuyền của họ và bồi hoàn đầy đủ những chi phí chi trả cho việc sửa chữa những hư hại gây ra cho những tàu thuyền, và bối thướng toàn bộ thiệt hại cho số hải sản bị tịch thu trái phép.
  2. Ngừng ngay những hành động bạo lực bá quyền phi pháp đối với ngư phủ Việt Nam trên Biển Đông.
  3. Ngừng xây thêm đập thủy điện trên khu vực Langcang Jiang. Xử lý toàn bộ nuớc phế thải kỹ nghê đúng tiêu chuẩn quốc tế để bảo vệ chất lượng nước trong vùng để sông Cửu Long không bị trở thành một hệ thống thoát nước phế thải của các tập đoàn kỹ nghệ Yunnan.
  4. Giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ, biển đảo và lãnh hải bằng đuờng lối ngoại giao và tuân hành các qui ước quốc tế, không qua hành động áp chế bằng bạo lực. Những thái độ và hành động bạo lực chỉ làm gia tăng tình trạng bất ổn định không những cho vùng Đông Á mà còn cho vùng Đông Nam A, khu vực rất cần sự ổn  định chính trị, giúp cho công cuộc phát triển kinh tế trong khu vực.

Chúng tôi, người Việt Nam trên toàn thế giới ký tên dưới đây đặc biệt quan tâm và lo ngại đến những biến cố dồn dập xảy ra ngoài Biển Đông, trên vùng Tây Nguyên và vùng biên giới Việt Trung.  Sống cạnh Trung Quốc, như kinh nghiệm của người Tây Tạng , nguời Uighurs tại Tân Cương, chúng tôi biết rõ chủ trương lâu đời cùa Trung Quốc là  xâm chiếm  và đồng hóa các nước láng giềng có ít dân.

Chúng tôi kêu gọi những tổ chức bảo vệ nhân quyền tiến hành điều tra những sự ngược đãi và giết hại ngư phủ Việt Nam  không võ trang và không ai bảo vệ, do hải quân Trung Quốc đang gây ra trên Biển Đông, và khẩn thiết  đòi hỏi Trung Quốc tôn trọng quyền căn bản của con người đối với ngư phủ Việt Nam đang bi họ bắt giữ phi pháp và đòi tiền chuộc mạng.

Đính kèm:

(1) Bản đồ Biển Đông ghi lại những địa điểm thuyền đánh cá Việt Nam bịTrung Quốc tấn công và bắt giữ, cho thấy rõ rang họ đang ở  trong vùng lãnh hải Việt Nam.

(2) Một số hình chup cảnh ngư phủ Việt Nam bị đối xử tồi tệ và bị khủng bố, hạ nhục nhân phẩm và hình lính hải quân Trung Quốc đang khủng bố ngư dân Việt Nam.(3) Thư của  Đại Tướng Võ Nguyên Giáp lên tiếng về việc khai thác Bauxite và hiểm họa Trung Quốc tại Tây Nguyên:

http://bauxitevietnam.info/1933/thu-thu-3-cua-dai-tuong-vo-nguyen-giap-gui-bch-tu-bo-chinh-tri-cung-quoc-hoi-va-chinh-phu-ve-van-de-bauxite-tay-nguyen/?c

http://bauxitevietnam.info/tulieu/0904_DTVoNguyenGiap.htm

http://bauxitevietnam.info/tulieu/090114_thudaituongVNG1.htm

(4) Hồ sơ Việt Nam nộp lên Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Cứu Xét Ranh Giới Thềm Lục Địa:

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mys_vnm2009excutivesummary.pdf

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm2009n_executivesummary.pdf

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm2009n_executivesummary.pdf

 

Đây là Bản Tuyên Bố của những Người Việt Thầm Lặng

không đảng phái chính trị, vẫn thường xuyên quan tâm đến tình hình đất nưóc.

Nếu quí vị đồng ý với những lời kêu gọi trong bản Tuyến Bố này xin vui lòng ký tên bằng cách gửi tên họ, tuổi(optional), nơi cư ngụ về địa chỉ điện thư dưới đây:

savevietnam09@gmail.com

hay tại

http://baovetoquoc.blogspot.com/

Nhóm chủ trương sẽ gửi bản Tuyên Bố này đến các cơ quan liên hệ của Liên Hiệp Quốc,

các vị dân cử trên khắp mọi quốc gia trên thế giới và các cơ quan truyền thông

Chúng tôi cũng đang soạn một Website để phổ biến biến dự án này trên hệ thống Internet.

Trong tình trạng Tổ Quốc lâm nguy trước nạn Bắc Thuộc, chúng ta không thể tiếp tục im lặng chờ đợi vào nhà nước Việt Nam và các đảng phái chính trị trong cũng như ngoài nưóc.

