Ngược dòng lịch sử ngân hàng thương mại cổ phần công thương VN

Trong bài viết hôm nay haokhidienhong sẽ ngược dòng lịch sử để giới thiệu về ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam. Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) được thành lập năm 1988. Trong 30 năm qua, VietinBank đã trở thành ngân hàng thương mại trọng điểm tại Việt Nam. Vốn điều lệ lớn nhất, chất lượng tài sản tốt nhất, lợi nhuận cao nhất, thuế cao nhất.

VietinBank có 155 chi nhánh, hơn 1.000 phòng giao dịch và gần 20 công ty thành viên, các đơn vị sự nghiệp trên toàn quốc. VietinBank là ngân hàng Việt Nam duy nhất ở châu Âu có hai chi nhánh tại Đức; 1 chi nhánh ngân hàng tại Lào và văn phòng đại diện tại Myanmar. VietinBank có mối quan hệ đại lý mạnh mẽ với hơn 1.000 ngân hàng trên toàn thế giới với sự đóng góp của các cổ đông lớn như Tokyo Mitsubishi UFJ Bank (BTMU), IFC… nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính.

Với mục tiêu chiến lược trở thành ngân hàng khu vực, VietinBank đang dần tối đa hóa tiềm năng kinh tế và chiến lược kinh doanh của mình trong khi không ngừng tìm kiếm cơ hội để dẫn dắt và tham gia các thương hiệu mạnh. của khu vực.

Để đạt được các mục tiêu trên, đội ngũ tư vấn của VietinBank đã đề xuất 5 điểm chiến lược tập trung và chỉ đạo trong giai đoạn 2018 – 2020 như sau:

  • Tăng trưởng bền vững;
  • Tái cơ cấu thu nhập;
  • Phát triển nghiệp vụ thanh toán;
  • Nâng cao năng lực tài chính;
  • Tăng cười các gói cho vay trả góp;
  • Nâng cao năng suất lao động và quản lý hiệu quả chi phí.

Các chủ đề trọng tâm chiến lược là sự tiếp tục và làm sâu sắc thêm các chủ đề được đặt ra trong Kế hoạch kinh doanh trung hạn cho giai đoạn 2015-2017. Điểm mạnh của Hội đồng Quản trị VietinBank kể từ nhiệm kỳ II (2014 – 2019) là xây dựng và phấn đấu thực hiện chiến lược đột phá về cơ bản thay đổi bộ mặt và nội dung hoạt động. Mong muốn của nhiều cổ đông VietinBank.

Để đảm bảo thời gian phê duyệt kế hoạch trung hạn thứ hai (2018-2020), các đơn vị kinh doanh, nghiệp vụ của VietinBank tập trung phát triển và hoàn thành các biện pháp thực hiện cụ thể trong hợp tác chặt chẽ với 5 điểm chiến lược nêu trên. Một bầu không khí khẩn cấp, tích cực – có thể nói rằng nó chưa bao giờ quá rộng và đáp ứng với kỳ vọng của sự tăng trưởng của VietinBank đối với các quan chức tham gia vào các khối – như chủ tịch đã nhận xét. Hội đồng quản trị VietinBank. Các đơn vị đã phát triển một kế hoạch trung hạn chất lượng cao với các chỉ số đột phá và thể hiện tính khả thi của từng biện pháp thực hiện.

Lễ Hội Một Ngàn Năm Thăng Long Với Những Điều Trông Thấy

Thăng  Long Thành là thủ đô của  nước Đại Việt độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, là quốc đô tinh thần của truyền thống Văn Hóa Dân Tộc, là công lao vĩ đại của ông cha trên một ngàn năm đấu tranh chống ngọai xâm Phương Bắc, là kết tinh công trình dung hóa tư tưởng của các nền Văn Minh Thảo Mộc Trời Đông, qua sự đãi lọc tinh hoa của 3 nguồn Đạo Học: Phật-Lão-Khổng của Ấnđộ-Trunghoa, bởi Việt Tính Nhân Chủ Tự Nhiên của Việttộc, để thiết lập một nền Văn Hiến Đa Nguyên Phân Nhiệm Điều Hợp làm chủ đạo cho 2 triều đại Độc Lập Thịnh Trị Phát Triển Lý-Trần, đóng đô ở Thăng Long Thành. Thăng Long còn là điạ bàn tranh sống, thua, thắng giữa Việt–Tầu suốt Một Ngàn Năm dài, đến nay vẫn chưa kết thúc.

Để được thế, trên một ngàn năm bị giặc Tầu thống trị, bắt đầu từ  năm 111 trước Tây lịch, bởi các triều đại Hán, Luơng, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh của Phương Bắc. Không thời nào không có những cuộc khời nghĩa giành độc lập tự chủ cho nòi giống Việt. Mở đầu do 2 vị nữ lưu của họ Hồngbàng là Trưng Trắc, Trưng Nhị, năm 40 đến 43 Tâylịch, đánh đuổi nhà Đông Hán để xưng vương. Năm 248, vị kiệt nữ Triệu Chinh phất cờ khởi nghĩa đánh lại quân Đông Ngô nhà Hán. Năm 544, Lý Bôn khởi nghĩa  đánh đuổi quân nhà Lương, lập ra nhà Tiền Lý, xưng hiệu là Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân. Sau 59 năm độc lập rồi bị Nhà Tùy xâm lăng. Hết Tùy đến nhà Đường thay nhau thống trị Việttộc. Năm 722, Mai Thúc Loan, xưng là Mai Hắc Đế đánh quân nhà Đường. Năm 791, Phùng Hưng được dân chúng tôn là Bố Cái Đại Vương đánh đuổi được binh tướng nhà Đường về Tầu. Nhờ những cuộc khởi nghĩa liên tục đó. Năm 906, nhà Đường buộc phải thay đổi chính sách Thái Thú trực trị thành ra chính sách bảo hộ. Phong thân hào người Việt là Khúc Thừa Dụ làm Tiết Độ Sứ cai trị Giaochâu. Tạo cơ hội cho Ngô Quyền năm 939 đánh đuổi quân Nam Hán, mở mùa Độc Lập Tự Chủ Hoàn Toàn cho nuớc Việt sau 1050 năm bị Đế Quốc Trung Hoa thống trị.

