Tiền đề ra đời, phát triển của tài chính

Tài chính là một loại hình kinh tế – Lịch sử Sự tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của con người. Từ toàn bộ lịch sử phát triển tài chính xảy ra chúng ta thấy: sự ra đời của tài chính và sự hiện diện của các điều kiện lịch sử nhất định khi những hiện tượng kinh tế xã hội xuất hiện nhiều nhất. Đã xảy ra và sống sót Có thể xem các hiện tượng kinh tế xã hội, mục đích của nó là mục đích sống còn và phát triển tài chính.

Karl Marx trong Nghiên cứu Kinh tế Chính trị đã chỉ ra hai điều kiện tiên quyết cho tình trạng khẩn cấp, tình trạng khẩn cấp và sự tồn tại của các bang, sự xuất hiện và phát triển của các thị trường hàng hóa hàng hoá.

Giả định đầu tiên: Sự tồn tại của nhà nước

Ở dạng nhà nước xã hội chủ nghĩa, tài chính tồn tại như là một công cụ trong tay nhà nước để phân phối thu nhập xã hội và thu nhập quốc gia để đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. Nhà nước đầu tiên trong xã hội con người là nhà nước nô lệ, cùng với Sự nổi lên và sự tồn tại của các hình thức tài chính ban đầu, như thuế, bắt đầu nổi lên.

F. Enghen viết rằng: “Để bảo vệ quyền lực công cộng, đòi hỏi sự đóng góp của một công dân nhà nước phải đóng thuế. Với sự tiến bộ của nền văn minh, bản thân thuế không còn nữa; Chính phủ cũng ban hành một dự thảo trái phiếu, sẽ phát hành trái phiếu ”
Trong các hệ thống xã hội phát triển, các quốc gia có trách nhiệm xã hội trong mọi lĩnh vực, bao gồm kinh tế, văn hoá, giáo dục, bảo vệ … tất cả sẽ tăng cường tài chính của họ.
Như vậy có thể nói, trong những điều kiện lịch sử nhất định, khi xuất hiện, sự tồn tại và hoạt động của nhà nước, bản chất, sự tồn tại và hoạt động của tài chính.

Giả thuyết thứ hai: sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hoá.

Lịch sử phát triển tài chính cho thấy rằng khi mô hình tài chính đầu tiên xuất hiện trong tình trạng của nền kinh tế (thuế), sự nổi lên và sự tồn tại của sản xuất hàng hoá – tiền tệ và các mô hình tiền tệ. Việc sử dụng các mối quan hệ tài chính là cần thiết.

Trong chế độ nô lệ, các biện pháp tài chính đã được thiết lập. (Ví dụ, thuế quan, thuế, thuế gián tiếp, thuế thị trường, thuế tài sản, vv) trong hệ thống phong kiến, phù hợp với sự mở rộng quan hệ thị trường, sản xuất hàng hoá và tài chính, các lĩnh vực tài chính đã mở rộng và lan rộng hơn. (Chẳng hạn như đánh thuế gián tiếp về đất đai). Thu mua hàng tiêu dùng, thuế hộ gia đình, vv).

Với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế hàng hoá – thu nhập tài chính thông qua tiền và thuế đã trở thành nguồn thu nhập chính cho nhà nước. Bằng cách kiếm tiền, việc chi tiêu tiền đã làm tăng mẫu chi tiêu và linh hoạt trong khi sử dụng các khoản tiền. Vào thời kỳ phát triển kinh tế tư bản, một trong những ngân sách nhà nước tập trung của hệ thống tài chính tập trung là có hệ thống hơn và quan trọng hơn trong việc phân phối của cải xã hội. Về mặt giá trị

Phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều hơn, giá trị tiền tệ sẽ trở thành hình thức chính của doanh thu và chi tiêu của chính phủ. Sản phẩm kinh tế – Tiền đã mở rộng phạm vi của các mối quan hệ tài chính. Chủ nghĩa tư bản được sinh ra và phát triển. Giá trị tiền tệ của các mối quan hệ tài chính là một yếu tố trong bản chất của tài chính.

Vì vậy, sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hoá là điều kiện tiên quyết cho sự nổi lên và phát triển của tài chính.