Xin hãy cùng góp một tay để lên tiếng kêu gọi lương tâm thế giới trước nạn Bắc xâm.

Trân Trọng

Thay Mặt Nhóm Người  Việt Thầm Lặng Chống Nạn Bắc Thuôc.

Ngô Khoa Bá – MBA – Houston, USA
Nguyễn Hùng  – BE – Sydney, Australia
Le Q. Long  – BE – Auckland, NZ

**************************************************************

Danh sách những người ký tên

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/danh-sach-moi-nhut.html

Thư gửi Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/tho-goi-ong-tong-thu-ky-lien-hiep-quoc.html

Thư gửi Thủ Tướng Úc

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/thu-goi-thu-tuong-uc-va-mot-so-bo.html

.

Buổi Tâm Tình và Ra Mắt Sách: Tuổi Thơ và Chiến Tranh của Võ Đại Tôn

Tuệ An(*)

Trong chuyến công du 2 tháng tại Hoa Kỳ, từ nước Úc, cựu Đại tá  Quân lực Việt Nam Cộng Hòa Võ Đại Tôn tức tác giả Hoàng Phong Linh của nhiều tác phẩm Thơ Văn đã ghé lại Houston. Tại đây Ông đã gặp gỡ đồng hương trong “Buổi Tâm Tình và Ra Mắt Sách Tuổi Thơ và Chiến Tranh” vào chiều Chủ Nhật 30 tháng 5, 2010. 

“Tôi không phản bội bất cứ ai đã giúp đỡ, ủng hộ tôi. Tôi tiếp tục duy trì lập trường chính trị của tôi (để tranh đấu) cho tự do và giải phóng dân tộc. Tôi đã sẵn sàng nhận bất cứ một bản án nào mà chế độ cộng sản dành cho tôi”

Đó là lời tuyên bố của ông Võ Đại Tôn trong cuộc họp báo quốc tế tại Hà Nội ngày 13 tháng 7 năm 1982 trong một đoạn phim được trình chiếu tại buổi “Tâm Tình và Thơ Nhạc Hoàng Phong Linh – Võ Đại Tôn và ra mắt tác phẩm Tuổi Thơ và Chiến Tranh” do Liên Minh Quang Phục Việt Nam tổ chức tại Houston cuối tuần qua. Đoạn phim do phóng viên Mori của đài Truyền hình Nhật Bản TV-NHK thâu được.  Và câu tuyên bố đó của ông Võ Đại Tôn là ngoài sự tiên liệu của nhà nước Việt Nam, và cuộc họp báo chấm dứt ngay sau lời tuyên bố của ông. Sự can cường của ông đã làm thế giới khâm phục nhưng cũng là nguyên nhân khiến ông bị tù biệt giam 10 năm tại trại tù Thanh Liệt với những lần bị tra tấn dã man, cho đến năm 1992 mới được trục xuất về lại Úc Đai Lợi.

Là một cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ông Võ Đại Tôn và gia đình vượt biển định cư tại Úc năm 1975. Đến năm 1980 ông cùng với những người đồng chí hướng đã trở lại Việt Nam xuyên qua đường bộ Thái Lan, Campuchia và Ai Lao để tham gia kháng chiến phục quốc nhưng bị bắt tại biên giới Lào Việt vào tháng 10 năm 1981.

Giới thiệu tác giả Hoàng Phong Linh và tác phẩm của ông là Luật sư Hoàng Duy Hùng, người cũng đã từng về Việt Nam để mưu cầu phục quốc và cũng đã bị giam cầm trong lao tù của nhà nước Việt Nam gần 2 năm, nói là trong tác phẩm Tuổi Thơ và Chiến Tranh, bài thơ Nước Trôi Mồ Mẹ đã được tác giả viết trong bối cảnh nước lụt dâng tràn, sắp cuốn trôi mồ mẹ của ông, người đã bị cộng sản giết năm 1947, và đã khiến Hoàng Phong Linh liên tưởng đến cơn lụt chính trị đang cuốn trôi cả Mẹ Việt Nam.

