Những Đoản Khúc Rời

image

1.

Chị qua đời vào một ngày lạnh lẽo cuối năm 2013. Sự ra đi của Chị làm tôi băn khoăn không ít. Những ngày cuối đời của chị, chúng tôi đến thăm rất thường.

Chứng kiến những cảnh mà tôi cho là rất bất nhẫn, tôi phải nói với em gái của tôi những ước muốn của mình, để mong những cảnh đau lòng trong đoạn cuối đời của Chị, sẽ không xảy đến cho gia đình nhỏ của tôi.

Lâu lắm rồi tôi không khóc trong đám tang nhưng lần này tôi đã không ngăn được dòng nước mắt khi nghĩ tới suốt cuộc đời của Chị đã chỉ biết lo cho chồng con, nhưng …

Tôi đang viết về chuyện này. Có lẽ phải lâu lắm mới hoàn tất vì tôi cần thời gian để bớt hằn học, chua cay.

Đầu năm, không dưng có một chú Downy Woodpecker đến gõ trên cây oak, trước cửa sổ  phòng làm việc của tôi. Chưa bao giờ tôi thấy loài chim này ở cây oak trong sân nhà từ ngày dọn vào đây hơn hai năm qua.

 

2.

Sau bài giảng của Ni Sư sáng Chủ Nhật, 19 tháng Giêng, cháu kiếm tôi, hỏi:
– Làm sao có thể đối xử với gia đình chồng giống như đối xử với gia đình mình được, hả cô ?
Tôi nhìn cháu, hơi ngạc nhiên vì sự lúng túng của cháu, rồi thản nhiên đáp:
– Thì coi cha mẹ chồng như cha mẹ mình, coi anh chị chồng như anh chị ruột mình.
Cháu lắc đầu, khó khăn kiếm cách trả lời:
– Nhưng bố chồng, anh chồng, không đứng đắn thì làm sao mình kính trọng được, hả cô ?
Tôi không biết nói gì với cháu nên tìm ni sư Giáo Thọ hỏi. Ni sư cười hiền rồi giải thích:
– Cô có nói là đàn bà thì phải hiền lành, cư xử nhu mì nhưng cô không có nói là nhu nhược. Nhu mì và nhu nhược khác nhau xa lắm à nha.
Lời giải thích của Ni Sư cho tôi hiểu là tùy trường hợp mà ứng biến. Hy vọng sau Tết, Ni Sư sẽ giảng thêm về vấn đề này.

*

Những năm chị bệnh, có được người đến nhà chăm sóc, nhưng cứ vài tháng lại đổi người. Tôi đến thăm, hỏi chị sao lại đổi người hoài vậy, chị ngao ngán nói:
– Cái ông này (chồng chị) thiệt là kỳ cục, bạ ai cũng ôm, cũng vuốt, thì ai mà muốn làm cho mình nữa.
Mới nghe, tôi cũng tưởng là chị ghen như anh hay than thở: “Chị ghen quá là ghen. Với mấy bà Mỹ đen, chị cũng ghen.” Khá ngạc hiên, tôi đã hỏi chị:
– Chị à, chị ghen làm gì cho cực thân vậy. Em nói thật nha, nhìn cái hàm răng của anh là chẳng có bà nào có thể thích anh được đâu, nếu không muốn nói là ghê nữa.
Chị chậm rãi nói:
– Chị không có ghen em à, gần cả 20 năm nay chị có cho ổng đụng tới người chị đâu.
Tôi ngạc nhiên hỏi lại:
– Hai chục năm! Wow, sao vậy chị ?
– Chị gớm!
Nghe chị nói, tôi cầm tay chị, hỏi nhỏ:
– Chuyện gì mà ghê vậy ?
Chị thong thả kể:
– Anh lung tung lắm, trẻ không tha già không thương! Em gái chị, anh cũng mò, cháu dâu của chị, anh cũng dê. Thậm chí đến em dâu của anh, chồng chết, anh cũng không tha. Ai, anh cũng sàm sở được.

Tôi ngẩn người khi nghe chị tâm sự nhưng hơi nghi ngờ là có thể chị không nhớ đúng sự việc. Tháng trước, tôi có dịp gặp lại vài “nạn nhân”. Tôi hỏi chuyện, thì được xác nhận và được nghe thêm chi tiết, không chỉ về những hành động sàm sở của anh, mà còn về sự cư xử đê tiện của anh, với họ hàng nhà chị. Từ đó tôi đâm ra coi thường và ngại phải gặp mặt anh.