Ngô Quyền 939-944, tự xưng Vương, đóng đô ở Cổ Loa. Sau khi Ngô Vương mất, nước Việt rơi vào nạn sứ quân đánh phá lẫn nhau. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh, hiệu là Vạn Thắng Vương, dẹp loạn 12 Sứ Quân thống nhất tổ quốc, xưng hiệu là Đinh Tiên Hoàng Đế. Lấy tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, thiết lập chế độ Quân Chủ Tập Trung. Nhưng không lấy Đạo Nho là chủ đạo như Hántộc, mà tôn Thiền sư Khuông Vìệt làm Tăng Thống Phật Giáo và là Quốcsư. Nhà Đinh bị loạn thần soán đoạt, trong khi nhà Tống đem quân xâm lăng, năm 980, triều thần tôn Thập Đại Tướng Quân Lê Hoàn lên làm vua, hiệu là Đại Hành Hoàng Đế. Chém chết tướng nhà Tống là Hầu Nhân Bảo ở Chi Lăng. Việt–Tống nghị hòa. Triều Tiền Lê vẫn lấy Đạo Phật là chủ đạo. Nhưng Đạo Phật là Đạo Giải Thoát không phải là đạo của nhà Cai Trị. Nên tới thời Lê Long Đĩnh thì Phậtgiáo bị ngược đãi. Năm 1010, Điện Tiền Chỉ Huy Sứ, Lý Công Uẩn, được viên đại thần là Đào Cam Mộc, thiền sư Vạn Hạnh và triều đình tôn lên làm vua. Mở ra nhà Lý. Tháng 7, năm Thuận Thiên nguyên niên -1010- rời đô về thành Đại La và đổi là Thăng Long Thành.

Tuy vua Lý Thái Tổ xuất thân từ cửa Chùa, thiền sư Vạn Hạnh là vị thầy của nhà vua, là nhà khai sáng chế độ, là kiến trúc sư kinh thành Thăng Long, nhưng các Ngài đã không lấy Phật Giáo làm Quốc Giáo Độc Tôn. Cũng không để cho Triều Đình dùng Phậtgiáo làm phương tiện nhằm khống chế tư tưởng người dân, như Hán Võ Đế đã dùng Đạo Khổng để tạo ra Đế Quốc Đại Hán. Mà thiết lập ra nền Văn Hiến Dung Hoá: Đa Nguyên, Phân Nhiệm, Điều Hợp. Dùng Nho giáo hữu vi thực dụng vào việc trị quốc, an dân. Dùng Lão giáo vô vi duy nhiên vào việc di dưỡng tinh thần tự do, tự tại của giới trí thức. Dùng Phật giáo vô ngã, giải thoát, siêu vi vào việc hướng dẫn tâm linh con người trên hành trình: hướng nội, hướng tha và hướng thượng. Nhờ vậy mà Tâm con người thường an tịnh trong cõi vô thường hằng hóa, Trí con người được phóng khoáng sáng suốt rộng mở, hành động con người dễ dàng tùy duyên ứng xử. Xã hội Đại Việt hài hòa phát triển, Giặc đến toàn dân ứng chiến. giặc tan cùng nhau sản xuất, trong nếp sống gia đình bình đẳng thân yêu, trong làng xóm tự quản của truyền thống Việt tộc tự chủ.

Những tướng tài lẫy lừng kinh sử chiến thắng xâm lăng như bà Trưng, bà Triệu, Triệu Quang Phục, Ngô Quyền, Phùng Hưng, Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… Nhưng văn tài quán triệt như:  Lê Văn Thịnh, Tuệ Trung Thượng Sĩ,  Nguyễn Thuyên, Hồ Qúy Ly, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ôn Như Hầu, Nguyễn Du…Những anh hùng chí sĩ này đã làm cho dòng sử Việt hào hùng  rạng rỡ, đã là nhân tố tạo nên nền tảng trường cửu của kinh thành Thăng Long. Thế mà hiện nay tổ chức kỷ niệm “Một Ngàn Năm Thăng Long”, Hànội lại cố tình không  đề cập tới công lao của tiền nhân đã đổ biết bao xương máu, tâm can, trí lực để chiến đấu chống ngoại xâm, chống đồng hóa khắp mặt, nhằm xây dựng nên một Thăng Long Văn Hóa muôn đời, một Việtnam Tự Chủ dài lâu trong tiến trình Toàn Cầu Hoá hiện nay. Chẳng những đảng và nhà nước Cộngsản Việtnam cố quên đi công lao của tiền nhân có công chống Tầu, mà còn nhẫn tâm chọn ngày quốc khánh 01/10/2010 của Trungcộng để khai mạc Lễ Hội Ngàn Năm Thăng Long, và ngày 10/10/2010 quốc khánh của Trunghoa Dân Quốc làm ngày bế mạc. Phải chăng, đây là một ý đồ của bọn tay sai Trungcộng đang nắm quyền tại Hànội đã hứa với người Hoa là “dù Cộng hay Quốc thì Việtnam cũng vẫn thuộc về Trunghoa”?

Những người đã từng theo cộng sản Việtnam, liệu có vẫn còn hãnh diện là mình, Đảng của mình, chế độ của mình, và lãnh tụ Hồ Chí Minh “vô vàn kính yêu’ của mình là người Việtnam yêu nước nữa không? Khỏi cần phải trình bày về cái thứ lễ hội ‘nô lệ Tầu’ đầy rác rưởi này. Chẳng cần phải nhắc tới những lời phê phán, lên án của giới trí thức, toàn dân và toàn thế giới về thứ lễ hội Tầu hóa đầy tốn kém ngân sách nhà nước, mà nhiều lợi lộc cho kẻ có quyền thế. Những điều trông thấy cũng đủ đau đớn lòng cho những đảng viên còn chút lương tâm, còn biết liêm sỉ, còn nghĩ mình là ngưới Việtnam. Có lẽ sợ ê mặt, nên lãnh tụ cộng đảng Nông Đức Mạnh, chủ tịch nhà nước Nguyễn Minh Triết, thủ tướng Việtcộng Nguyễn Tấn Dũng đã không dám xuất hiện ở lễ khai mạc, đùn cho chủ tịch Quốchội Nguyễn Phú Trọng  chủ toạ và các cựu lãnh đạo Việtcộng hiện diện. Hay là quá sợ Trungcộng vì đã cho tập thể quân đội ‘Hải Cảnh’ diễn hành với bộ quân phục rằn ri và súng M 18 hãm thanh của Mỹ. Khiến quan thầy Bắckinh ngứa mắt. Rồi lại tra vấn rằng: “Các chú định thực hiện du kích chiến trên biển ‘có sát thương mà không tiếng súng’ phải không”? Riêng người Việt Quốc Gia thì cũng nhẹ mình, vì Việtcộng bây giờ đã mặc nhiên tự thú họ là Việtgian bán nước cho Tầu rồi. Little Saigon 05/10/2010.