“Đó là bối cảnh của một dòng sông, e rằng nước dâng lên trôi luôn cả xương cả cốt của mẹ mình vì cái tội tàn ác của cộng sản Việt Nam, thời kỳ 1946 Việt Minh nổi dậy ở Đà Nẵng.  Nhưng mà còn là cái biến cố trôi trong tâm hồn của ông; Việt Nam đau khổ sẽ bị cuốn trôi, cuốn trôi trong dòng nước bạo lực này, giòng nước của bạo tàn… Trong tâm tư đó, ông Võ Đại Tôn đã viết bài đó …”  

Trong phần tâm tình với đồng hương, ông Võ Đại Tôn đã kể lại những câu chuyện đau lòng ông đã gặp mà điển hình là chuyện “Miếu Ba Cô”

“Trên những trạm tỵ nạn hoang vu, tôi đã thấy những ngôi mộ hoang tàn, lạnh lùng, không khói không nhang. Những mộ bia bị đập nát tan, và trong khu rừng âm u, tôi thấy một cái miếu nhỏ. Tôi đã hỏi người Nam Dương cái miếu này là miếu gi. Thì ông ta nói đây là cái miếu của 3 cô gái Việt Nam đã bị hải tặc hãm hiếp và trôi dạt vào bờ, còn sống, họ vớt lên được. Nhưng vì uất hận, nhục nhã, 3 cô gái Việt Nam chưa đầy 20 tuổi đã lén ra ngoài khu rừng treo cổ, tự tử trên nhánh cây. Và người Nam Dương đã lập miếu thờ và gọi là Miếu Ba Cô”  

Và chuyện tấm ảnh của các em bé gái Việt Nam 5, 6 tuổi đang làm nô lệ tình dục tại Campuchia, do một người bạn phóng viên của ông gửi cho:

“Một ký giả ngoại quốc quen với tôi đi Campuchia và gửi về cho tôi một tấm ảnh, với giòng chữ viết ‘Hãy nhìn tấm ảnh này để thấy cả dân tộc của anh’. Ông ta chỉ viết như vậy thôi. Tôi lật tấm ảnh ra và tôi bàng hoàng, đấy là hình của 4 người con gái Việt Nam khoảng 6 tuổi, 7 tuổi, ngồi co ro trong một cái vách ở Campuchia và hai chân đầy cả máu. Những người con gái Việt Nam 5, 6 tuổi đã bị bán qua Campuchia để làm công cụ tình dục. Lịch sử Việt Nam chưa bao giờ có chuyện này. Chỉ có dưới chế độ cộng sản ngày nay”    

Và ông cũng nói lên ước vọng là muốn trao lại cho giới trẻ tinh thần bất khuất trước bạo lực và được đồng hành cùng thế hệ trẻ, một cuộc hành trình công tâm để dựng lại niềm tin và cùng hy sinh cho Mẹ Việt Nam :

“Thế hệ chúng tôi xin được hòa đồng cùng tuổi trẻ Việt Nam để từ đó chúng ta kết hợp lòng người giữa hai dòng thế hệ, để đòi lại quyền sống cho dân tộc Việt Nam. Tôi xin gửi lại cho các bạn trẻ những máu xương của anh em chúng tôi đã đổ xuống trên chiến trường miền Nam trong quân đội Việt Nam anh hùng nhưng đã bị bức tử sau những cánh cửa khép kín tại Hoa Thịnh Đốn, tại Ba Lê, tại Bắc Kinh và tại Moscow. Anh em chúng tôi đã ngậm ngùi buông súng xuống … nhưng không trao lại cho thế hệ tuổi trẻ những nỗi ngậm ngùi đó, mà xin trao lại cho tuổi trẻ cái tinh thần bất khuất của những người đã dám hy sinh cho tổ quốc” 

Có mặt trong buổi Tâm Tình này, phu nhân của ông Võ Đại Tôn tâm sự là mặc dù bà rất buồn khổ khi ông bị tù đày nhưng so với vợ của các nhà đấu tranh cho Dân Chủ trong nước thì bà còn may mắn hơn nhiều:

“Tôi cũng có sự đau khổ khi phải xa chồng nhưng tôi nghĩ đến những người đàn bà Việt Nam, sống trong hoàn cảnh rất là khó khăn. Cuộc sống đã khó khăn mà tiếng nói lại nhỏ bé, họ không làm gì được …”   

Buổi họp mặt có nhiều người trẻ tham dự, nha sĩ Chu Văn Cương chia sẻ là ông Võ Đại Tôn đã đem lại niềm phấn khởi cho giới trẻ Việt Nam và NS Cương cũng đồng ý với quan điểm là các thế hệ phải đồng hành để đạt được sư tín nhiệm của mọi người trong nỗ lực vận động cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền tại Việt Nam:

“Ông Võ Đại Tôn đã đem lại thêm niềm hy vọng cho những người ở đây. Nhờ vậy chúng tôi cảm thấy rất là phấn khởi để tiếp tục con đường đấu tranh mà mình đã chọn. Đây là một đường lối rất tốt và nếu chúng ta thắng được nhân tâm thì chúng ta sẽ đi tới được đoạn đường tốt đẹp hơn…”  

(*) Tuệ An là bút hiệu của Hiền Vy và Nguyễn Phục Hưng khi viết chung