*

Bài giảng, rồi lời giải thích của Ni sư làm tôi nhớ lại có một lần, cháu kể với tôi là cháu không thể nào chấp nhận việc ở chung với bố mẹ chồng. Tôi đã đồng ý với cháu:
– Cháu không chịu là đúng vì bố chồng cháu không đứng đắn đâu. Phòng bệnh hơn chữa bệnh cháu ạ.

3.

.

Who Are You ?

I’m asking you, who are you?

You arrested me,

What wrong did I do?

Who are you?

Why did you beat me

Without pity?

Who are you?

Why didn’t you let me demonstrate

My love for our country,

For our long-suffering people?

Where are you from?

Why did you prevent me

From fighting against the invading Chinese?

Where are you from?

Why are you cursing me

In the tongue of my people?

Who are your kinsmen?

Aren’t you Vietnamese?

Why are you being the lackeys of the Chinese?

So your hands are stained for thousands of years

With the blood of your fellow Vietnamese.

I couldn’t sit still

When Vietnam is teetering!

When my people is entering

Into a thousand years or more of darkness and slavery!

I couldn’t sit still with a possibility

My offsprings

Live in a world without a country

Called Vietnam.

Translated by Roberto Wissai/NKBa’

December 31, 2011

Anh là ai?

Xin hỏi anh là ai ?

Sao bắt tôi,

tôi làm điều gì sai ?

Xin hỏi anh là ai ?

Sao đánh tôi,

chẳng một chút nương tay !

Xin hỏi anh là ai ?

Không cho tôi xuống đường để tỏ bày,

tình yêu quê hương này,

dân tộc này đã quá nhiều đắng cay !

Xin hỏi anh ở đâu ?

Ngăn bước tôi

chống giặc Tàu ngoại xâm !

Xin hỏi anh ở đâu ?

Sao mắng tôi

bằng giọng nói dân tôi !

Dân tộc anh ở đâu ?

Sao đang tâm

làm tay sai cho Tàu !

Để ngàn sau ghi dấu

bàn tay nào

nhuộm đầy máu đồng bào !

Tôi không thể ngồi yên,

khi nước Việt Nam đang ngả nghiêng !

Dân tộc tôi sắp phải đắm chìm

một ngàn năm hay triền miên tăm tối !

Tôi không thể ngồi yên

để đời sau cháu con tôi làm người

Cội nguồn ở đâu ?

khi thế giới này đã không còn VIỆT NAM !

 

By Việt Khang

WHERE IS MY VIETNAM? – VIỆT NAM TÔI ĐÂU?

VIỆT NAM TÔI ĐÂU?

Việt Khang

Việt Nam ơi! Thời gian quá nửa đời người …

Và ta đã tỏ tường rồi

Ôi cuộc đời ngày sau tàn lửa khói

Mẹ việt Nam đau từng cơn xót dạ nhìn đời

Người lầm than đói khổ nghèo nàn

Kẻ quyền uy giàu sang dối gian …

Giờ đây, Việt Nam còn hay đã mất?

Mà giặc tàu ngang tàng trên quê hương ta

Hoàng Trường Sa đã bao người dân vô tội

Chết ngậm ngùi vì tay súng giặc tàu

Là một người con dân Việt Nam

Lòng nào làm ngơ trước ngoại xâm

Người người cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi

Từng đoàn người đi chẳng nề chi

Già trẻ gái trai giơ cao tay

Chống quân xâm lược, chống kẻ nhu nhược bán nước Việt Nam

Việt Nam tôi đâu…? Việt Nam tôi đâu…? Việt Nam tôi đâu …? 

WHERE IS MY VIETNAM?

Oh my Vietnam! I have lived half my life.

And I now thoroughly understand

Ever since the horrific war came to an end

In my country what has transpired:

My motherland Vietnam is in wrenching agony

The people are slaving in abject poverty

While the rulers are steeped in riches and lies.

 

Now… I wonder whether Vietnam is still alive

Because the Chinese brazenly occupy our land.

I wonder how many Vietnamese have died

In defense of Paracel and Spratly Islands.

As Vietnamese we must not be indifferent

With regard to the Chinese invaders.

Every one of us must rise up and take up arms

In defense of the motherland.

The throng, the crowd, the sea of us all rise up

In defense of our rivers and mountains.