Tính Chính Danh Của Đại Lễ Ngàn năm

Phàm việc lễ lạt từ bé đến lớn từ xưa đến nay đều có cái tích của nó. Đại lễ mang tính chất kinh đô, thủ đô thì càng phải cẩn thận. Tính chính danh phải được đặt lên hàng đầu. Đâu phải kiểu thương vay khóc mướn mà được việc!

Đại lễ ngàn năm Thăng Long – Hà Nội đã được duyệt và sẽ cử hành vào ngày 01 đến 10/10/2010 với lý do là vào năm 1010 vua Lý Công Uẩn đã dời đô từ Hoa Lư về Đại La và sau đó đặt tên là Thăng Long. Xét về nội dung của chiếu dời đô:

Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại , lấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.

Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế “long bàn, hổ cứ”, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.

Chiếu dời đô này hoàn toàn không thấy tinh thần độc lập dân tộc ở chỗ : Bản chiếu dời đô không thấy vị vua Việt Nam nào được vua Lý nêu tới để làm gương mà chỉ thấy chê bai nhà Đinh, nhà (Tiền) Lê. Lý Thái Tổ lấy việc làm của các triều đại của cường quyền đế quốc Trung Hoa để noi gương. Ông gọi đô hộ Cao Biền là Cao Vương, gọi thành Đại La là đô cũ. Điều này khiến “chiếu dời đô” không thể sánh được với “Nam quốc sơn hà” và “Bình Ngô Đại Cáo”. Từ đây suy ra việc dùng đại lễ từ 1-10/10/2010 với lý do chiếu dời đô, đổi tên Thăng Long là không có tính độc lập dân tộc.

Nếu thực sự cần thiết phải dùng đại lễ vì sự tồn tại của Thăng Long đến nay là 1000 năm thì càng khiên cưỡng. Trong chiếu dời đô Lý Công Uẩn đã nói rõ là ông lấy thành Đại La làm kinh đô mới chứ không phải là ông phát minh ra vùng đất đó. Tính từ Đại La đến Hà Nội hiện nay sẽ nhiều hơn 1000 năm rất nhiều, tại sao lại không gọi đại lễ là Đại La – Hà Nội? Đại La cũng là nơi định đô của Phùng Hưng chứ đâu chỉ là phủ đô hộ? Kể cả khi coi thành Đại La là bất chính vì là do Cao Biền xây nên thì tại Hà Nội cũng có vô số kinh đô của các vị vua Việt đóng đô trước cả Lý Thái Tổ; như vùng Cổ Loa của An Dương Vương, Ngô Quyền; vùng Mê Linh của hai Bà Trưng… mà tính độc lập dân tộc luôn được chính danh. Chính Ngô Quyền đóng đô ở Cổ Loa – Hà Nội là người đã đập tan quân Nam Hán và chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc. Có thể là đại lễ Cổ Loa – Hà Nội hay Mê Linh – Hà Nội hay không? Vì lẽ gì ta cứ phải lấy mốc là triều Lý? Đại lễ này có phải là lễ của riêng triều Lý? Chẳng thể vì một nhẽ là số 1000 vừa tròn vừa đẹp mà làm đại lễ cho số đó; tức là đại lễ MỘT NGÀN. Nếu vì sính chữ thấy Thăng Long mang nghĩa hay mà lờ đi chữ khác và lờ Cổ Loa đi vì dính đến con số 1000 nằm ở chỗ nhạy cảm để làm đại lễ lần này thì thử hỏi lịch sử Việt Nam đâu có còn là sử?

Tính về việc trị vì thì nhà Lý ở Thăng Long cũng chỉ được có 216 năm; Cao Biền trước ở đó cũng chỉ được vài chục năm, đâu phải nhà Lý ở lâu mà phải làm lễ. Nhà Hậu Lê (Lê sơ và Lê trung hưng) cộng lại cũng hơn 356 năm và cũng đặt kinh đô ở Thăng Long sau khi dời từ Lam Kinh ra, tại sao lại không lấy mốc đó để làm đại lễ? Thời đó cũng nổi tiếng với Bình Ngô Đại Cáo và câu nói của vua Lê Thánh Tông “Ta phải giữ gìn cho cẩn thận, đừng để ai lấy mất 1 phân núi, 1 tấc sông do vua Thái Tổ để lại”. Thời nhà Lê với nhiều bộ luật tiến bộ ra đời cũng như việc mở mang bờ cõi được phát huy mạnh mẽ vậy chẳng lẽ không bằng nhà Lý. Cách so sánh khác cũng thú vị, đó là nhà Lý thực chất không kinh qua chiến tranh vệ quốc mà cướp được ngôi vương của nhà tiền Lê từ tay Lê Ngoạ Triều. Nhà Hậu Lê có công đánh giặc ngoại xâm và giành ngôi vương trong cuộc chiến giành độc lập. Vậy tại sao không là Lam Kinh – Hà Nội?

