Trường Việt Ngữ Hùng Vương: Sự Thành Ý và Tâm Hồn Việt

Cách đây khoảng một năm, Cô Túc Trí có email cho tôi nói tôi phải viết một bài cho số đặc san Trường Hùng Vương.  Bẵng đi một thời gian không thấy Cô nhắc đến tôi tưởng đặc san đã hoàn tất nhưng không ngờ tháng Tư vừa rồi Cô lại nhắc nữa.  Té ra là Đặc San xuất bản vào năm 2011 chứ không phải 2010 như tôi tưởng.  Tôi ngại ngùng viết, không phải vì khiêm cung đâu, nhưng một phần vì lười viết, một phần vì thấy ‘tài nghệ’ của mình ngày thêm sa sút, tối ngày chỉ đợi về hưu, ‘gác tay rửa kiếm’,  nên chẳng biết viết gì xứng đáng cho người đọc.   Nghe tôi trình bày tự sự,  Cô Túc Trí ra lệnh: “Anh cứ viết đi, viết gì cũng được, chữ A, chữ  C cũng được”.  Thôi đành tuân lệnh vậy, cung kính bất như tùng, các cụ vẫn dậy như thế.  Xin  viết 3 chữ, ‘lời quê góp nhặt dông dài’,  để quí vị đọc chơi giải trí. 

Chữ A: Tôi trở thành giáo viên trường Việt Ngữ Hùng Vương một phần vì tính nể vợ và một phần vì tính dễ bị thuyết phục của tôi trước những sự nhiệt tình của bạn bè.  Nếu tôi nhớ không lầm thì khoảng cuối năm 1988 bà xã tôi quyết định dẫn 2 cháu Alex và Dĩ An đi học Việt Ngữ tại Trường Hùng Vương, chẳng bao lâu thì Bà xã tôi cũng trở thành Cô giáo Hùng Vương.  Ngày xưa “Phu Xướng Phụ Tùy”, bây giờ “Phụ Xướng Phu Tùng”,  thì tôi cũng không ngoài lệ đó.  Tôi trở thành tài xế ngoan, sáng Chủ nhật nào cũng chở cả nhà đến trường Hùng Vương, lúc đó còn ở Đại học St. Thomas.  Sau một thời gian chừng vài tuần chờ đón vợ con về sau giờ tan học, tôi cảm thấy hơi dư thừa nên tìm hiểu thêm về Trường.  Các Thầy Cô lúc đó đa số còn là sinh viên, làm việc rất hăng say và lý tưởng với tất cả Thành Ý.  Việc tuyển chọn Thấy Cô cũng khó khăn, phải dạy thử, phải khai lý lịch đàng hoàng.  Mỗi ngày vô sở làm đều nghe Cô Vân Anh thuyết phục làm thầy giáo Hùng Vương, vì lúc đó Vân Anh làm chung sở và đang là trưởng ban Giảng Huấn của trường Hùng Vương thì phải.  Rồi một buổi sáng, không biết có đẹp trời không mà tôi cũng điền hồ sơ lý lịch xin làm thầy giáo.  Tiếp sau đó là các thầy cô phỏng vấn, bắt dạy thử cho các thầy cô chấm điểm giống như thi tuyển ca sĩ vậy đó.  Tôi còn nhớ, người lý tưởng và khó nhất có lẽ là Cô Chiêu.  Ấy thế mà tôi cũng được các Thầy Cô chấm điểm nhận vào giáo ban.

Chữ B:  Hồi đó tuyển chọn giáo viên rất khó.  Các chức vụ trong ban điều hành, ban giảng huấn được chọn lựa gay go lắm, có bầu bán, tranh cử đàng hoàng.  Tôi rất phục tinh thần hy sinh của các Thầy Cô trẻ, lúc đó đều là sinh viên.  Một hồi sau hình như các Thầy Cô trẻ có vẻ mệt mỏi.  Khoảng năm 1990 Thầy Thắng làm Hiệu trưởng đã 2 năm mà chưa ai ứng cử ra thay và lúc đó tôi là giáo viên già nhất, có lẽ là người duy nhất có gia đình.  Tôi rất cảm động các thầy cô coi tôi như người anh lớn trong gia đình.  Cô Hoài Anh đặt cho tôi cái chức Anh Cả và cho đến bây giờ mỗi lần gặp lại, Hoài Anh vẫn gọi tôi là Anh Cả.  Các Thầy Cô túm lại thuyết phục tôi làm Hiệu Trưởng và dĩ nhiên tôi đã được làm anh Cả thì phải làm Hiệu Trưởng.  Sau một năm tôi làm Hiệu Trưởng tôi bị gia hạn 2 năm cho đến khi tôi cũng mệt mỏi vì công việc trong sở làm nên nhất định xin từ chức thì lúc đó Thầy Thuận lên làm Hiệu trưởng.  Khỏang thời gian 1990-1992, các Thầy Cô lần lượt tốt nghiệp đại học, ra trường hoặc lập gia đình hoặc đi làm xa nên Thầy Cô rất thiếu. Trong thời gian làm hiệu trưởng tôi làm một sự thay đổi khá lớn để đáp ứng nhu cầu giáo viên cho trường là tìm cách tuyển chọn giáo viên ngay trong hàng ngũ phụ huynh và cho các em học sinh xuất sắc lớp lớn nhất làm phụ giáo để các em có cơ hội tiếp tục học thêm cũng như phụ giúp các Thầy Cô.  Sự thay đổi này khá thành công, các em phụ giáo làm việc hăng say và thấy việc học Việt Ngữ có một kết quả nào đó và làm các em rất hãnh diện.  Các phụ huynh mang một luồng gió mới vào trường, một sự cộng tác đắc lực hơn.  Nếu những thầy cô trẻ mang không khí trẻ trung vào lớp học thì các vị phụ huynh lại có những kinh nghiệm dạy con và cái uy mà các thầy cô trẻ độc thân chưa có hay chưa thông cảm.  Theo thiển ý, hai yếu tố này dung hòa phụ trợ nhau rất là hợp lý mà ít trường Việt Ngữ nào có ngoài trường Hùng Vương.