Old men, young men, boys and girls all raise our hands

To fight against the greedy Chinese,

To fight against the Việt rulers lackeys.

Where is my Vietnam?

Where is my Vietnam?

Where is my Vietnam?

SAVE VIETNAM FROM CHINA’S QUIET INVASION

DECLARATION OF CONCERNED VIETNAMESE WORLDWIDE REGARDING CHINA’S CURRENT QUIET INVASION OF VIETNAM 

For over two thousand years, China has pursued a policy of annexing Vietnam. The Han, the Tang, the Song, the Yuan, the Ming and the Qing dynasties all undertook full-scale invasions of Vietnam, but Vietnam managed to eventually prevail over the invaders. However, recent events have shown that again China has undertaken a quiet but comprehensive invasion of Vietnam. The latest attempts of China to annex Vietnam involved:

  1. 1974:  the naked take-over of the Paracel Islands after a brief naval battle.
  2. 1979: the land grabbing in the northern border region after a brief and bloody border war during which more than tens of thousands died on each side.
  3.  1988: the occupation of part of the Spratly Islands after another brief naval battle.
  4. Since 2007 to date: the presence of “mining” companies in the strategic central highlands of Vietnam.
  5. The strangling of the economy of Vietnam, with the aim of making Vietnam too weak economically to resist the Chinese domination.

The Paracel and Spratly Islands in the East Sea have been part of Vietnam for centuries. We have legal and historical documents as well as maps to prove our claims. Only very recently when vast oil and gas deposits were discovered in the area did the Chinese brazenly claim the islands were theirs under the absurd doctrine of Cow’s Tongue (the Paracel and Spratly Islands are like the tongue of a cow extending from their Hainan Island!), and subsequently sent their naval forces to the area to back up their expansionist claims.

Recently Chinese naval forces have increased their bullying and unlawful acts of aggression against Vietnamese fishermen who ply their trade in the waters traditionally considered part of Vietnam. There have been numerous incidents in which Vietnamese fishing boats have been rammed, shot at and quite a number of Vietnamese fishermen were either killed from gunshot wounds or detained for large amount of ransom money.

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/SouthChinaSea-blood-and-tears-TVan-07172009113941.htmlhttp://www.rfa.org/vietnamese/VietnameseNews/vietnamnews/Vietnamese-fishermen-detained-by%20chinese-sea-patrol-forced-to-pay-fine-insistently-07182009121523.html)(http://mil.news.sina.com.cn/2009-07-02/0844557400.html). (http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/another-Vietnamese-fisherboat-hit-by-a-strange-boat-on-ChinaSea-07152009103037.html)(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/9-fishermen-from-ship-hitting-in-south-china-sea-QNhu-07172009143806.html)

China’s territorial designs on Vietnam did not stop at sea. China forced the current Vietnamese government to give up land at the border and set up new demarcation posts to the advantage of China.

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-China-a-long-standing-grievances-historical-MLam-07022009133546.html).

China also forced Vietnam to permit Chinese mining companies to move into the strategic highlands in Central Vietnam. These mining companies ostensibly do mining work, but with a labor force consisting of tens of thousands of Chinese men of military age and their workplace being off limits even to the local Vietnamese authorities, their presence has caused deep concerns to the Vietnamese public across all walks of life. Retired General Vo Nguyen Giap, ex-Minister of Defense, and thus a man who should know about military matters, has publicly written three letters of concern to the highest Vietnamese authorities.

Further, China is pursuing an economic policy which is designed to strangle the economy of Vietnam. On top of flooding Vietnam with inexpensive consumer products, China has encouraged a massive smuggling program into Vietnam at the northern border. The result is that the Vietnamese business production has been weakened in the last few years. In addition, with the aim of destroying the rice-production capability of Vietnam in the south, China has plans for building a total of eight dams in the Langcang Jiang, the upstream of the Mekong River, which is located in Yunnan, China. Three of these dams have been completed. These dams have altered the natural flow of the river and resulted in the loss of 75% of fish population in the basin area. The rice production and agricultural activities in the Mekong Delta—the world’s second largest rice-producing region— are being adversely affected.

We strongly protest these expansionist and unlawful acts of aggression of China against Vietnam.