Nếu tính về tính xuyên suốt thì vùng đất Hà Nội cũng đâu có là nơi đặt kinh đô của triều Lê và Nguyễn? Triều Lê đã có kinh đô mới là Tây Đô còn triều Nguyễn là Huế. Rõ ràng tính xuyên suốt của việc kinh đô luôn nằm trên đất Hà Nội là khó chấp nhận được để làm đại lễ. Các triều đại phong kiến định đô rồi dời đô là chuyện thường tình, đâu vì lẽ nhà Lý dời đô đến khu đất cũ của “Cao Vương” mà lại được coi là việc tốt độc nhất vô nhị? Thăng Long thành cũng bị đốt phá bao phen; các vị vua cũng đã bao lần phải bỏ thành chạy giặc phương Nam lẫn phương Bắc đó thôi.

Việc chọn thời gian để hành lễ cũng mang tính chất quá cẩu thả. Lý Công Uẩn viết chiếu dời đô vào mùa xuân năm 1010 và đến Tháng 7 thì dời đô. Ngày xưa cũng như nay việc lễ lạt, cúng bái tổ tiên… đều theo âm lịch và phải đúng ngày, việc chọn kỷ niệm vào Tháng 10 Dương lịch là hoàn toàn sai lệch về mặt tích cổ. Nên nhớ rằng cứ đến 10/3 âm lịch là dân ta nhớ đến giỗ tổ chứ không phải bất cứ ngày nào khác.

Xét tất cả những yếu tố tích cổ và so sánh giữa các lý do để tổ chức đại lễ thì hoàn toàn không nên làm đại lễ Thăng Long- Hà Nội. Chỉ có một lý do duy nhất để làm đại lễ này ở 1000 năm, đó là đổi tên Hà Nội thành Thăng Long thì may ra mới hợp. Mặt khác, thời điểm nhạy cảm hiện nay với Trung Quốc về mặt toàn vẹn lãnh thổ ở biên giới, biển, Hoàng Sa, Trường Sa… mà dựa vào bản “Chiếu dời đô” không có tinh thần độc lập dân tộc và lại tổ chức khai mạc vào 1/10 là ngày quốc khánh Trung Quốc thì thử hỏi có nên không?

Nguyễn Phương Anh

Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam

Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam

Trúc Lâm Lê An Bình biên khảo; Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc hiệu đính

– Thiên tài quân sự theo định nghĩa của Tự Điển Hán Việt của Đào Duy Anh trang 160 và 468 là,
Thiên tài: tài năng trời sinh
Quân sự: việc binh

– Trong Việt Nam Tự Điển quyển hạ (trang 1565 v à 1200) của các tác giả Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ cùng một nhóm văn hữu soạn, có ghi,
Thiên tài: Tài năng trời cho, không phải học hỏi hay tập-rèn nhiều mà vẫn giỏi hơn người: Đó là một thiên-tài của đất nước.
Quân sự: Việc quân, việc đánh giặc.

Cụm từ Thiên tài quân sự hay Thiên tài quân sự Việt Nam có hai ý nghĩa khác nhau.

1/ Thiên tài quân sự người có khả năng điều binh khiển tướng trời cho của thế giới.

2/ Thiên tài quân sự Việt Nam người có khả năng điều binh khiển tướng trời cho của Việt Nam cũng như của thế giới.

Một Thiên Tài Quân Sự là một vị Tướng có tài dụng binh như thần, có mưu lược sâu xa, có trí tuệ phán đoán tình hình đúng thời đúng lúc hơn nữa còn có tình thương (tức lòng NHÂN) với binh lính dưới quyền. Vị Tướng đó biết chăm sóc đời sống cho lính, không xem binh lính dưới quyền là nấc thang để bản thân leo lên địa vị tối cao, mà xem họ như những người thân trong gia đình, biết quý trọng xương máu binh lính, biết tìm cách bảo vệ tối đa sinh mạng binh sĩ mà vẫn tạo nên những chiến thắng lẫy lừng để lại tiếng thơm cho mai sau. Hơn nữa người cầm quân ngoài mặt trận phải là người có tinh thần dân tộc cao độ, chỉ một lòng vì tổ quốc và dân tộc chiến đấu chứ không vì bất kỳ tổ chức hay đảng phái nào.

Có được Đạo của người làm tướng, cũng như  khả  năng điều quân trời cho mới thực sự  là Thiên Tài Quân Sự thật sự và cũng là Thiên tài Quân Sự Việt Nam.

Cho nên mới có câu

Nhất tướng công thành vạn cốt khô

Không cần nhiều cốt khô, nhưng vẫn công được thành, ấy chính là Thiên Tài Quân Sự.

Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm thành Thăng-Long cũng như ngày giỗ lần thứ 35 Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu nguyên Tư  lịnh phó Quân đoàn III quân khu III – Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa – bị ám sát ngày 8 tháng 04 năm 1975, Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam và Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử tôn xưng Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam (nghĩa là bốn bậc tướng lãnh lớn của Việt Nam có tài điều binh khiển tướng của trời cho):

1/ Đức Vua Trần Nhân Tông

(1258-1310) Hoàng Đế Đại Việt. Hai lần thống lãnh quân dân Đại Việt phá tan quân Mông-cổ xâm lược 1285-1288; Người sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một dòng thiền hoàn toàn của Đại Việt. Ngài được người đời sau tôn xưng là Phật Hoàng Trần Nhân Tông.

Ngài có để lại cho đời sau các tác phẩm văn học như:

Chữ Tàu:
– Tăng Già Toái Sự.
– Thạch Thất Mị Ngữ.
– Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục.
– Trúc Lâm Hậu Lục.
– Ðại Hương Hải Ấn Thi Tập.

Chữ Việt (Nôm)
– Cư Trần Lạc Ðạo Phú.
– Ðắc Thú Lâm Tuyền Thành Ðạo Ca.

2/ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn 

( 興道大王陳國峻, 1232? – 1300) là danh tướng thời nhà Trần, có công lớn ba lần phá tan quân Nguyên xâm lược 1257, 1285, 1288.

Được phong Quốc công, tiết chế thống lĩnh tất cả các sắc quân tháng 10 năm 1283.

Là tác giả của bài Hịch Tướng Sĩ, bộ Binh Thư Yếu Lược (hay Binh Gia Diệu Lý Yếu Lược) và Vạn Kiếp Tông Bí  Truyn Thư (đã thất lạc). Ngài được dân Việt tôn sùng như bậc thánh, nên gọi là Đức Thánh Trần. Ngài còn được tín ngưỡng là một trong những vị thánh của dòng Đạo Nội là một Đạo giáo dân tộc.