Tôi nhớ mãi là hai vị thầy rất đặc biệt của Trường là Thầy Dỵ và Thầy Đạo. Có lẽ Bác Sĩ Nguyễn Tiến Dỵ là vị thầy chăm chỉ và dậy kỹ nhất trường, khó nhất trường từ xưa tới nay và cô Chiêu dù khó nhưng thua xa thầy Dỵ.  Từ khi Thầy Dỵ vào trường thì tôi vui mừng nhường chức già nhất cho thầy.  Học trò sợ thày đã đành mà phụ huynh cũng sợ thầy luôn, vì khó theo được sự đòi hỏi nghiêm túc của thầy. Thầy dậy các em học sinh Hùng Vương không khác gì các sinh viên y khoa của thầy trong Trung Tâm Y Khoa M.D Anderson.  Thầy soạn bài kỹ hơn bất cứ ai trong trường.  Cũng nhờ vậy mà học trò nào qua được lớp thầy Dỵ đều là học trò giỏi của Hùng Vương.  Thầy Bùi Văn Đạo lại là một thái cực khác.  Học trò rất mê học với thầy Đạo vì thầy là một con người có thể gọi là rất xuề xòa, dễ dãi về mọi mặt nhưng rất nhiệt tình.  Thầy Đạo làm tôi nhớ đến các thiền sư phá cách, rảnh tay xuống núi, không coi quan trọng vẻ bề ngoài.  Thầy Đạo dậy rất tận tâm nhưng không hề gó ép, những  em học trò ‘ba gai’ lại rất thích thầy và trở thành học trò giỏi.  Nhiều vị phụ huynh lúc chưa biết thầy có đến than phiền với tôi tại sao lại để một người ‘lè phè’ như vậy dạy học trò.  Họ không thể ngờ rằng trong cái vẻ ‘lè phè’ đó là một con người nhiệt thành với tuổi trẻ, một tiến sĩ đại học Berkley của Hoa kỳ và đã cải hóa nhiều con ngựa chứng trong sân trường Hùng Vương. 

Chữ C:  Với tôi, những ngày làm việc tại Trường Hùng Vương là những ngày rất vui và có ý nghĩa.  Tôi hân hạnh gặp các bạn trẻ và các phụ huynh có nhiều thiện chí cho tôi những cảm tình thân thương mà tôi luôn luôn trân quý. Trong mấy chục năm qua, có em học sinh rất giỏi tiếng Việt, có em học đâu quên đó, nói tiếng Việt vẫn ngọng nghịu.  Nhưng theo tôi, tất cả các em đếu có thêm một chút Việt Nam trong người, giữ lại trong các em tâm hồn Việt Nam.  Trong kỳ lễ tốt nghiệp tại đại học Texas ở Austin của cháu Dĩ An năm 2005, tôi được một sự ngạc nhiên thích thú vì có vài vị tân khoa áo mũ xêng xang đến khoanh tay cúi đầu chào tôi bằng tiếng Việt. Thì ra các em là học trò của tôi tại trường Hùng Vương trước đây.  Một phần thưởng tôi không ngờ.  Gần đây, tôi có dự một cuộc hội thảo tại Trung tâm Việt Mỹ và được nghe bác sĩ Phạm Gia Cổn là một người có nhiểu sinh hoạt văn hóa trong cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ, phát biểu rằng cái quan trọng là các em có còn tâm hồn Việt không chứ không phải là bắt buộc phải nói tiếng Việt lưu loát mới không bị mất gốc.  Cũng trong dịp này Giáo sư Nguyễn Văn Trường, một nhà giáo lão thành, nguyên là Bộ Trưởng Văn Hóa Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa trước biến cố 1975, đã nhấn mạnh, là người Việt, dù ở tuổi nào, dù ở đâu cũng cần đối xử với nhau với Thành Ý, nếu không xã hội Việt Nam ở mọi nơi sẽ là những xã hôi xây dựng trên sự dối trá và chúng ta sẽ mất gốc.  Tôi rất tâm đắc vói hai quan điểm này và tôi nghĩ các Thầy Cô trường Hùng Vương đã và đang có Thành Ý xây dựng một xã hội tương lai có những trẻ em  gốc Việt với đầy đủ tâm hồn Việt Nam.

Trong niềm hoài niệm tháng tư đen tôi tin tưởng những Tâm Hồn Việt Nam được gây dựng từ trường Việt Ngữ Hùng Vương sẽ tiếp tục đem Thành Ý xây dựng lại quê hương đang dẫy đầy sự dối trá đau thương.