We demand China:

  1. Stop all expansionist and unlawful acts of aggression in the East Sea.
  2. Release immediately all detained Vietnamese fishermen and their boats and repay in full the costs for the damages to the boats and the values of the confiscated catches.
  3. Stop building more dams on the Langcang Jiang. Pre-treat industrial dischargeand preserve water quality in the Langcang Jiang in order to prevent the Mekong River from becoming an open sewer system for the Yunnan mining industrial giants.
  4. Resolve land, islands, sea disputes with Vietnam through diplomacy and arbitration, not though acts of bullying of a nuclear-armed power.These acts only increase the instability not only in the East Sea but also the whole Southeast Asiawhich is in need of political stability for economic development.

We, the undersigned, the concerned Vietnamese worldwide are reacting to the events in the East Sea, in the highlands and China-Vietnam border areas with increasing concern and asking for the support of the international community in our struggle to avoid being assimilated as what have happened in Xinjiang and Tibet. We are calling the world attention to China’s current quiet invasion of Vietnam and pointing out China’s long-standing policy of annexation of Vietnam.

We are asking Human Rights organizations to look into the current abuses and killings of the unarmed Vietnamese fishermen by the Chinese naval forces, and vigorously demand China to respect basic human rights with regard to the Vietnamese fishermen they are detaining unlawfully and holding for ransoms.

Attachment:

(1)   The map showing various sites of attack which are clearly in the waters hitherto considered part of Vietnamese territory.

(2)    Some photos of Vietnamese fishermen being terrorized by the Chinese vessels and their naval personnel.

(3)   Letters of Vo Nguyen Giap:

http://bauxitevietnam.info/1933/thu-thu-3-cua-dai-tuong-vo-nguyen-giap-gui-bch-tu-bo-chinh-tri-cung-quoc-hoi-va-chinh-phu-ve-van-de-bauxite-tay-nguyen/?c

http://bauxitevietnam.info/tulieu/0904_DTVoNguyenGiap.htm

http://bauxitevietnam.info/tulieu/090114_thudaituongVNG1.htm

(4)   Submission to the United Nations Commission on the Limits of Continental Shelf

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm2009n_executivesummary.pdf

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mys_vnm2009excutivesummary.pdf

If you agree with declaration, please sign up by sending your name

and those of your like-minded relatives and friends

(please include name of city and country)

to the following email address:

savevietnam09@gmail.com

or

 http://baovetoquoc.blogspot.com/

We are sending our declaration with list of signers

to The United Nations and elected officials.

We are designing a website where we keep the declaration, the list of signers, and all relevant information concerning our fight to keep Vietnam from the hands of the expansionist and annexing-minded Chinese.

Thank you for your consideration.

On behalf of

Organizing Committee of Save Vietnam from China Campaign

Ngô Khoa Bá – MBA – Houston, Texas, USA
Nguyễn Hùng – BE – Sydney, Australia
Le Q. Long – BE -Auckland, New Zealand

*************************************************************

Current list of supporters :

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/danh-sach-moi-nhut.html

Letter to  The Secretary General of United Nations:

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/tho-goi-ong-tong-thu-ky-lien-hiep-quoc.html

Letter to The Prime Minister of Australia:

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/thu-goi-thu-tuong-uc-va-mot-so-bo.html

 

LỜI MINH XÁC CỦA HIỀN VY, Thông Tín Viên đài Á Châu Tự Do (RFA) – Tuần Báo VietTide tại Nam California – Hoa Kỳ

Kính gửi quí đồng hương,
Kính Gửi Quí Cơ Quan Truyền Thông Báo Chí

Chúng tôi là Hiền Vy, Thông Tín Viên đài Á Châu Tự Do (RFA) và Cộng tác viên của Tuần Báo ViệtTide, có trụ sở tại Little Saigon, Nam California.

Như quí đồng hương đã biết, chúng tôi sinh hoạt tại Houston trên dưới 15 năm qua, từ khi mới bắt đầu cộng tác với đài phát thanh Little Saigon Radio, chương trình Thiếu nhi, chương trình Hùng Sử Việt – Ngược Dòng Lịch Sử và trên mạng internet toàn cầu trên 20 năm qua.

Gần đây chúng tôi nhận rất nhiều điện thoại và emails hỏi tôi có phải một thành viên trong Hội Phụ Nữ Việt Nam tại Texas không? Và có phải chúng tôi chuyển hướng để trở thành một người tranh đấu chính trị (activist) không?

Vì có sự ngộ nhận này, chúng tôi xin phép được minh xác cùng quí vị: Chúng tôi không phải là một thành viên của Hội Phụ Nữ Việt Nam Texas.