Trong dân gian có câu:

Cha đây là Đức thánh Trần Hưng Đạo Đại vương, còn Mẹ là Tiên chúa Liễu Hạnh.

Tháng 2 năm 1984, Hội Hoàng Gia Anh, tức là viện Khoa Học Hoàng Gia Anh bầu ra 10 vị Tướng soái kiệt xuất nhất trong lịch sử nhân loại qua các thời đại. Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là vị Tướng Soái duy nhất được chọn với tuyệt đại đa số của thời trung cổ. Ngài đã từng ba lần đánh bại một đoàn quân mạnh nhất thế giới trải từ Âu sang Á, đó là Mông Cổ.

3/ Quang Trung Hoàng Đế Nguyễn Huệ

Nguyễn Huệ (阮惠; 1753 – 1792), còn được biết đến là Quang Trung Hoàng đế (光中皇帝), vua Quang Trung hay Bắc Bình Vương, là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn (ở ngôi từ 1788 tới 1792) sau Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc. Ông là một trong những lãnh đạo chính trị tài giỏi với nhiều cải cách xây dựng đất nước, quân sự xuất sắc trong lịch sửViệt Nam với những trận đánh trong nội chiến và chống ngoại xâm chưa thất bại lần nào. Do có nhiều công lao, Nguyễn Huệ cũng được xem là người anh hùng áo vải của  tộc Việt.

Nguyễn Huệ và hai người anh em của ông, được biết đến với tên gọi Anh em Tây Sơn, là những lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài giữa họ Trịnh ở phía Bắc và họ Nguyễn ở phía Nam, cũng như chấm dứt nhà Hậu Lê. Ngoài ra, Nguyễn Huệ còn là người đánh bại các cuộc xâm lược Đại Việt của Xiêm La từ phía Nam, của Đại Thanh (Trung Quốc) từ phía Bắc; đồng thời còn là người đề ra nhiều kế hoạch cải cách tiến bộ xây dựng Đại Việt.

Sau khi phá tan 20 vạn quân nhà Thanh, Quang Trung Hoàng Đế sắp xếp kế hoạch Bắc tiến lấy lại hai vùng đất Quảng Đông và Quảng Tây của Việt Nam; cũng như Nam chinh để tiêu diệt Nguyễn Ánh. Nhưng cả hai kế hoạch đều không thực hiện được.

Sau 20 năm liên tục chinh chiến và trị quốc, Nguyễn Huệ lâm bệnh và đột ngột qua đời ở tuổi 40. Sau khi ngài băng hà, nhà Tây Sơn suy yếu nhanh chóng. Những người kế thừa của Nguyễn Huệ không thể tiếp tục những kế hoạch ông đã đề ra để cai trị nước Đại Việt, lâm vào mâu thuẫn nội bộ và thất bại trong việc tiếp tục chống lại kẻ thù của Tây Sơn. Diệt Tây Sơn, nhà Nguyễn đã thừa hưởng được những thành quả của phong trào Tây Sơn – với đóng góp to lớn của Nguyễn Huệ – trong việc thống nhất đất nước.

Những cải cách lớn lao của Quang Trung Hoàng Đế :

1/ Thu hút nhân tài:

Trong Chiếu cầu hiền có đoạn:
“Trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng thấy đến. Hay Trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự?… Trẫm nơm nớp lo nghĩ, một ngày hai ngày cũng có hàng vạn sự việc nảy sinh Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn – sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình – sức một người không thể đảm đương”.

Các cựu thần nhà Lê trước đây, tiêu biểu là các tiến sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Nễ, Nguyễn Huy Lượng, Bùi Dương Lịch… đã ra giúp nhà Tây Sơn. La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp sau nhiều lần thoái thác, cuối cùng cũng nhận lời xuống núi giúp vua Quang Trung.

2/ Giáo dục:

Quang Trung bỏ Hán ngữ như là ngôn ngữ chính thức trong các văn bản của quốc gia. Ngôn ngữ chính thức được sử dụng là tiếng Việt và được viết trong các văn kiện hành chính bằng hệ thống chữ Nôm.[56] Quang Trung quy định các bài hịch, chiếu chỉ phải soạn bằng chữ Nôm; đề thi viết bằng chữ Nôm, và các sĩ tử phải làm bài bằng chữ Nôm. Ngài còn chủ trương thay toàn bộ sách học chữ Hán sang chữ Nôm nên năm 1791 đã cho lập “Sùng chính viện” để dịch kinh sách từ Hán sang Nôm.[56]

Theo sách Tây Sơn lược thuật, ông chọn một quan văn “5 ngày một lần vào cấm cung để giảng giải kinh sách”.[56] Ngoài ra, vua Quang Trung quan tâm đưa việc học đến tận thôn xã. Trong “Chiếu lập học” ông lệnh cho các xã::[56]“Phải chọn Nho sĩ bản địa có học thức, có hạnh kiểm đặt làm thầy dạy, giảng tập cho học trò”.

3/ Tôn giáo:

Quang Trung có một chính sách tôn giáo rất tự do và rộng rãi: dù là người đề cao Nho giáo nhưng ông vẫn bảo đảm hoạt động cho các tôn giáo khác như Phật giáo và các tín ngưỡng khác. Về Thiên Chúa giáo, các giáo sĩ tự do hoạt động, truyền đạo, xây dựng nhà thờ. Nhưng đồng thời ông cũng thi hành chính sách bài trừ mê tín dị đoan rất mạnh, chấn chỉnh lại việc tu hành: nhiều chùa ở các làng có mà người tu hành lạm dụng để truyền bá mê tín dị đoan bị đập bỏ để xây duy nhất một ngôi chùa ở huyện cấp trên, đồng thời những người tu hành không đạo đức, những kẻ lưu manh, lười biếng đều phải hoàn tục.

4/ Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu

Nguyên Thiếu tướng tư lịnh phó Quân đoàn III – Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa – sau khi bị ám sát chết ngày 08/04/1975 tại văn phòng Tư lịnh phó Quân đoàn, ngày 10/4/1975 ông được vinh thăng Trung Tướng.