Khi nói đến vị trí của tài chính, một số nhà lý luận kinh tế nhấn mạnh đến tiền đề đầu tiên đó là tập trung vào sự tồn tại của nhà nước. Nhưng một số nhà kinh tế không đồng ý. Các nhà kinh tế này cung cấp các ví dụ về các quốc gia Khmer không ý thức được nền kinh tế hàng hoá, vì vậy không có cơ sở tài chính. Nhiều nhà kinh tế tập trung vào điểm dị thường thứ hai. Những nhà kinh tế này nhấn mạnh sự nổi lên và sự tồn tại của đồng tiền và lập luận rằng đây là điều kiện tiên quyết cho sự nổi lên và sự tồn tại của vốn. Những lý thuyết này đề cập đến nền kinh tế xã hội chủ nghĩa khi các xã hội không chấp nhận hàng hóa. Nhưng tiền tệ đã tồn tại, vì vậy nó vẫn có cơ sở tài chính.

_ Tài chính Hana sưu tầm_

Khởi Nghĩa Lam Sơn – Phần II

Khởi Nghĩa Lam Sơn

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt và sự thành lập nhà Hậu Lê.

Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn:

Hoạt động ở vùng núi Thanh Hoá(1418-1423)

Tiến vào phía nam (1424-1425)

Và chiếm lại Đông Quan (1426-1427).

Khởi nghĩa Lam Sơn – Phần I

Khởi Nghĩa Lam Sơn

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt và sự thành lập nhà Hậu Lê.

Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn:

Hoạt động ở vùng núi Thanh Hoá(1418-1423)

Tiến vào phía nam (1424-1425)

Và chiếm lại Đông Quan (1426-1427).

NDLS: Hồ Nguyên Trừng và Nguyễn An

Súng Thần Công - Hinh tu NET
NDLS: Hồ Nguyên Trừng và Nguyễn An

Chân thành cảm tạ Bác Lê Thu và anh Triển Chiêu đã khích lệ và cho info để chúng tôi thực hiện chương trình này

 

Hồ Nguyên Trừng (1374-1446) tự Mạnh Nguyên, hiệu Nam Ông, là con trai cả của Hồ Quý Ly, anh của Hồ Hán Thương.

Hồ Nguyên Trừng là một tướng tài có công trình quân sự lỗi lạc và là người phát minh Thần cơ hỏa sang, một loại súng trường lúc bấy giờ. Khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, Hồ Nguyên Trừng giữ chức Tả tướng quốc, thời nhà Hồ.

Sau thất bại trong cuộc chiến chống quân nhà Minh, ông cùng cha bị bắt ở Hà Tĩnh rồi bị mang về Tầu năm 1407. Hồ Quý Ly bị làm lính còn Hồ Nguyên Trừng vì có tài đúc súng nên được cho làm quan trong triều đình Trung Hoa.

***********

Nguyễn An (1381-1453), người Tầu còn gọi ông là A Lưu, một  kiến trúc sư thời Hồ Quy Ly. Ông chỉ huy chương trình xây cất  Tử Cấm Thành Bắc Kinh cùng với Cai Xin, người Tầu.   Ông cũng tham gia trị thủy hệ thống sông Hoàng Hà.

Nguyễn An sinh năm Tân Dậu, quê ở vùng Hà Đông  nay thuộc địa phận thành phố Hà Nội. Khi gần 16 tuổi (khoảng năm 1397), thời vua Trần Thuận Tông nhà Trần, ông đã tham gia các hiệp thợ xây dựng cung điện ở kinh thành Thăng Long nhà Trần. Năm 1407, nhà Minh bên Tầu sang đánh bại nhà Hồ, nước ta, vàchiếm được Việt Nam. Tướng nhà Minh là Trương Phụ, ngoài việc bắt cha con Hồ Quý Ly cùng toàn bộ triều đình nhà Hồ đem về Tầu, còn lùng bắt các thanh thiếu niên trai trẻ tuấn tú của Việt Nam mang về chọn để hoạn làm Thái giám phục vụ trong cung vua nhà Minh. Trong số này có nhiều người sau trở nên nổi tiếng vì tài giỏi như: Nguyễn An, Vương Cần,…