Thân phụ của Tướng Hiếu là ông Nguyễn Văn Hướng sinh ngày 26.9.1903 và Tướng Nguyễn Văn Hiếu sinh ngày 23.6.1929 tại Thiên Tân, Trung Hoa!

Đến tháng 5 năm 1949, Tướng Hiếu hồi hương cùng thân phụ và theo học Khóa 3 (khóa Trần Hưng Đạo) trường Võ Bị Liên Quân Đà-Lạt và mãn khóa ngày 1.7.1951.

Ông thông thạo nhiều sinh ngữ quan trọng như Anh, Pháp, Đức và Quan Thoại.

Sau khi tốt nghiệp, Tướng Hiếu về phục vụ tại Phòng 3 Tổng Tham Mưu, Chợ Quán.

Ngày 15.8.1957 với cấp bậc Thiếu Tá, được cử ra làm Trưởng Phòng 3 Sư Đoàn 1 Bộ Binh ở Huế.

Đi học Khóa Chỉ Huy và Tham mưu Cao cấp ở Ft Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ, và tốt nghiệp ngày 10.5.1963.

1.6.1963 được thăng Trung Tá và làm Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 1 dưới quyền của Đại Tá Nguyễn Cao Trí.

– Sĩ Quan Tham Mưu (7/1953- Đại tá Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn I 11/11/1963; 12/1963-09/1964; Tham Mưu Trưởng quân đoàn II 24/10/1964-06/1966)

– Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh (11/1963-12/1963)

– 1.11.1967 được thăng Chuẩn Tướng và ngày 1.11.1968 được thăng Thiếu Tướng.

– Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh (07/9/1964-10/1964; 23/6/1966-8/1969)

– Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh (14/8/1969-6/1971)

Ông là một trong những vị Tướng được thăng cấp cao trong quân đội là nhờ tài năng tham mưu thiên phú từ cấp cơ bản và từ đơn vị nhỏ đi dần lên.

Tướng Hiếu còn một khả năng thiên phú quân sự khác đó là phối hợp bộ binh thiết giáp. Phương thức phối hợp không thua gì tướng George S. Patton của Quân đội Hoa Kỳ trong thế chiến thứ hai.

Là người có cuộc sống đơn giản thanh bạch, không khoa trương ồn ào, điềm tĩnh và khiêm nhường trong bóng tối, đã là một cặp chiến tướng kiệt xuất với Tướng Đỗ Cao Trí hết sức hiểu ý nhau trong binh ngũ. Hai vị Tướng đều tương kính nhau và đã đưa quân lực Việt Nam Cộng Hòa gặt hái nhiều chiến công vang dội.

Sở trường của Thiếu Tướng Hiếu là chiến thuật nhử địch lộ diện để tiêu diệt. Nổi bật là cuộc hành quân Snoul, 1971 ở Cao Miên. Nhưng chiến thuật dụ địch tuyệt vời này lại không thành công vì thượng cấp của ông là Tướng Minh thay đổi ý kiến vào phút chót.

Đại để là cuộc hành quân Toàn Thắng 02/71 sẽ được tổ chức từ tháng 3.1971 đến tháng 6.1971, Thiếu Tướng Hiếu sẽ dùng Trung Đoàn 8 Bộ Binh của SĐ5BB nhử địch trong khu vực Snoul. Nếu Sư Đoàn 5 Bắc Việt chấp nhận giao tranh và tung các Trung Đoàn 174 và 275 đánh Trung Đoàn 8, Quân Đoàn III sẽ sử dụng lập tức từ một đến ba sư đoàn bao vây tiêu diệt Sư Đoàn 5 Việt cộng.

Tướng Đỗ Cao Trí có đề nghị Bộ tổng tham mưu cử Tướng Hiếu làm tư lịnh Quân đoàn III thay thế ông, nhưng không được chấp nhận. Và  khi ông rời QĐ III nhậm chức Tư lịnh QĐ I thì tử nạn trực thăng.

Tướng Nguyễn Văn Minh được đề cử thay thế. Tướng Minh là Tướng văn phòng không phải tướng trận mạc, nên không mặn mà với kế hoạch dụ địch trước đó. Chiến thuật dụ địch không thay đổi, chỉ thay đổi ở chỗ dùng B52 diệt địch quân (áp lực của cố  vấn Mỹ) thay vì dùng ba sư đoàn bộ  binh để  diệt địch. Thiếu Tướng Hiếu lưu ý Tướng Minh, rằng dùng B52 rải bom không những giết chết binh sĩ việt cộng mà còn tàn sát luôn Trung Đoàn 8 VNCH, như vậy cái giá của chiến thắng là sinh mạng của hàng ngàn chiến sĩ Trung Đoàn 8 Bộ Binh. Đánh giặc theo kiểu giết người hàng loạt như vậy thì quá dễ, ngây ngô và vô nhân đạo quá.  Chính vì lòng NHÂN đối với binh sĩ dưới quyền mà Tướng Hiếu đã cưỡng lịnh cấp trên rồi bị trừng phạt.

– Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 1 (6/1971-2/1972)

– Thứ Trưởng Bài Trừ Tham Nhũng (2/1972-12/1973)

– Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 3 (29/10/1973-08/4/1975)

Các Chiến Công hiển hách của Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu:

– Quyết Thắng 202 (Đỗ Xá), 1964
– Pleime, 1965
– Thần Phong II, 1965
– Liên Kết 66
– Đại Bàng 800, 1967
– Toàn Thắng 46, 5-1970
– Toàn Thắng 8/B/5 , 10-1970
– Toàn Thắng TT02, Snoul 1971
– Svay Riêng, 1974
– Phụ tá đặc trách ủy ban chống tham nhũng, 2-1972-10-1973

Trúc Lâm Lê An Bình biên khảo tháng 03/2010; Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc hiệu đính tháng 02/2011.

Tham khảo:
– Đức Vua Trần Nhân Tông – Trúc Lâm Lê An Bình biên khảo
– Trang nhà Nguyễn Tín
– vi.Wikipedia.org

Ngân hàng, tổ chức tài chính Việt Nam – lịch sử phát triển

Sự ra đời của ngân hàng (Tổ chức tín dụng):

Ngân hàng ra đời từ một công việc rất đơn giản của việc giữ tài sản có giá trị cho chủ sở hữu của mình nhằm tránh những  thiệt hại. Đổi lại, chủ sở hữu phải thanh toán cho người giữ. Khi nhiệm vụ này mang lại nhiều lợi ích cho người gửi, mọi thứ cần được phân phối nhiều hơn và nhiều hơn nữa. Dần dần, các ngân hàng là nơi để kiếm tiền cho người dân bằng tiền.

tài chính ngân hàng

Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu tiền tăng lên, điều đó có nghĩa là nhu cầu cho vay trong xã hội ngày càng tăng. Với số tiền trong tay, người có tiền cần phải vay tiền vì số tiền trong tay của họ không phải lúc nào cũng đòi hỏi, đó là sự khác biệt về số tiền. Phải gửi và số tiền thu hồi từ chủ sở hữu. Đó là hoạt động cơ bản đầu tiên của một ngân hàng, gọi chung, nó là gây quỹ và cho vay ( mà ngày nay phát triển ra với nhiều hình thức như vay tín chấp, vay thế chấp giấy tờ nhà, vay nóng, vay trả góp)

Ngân hàng Trung ương Việt Nam

Ngân hàng trung ương (đôi khi được gọi là ngân hàng dự trữ hoặc các tổ chức tài chính) là các cơ quan chuyên trách về quản lý tài chính của các quốc gia / nhóm / quốc gia và chịu trách nhiệm quản lý tài chính. Chính sách tiền tệ Mục đích của ngân hàng trung ương là ổn định các giá trị tiền tệ, ổn định cung tiền, kiểm soát lãi suất và giúp giảm nguy cơ sụp đổ của các ngân hàng thương mại. Hầu hết các ngân hàng trung ương thuộc về nhà nước. Nhưng vẫn còn một mức độ độc lập của chính phủ.

Ngân hàng thương mại cổ phần

Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính cho vay tiền từ người gửi và cho vay đối với các công ty, cá nhân nộp các tài sản, nợ phải trả cho các công ty, cá nhân vay, cũng như tiền gửi tại các ngân hàng khác và số lượng trái phiếu ngân hàng sở hữu có. Tài sản đó Chênh lệch giữa số tiền được huy động và số tiền mượn, gửi vào ngân hàng và mua được gọi là vốn. Tài sản lưu động đã được tổ chức để ngăn chặn tiền gửi được gọi là dự trữ ngân hàng. Tổng vốn của ngân hàng được chia thành hai loại: vốn cấp 1 và vốn cấp 2.

Các ngân hàng tiêu biểu ngày nay và lịch sử

Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín – (hay còn được gọi là Sacombank) Trên 210 chi nhánh và phòng giao dịch tại 44 tỉnh thành trong cả nước. Được đánh giá và xếp loại A (loại cao nhất) trong bảng xếp loại của Ngân hàng Nhà nước cho năm 2006 và xếp thứ 4 trong ngành tài chính tại Việt Nam do chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP đánh giá cho năm 2007. Sáp nhập với ngân hàng Phương nam.

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – (tên giao dịch quốc tế là Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development, viết tắt là AGRIBANK) là ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam tính theo tổng khối lượng tài sản.

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – (tên giao dịch quốc tế: Bank for Investment and Development of Vietnam; tên gọi tắt: BIDV) là ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam.

Ngân hàng Á Châu- ACB – (tên giao dịch bằng tiếng Anh: Asia Comercial Bank) được thành lập vào ngày 24 tháng 4 năm 1993, và chính thức đi vào họat động kinh doanh sau ngày 4 tháng 6 năm 1993.

Ngân hàng Hàng hải – (hay còn được gọi là Maritime Bank) thành lập ngày 12/07/1991 tại TP Cảng Hải Phòng, là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên ở nước ta.

Tổng hợp từ nhiều nguồn

Tiền đề ra đời, phát triển của tài chính

Tài chính là một loại hình kinh tế – Lịch sử Sự tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của con người. Từ toàn bộ lịch sử phát triển tài chính xảy ra chúng ta thấy: sự ra đời của tài chính và sự hiện diện của các điều kiện lịch sử nhất định khi những hiện tượng kinh tế xã hội xuất hiện nhiều nhất. Đã xảy ra và sống sót Có thể xem các hiện tượng kinh tế xã hội, mục đích của nó là mục đích sống còn và phát triển tài chính.

Karl Marx trong Nghiên cứu Kinh tế Chính trị đã chỉ ra hai điều kiện tiên quyết cho tình trạng khẩn cấp, tình trạng khẩn cấp và sự tồn tại của các bang, sự xuất hiện và phát triển của các thị trường hàng hóa hàng hoá.

Giả định đầu tiên: Sự tồn tại của nhà nước

Ở dạng nhà nước xã hội chủ nghĩa, tài chính tồn tại như là một công cụ trong tay nhà nước để phân phối thu nhập xã hội và thu nhập quốc gia để đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. Nhà nước đầu tiên trong xã hội con người là nhà nước nô lệ, cùng với Sự nổi lên và sự tồn tại của các hình thức tài chính ban đầu, như thuế, bắt đầu nổi lên.

F. Enghen viết rằng: “Để bảo vệ quyền lực công cộng, đòi hỏi sự đóng góp của một công dân nhà nước phải đóng thuế. Với sự tiến bộ của nền văn minh, bản thân thuế không còn nữa; Chính phủ cũng ban hành một dự thảo trái phiếu, sẽ phát hành trái phiếu ”
Trong các hệ thống xã hội phát triển, các quốc gia có trách nhiệm xã hội trong mọi lĩnh vực, bao gồm kinh tế, văn hoá, giáo dục, bảo vệ … tất cả sẽ tăng cường tài chính của họ.
Như vậy có thể nói, trong những điều kiện lịch sử nhất định, khi xuất hiện, sự tồn tại và hoạt động của nhà nước, bản chất, sự tồn tại và hoạt động của tài chính.

Giả thuyết thứ hai: sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hoá.

Lịch sử phát triển tài chính cho thấy rằng khi mô hình tài chính đầu tiên xuất hiện trong tình trạng của nền kinh tế (thuế), sự nổi lên và sự tồn tại của sản xuất hàng hoá – tiền tệ và các mô hình tiền tệ. Việc sử dụng các mối quan hệ tài chính là cần thiết.

Trong chế độ nô lệ, các biện pháp tài chính đã được thiết lập. (Ví dụ, thuế quan, thuế, thuế gián tiếp, thuế thị trường, thuế tài sản, vv) trong hệ thống phong kiến, phù hợp với sự mở rộng quan hệ thị trường, sản xuất hàng hoá và tài chính, các lĩnh vực tài chính đã mở rộng và lan rộng hơn. (Chẳng hạn như đánh thuế gián tiếp về đất đai). Thu mua hàng tiêu dùng, thuế hộ gia đình, vv).

Với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế hàng hoá – thu nhập tài chính thông qua tiền và thuế đã trở thành nguồn thu nhập chính cho nhà nước. Bằng cách kiếm tiền, việc chi tiêu tiền đã làm tăng mẫu chi tiêu và linh hoạt trong khi sử dụng các khoản tiền. Vào thời kỳ phát triển kinh tế tư bản, một trong những ngân sách nhà nước tập trung của hệ thống tài chính tập trung là có hệ thống hơn và quan trọng hơn trong việc phân phối của cải xã hội. Về mặt giá trị

Phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều hơn, giá trị tiền tệ sẽ trở thành hình thức chính của doanh thu và chi tiêu của chính phủ. Sản phẩm kinh tế – Tiền đã mở rộng phạm vi của các mối quan hệ tài chính. Chủ nghĩa tư bản được sinh ra và phát triển. Giá trị tiền tệ của các mối quan hệ tài chính là một yếu tố trong bản chất của tài chính.

Vì vậy, sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hoá là điều kiện tiên quyết cho sự nổi lên và phát triển của tài chính.

Khi nói đến vị trí của tài chính, một số nhà lý luận kinh tế nhấn mạnh đến tiền đề đầu tiên đó là tập trung vào sự tồn tại của nhà nước. Nhưng một số nhà kinh tế không đồng ý. Các nhà kinh tế này cung cấp các ví dụ về các quốc gia Khmer không ý thức được nền kinh tế hàng hoá, vì vậy không có cơ sở tài chính. Nhiều nhà kinh tế tập trung vào điểm dị thường thứ hai. Những nhà kinh tế này nhấn mạnh sự nổi lên và sự tồn tại của đồng tiền và lập luận rằng đây là điều kiện tiên quyết cho sự nổi lên và sự tồn tại của vốn. Những lý thuyết này đề cập đến nền kinh tế xã hội chủ nghĩa khi các xã hội không chấp nhận hàng hóa. Nhưng tiền tệ đã tồn tại, vì vậy nó vẫn có cơ sở tài chính.

_ Tài chính Hana sưu tầm_

Khởi Nghĩa Lam Sơn – Phần II

Khởi Nghĩa Lam Sơn

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt và sự thành lập nhà Hậu Lê.

Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn:

Hoạt động ở vùng núi Thanh Hoá(1418-1423)

Tiến vào phía nam (1424-1425)

Và chiếm lại Đông Quan (1426-1427).

Khởi nghĩa Lam Sơn – Phần I

Khởi Nghĩa Lam Sơn

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt và sự thành lập nhà Hậu Lê.

Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn:

Hoạt động ở vùng núi Thanh Hoá(1418-1423)

Tiến vào phía nam (1424-1425)

Và chiếm lại Đông Quan (1426-1427).

NDLS: Hồ Nguyên Trừng và Nguyễn An

Súng Thần Công - Hinh tu NET
NDLS: Hồ Nguyên Trừng và Nguyễn An

Chân thành cảm tạ Bác Lê Thu và anh Triển Chiêu đã khích lệ và cho info để chúng tôi thực hiện chương trình này

 

Hồ Nguyên Trừng (1374-1446) tự Mạnh Nguyên, hiệu Nam Ông, là con trai cả của Hồ Quý Ly, anh của Hồ Hán Thương.

Hồ Nguyên Trừng là một tướng tài có công trình quân sự lỗi lạc và là người phát minh Thần cơ hỏa sang, một loại súng trường lúc bấy giờ. Khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, Hồ Nguyên Trừng giữ chức Tả tướng quốc, thời nhà Hồ.

Sau thất bại trong cuộc chiến chống quân nhà Minh, ông cùng cha bị bắt ở Hà Tĩnh rồi bị mang về Tầu năm 1407. Hồ Quý Ly bị làm lính còn Hồ Nguyên Trừng vì có tài đúc súng nên được cho làm quan trong triều đình Trung Hoa.

***********

Nguyễn An (1381-1453), người Tầu còn gọi ông là A Lưu, một  kiến trúc sư thời Hồ Quy Ly. Ông chỉ huy chương trình xây cất  Tử Cấm Thành Bắc Kinh cùng với Cai Xin, người Tầu.   Ông cũng tham gia trị thủy hệ thống sông Hoàng Hà.

Nguyễn An sinh năm Tân Dậu, quê ở vùng Hà Đông  nay thuộc địa phận thành phố Hà Nội. Khi gần 16 tuổi (khoảng năm 1397), thời vua Trần Thuận Tông nhà Trần, ông đã tham gia các hiệp thợ xây dựng cung điện ở kinh thành Thăng Long nhà Trần. Năm 1407, nhà Minh bên Tầu sang đánh bại nhà Hồ, nước ta, vàchiếm được Việt Nam. Tướng nhà Minh là Trương Phụ, ngoài việc bắt cha con Hồ Quý Ly cùng toàn bộ triều đình nhà Hồ đem về Tầu, còn lùng bắt các thanh thiếu niên trai trẻ tuấn tú của Việt Nam mang về chọn để hoạn làm Thái giám phục vụ trong cung vua nhà Minh. Trong số này có nhiều người sau trở nên nổi tiếng vì tài giỏi như: Nguyễn An, Vương Cần,…