Sau khi tìm hiểu, chúng tôi rất ngạc nhiên được biết sở dĩ có sự ngộ nhận này là vì có một thành viên của Hội Phụ Nữ Việt Nam Texas tại Houston, dùng tên Hiền Vy trong bản thông báo của Hội đó, được phát thanh trên làn sóng 900-AM và trên một số đài TV Việt ngữ tại Houston.

Để tránh sự ngộ nhận có thể phương hại đến quyền lợi của quí đồng hương vì lòng thương mến, và tín nhiệm của quí vị đối với cá nhân chúng tôi, chúng tôi xin trân trọng xác nhận là:

Chúng tôi là một phóng viên độc lập.

Để giữ tính chất trung thực cho việc làm của mình, chúng tôi không gia nhập bất cứ vào một hội đoàn nào, một tổ chức tài chính, tổ chức tranh đấu chính trị hay xã hội nào cả.

Chúng tôi hoàn toàn không chịu trách nhiệm về việc làm của bà Hiền Vy mới xuất hiện trong cộng đồng Houston vài tuần qua.

Xin cảm ơn sự lưu tâm của quí vị. Chúng tôi cũng xin cảm ơn sự thương mến, lòng tín nhiệm của quí vị dành cho chúng tôi trong nhiều năm qua.

Trân trọng,
Hiền Vy, Thông tín Viên đài RFA và VietTide
hienvy@gmail.com

 

Trường Việt Ngữ Hùng Vương: Sự Thành Ý và Tâm Hồn Việt

Cách đây khoảng một năm, Cô Túc Trí có email cho tôi nói tôi phải viết một bài cho số đặc san Trường Hùng Vương.  Bẵng đi một thời gian không thấy Cô nhắc đến tôi tưởng đặc san đã hoàn tất nhưng không ngờ tháng Tư vừa rồi Cô lại nhắc nữa.  Té ra là Đặc San xuất bản vào năm 2011 chứ không phải 2010 như tôi tưởng.  Tôi ngại ngùng viết, không phải vì khiêm cung đâu, nhưng một phần vì lười viết, một phần vì thấy ‘tài nghệ’ của mình ngày thêm sa sút, tối ngày chỉ đợi về hưu, ‘gác tay rửa kiếm’,  nên chẳng biết viết gì xứng đáng cho người đọc.   Nghe tôi trình bày tự sự,  Cô Túc Trí ra lệnh: “Anh cứ viết đi, viết gì cũng được, chữ A, chữ  C cũng được”.  Thôi đành tuân lệnh vậy, cung kính bất như tùng, các cụ vẫn dậy như thế.  Xin  viết 3 chữ, ‘lời quê góp nhặt dông dài’,  để quí vị đọc chơi giải trí. 

Chữ A: Tôi trở thành giáo viên trường Việt Ngữ Hùng Vương một phần vì tính nể vợ và một phần vì tính dễ bị thuyết phục của tôi trước những sự nhiệt tình của bạn bè.  Nếu tôi nhớ không lầm thì khoảng cuối năm 1988 bà xã tôi quyết định dẫn 2 cháu Alex và Dĩ An đi học Việt Ngữ tại Trường Hùng Vương, chẳng bao lâu thì Bà xã tôi cũng trở thành Cô giáo Hùng Vương.  Ngày xưa “Phu Xướng Phụ Tùy”, bây giờ “Phụ Xướng Phu Tùng”,  thì tôi cũng không ngoài lệ đó.  Tôi trở thành tài xế ngoan, sáng Chủ nhật nào cũng chở cả nhà đến trường Hùng Vương, lúc đó còn ở Đại học St. Thomas.  Sau một thời gian chừng vài tuần chờ đón vợ con về sau giờ tan học, tôi cảm thấy hơi dư thừa nên tìm hiểu thêm về Trường.  Các Thầy Cô lúc đó đa số còn là sinh viên, làm việc rất hăng say và lý tưởng với tất cả Thành Ý.  Việc tuyển chọn Thấy Cô cũng khó khăn, phải dạy thử, phải khai lý lịch đàng hoàng.  Mỗi ngày vô sở làm đều nghe Cô Vân Anh thuyết phục làm thầy giáo Hùng Vương, vì lúc đó Vân Anh làm chung sở và đang là trưởng ban Giảng Huấn của trường Hùng Vương thì phải.  Rồi một buổi sáng, không biết có đẹp trời không mà tôi cũng điền hồ sơ lý lịch xin làm thầy giáo.  Tiếp sau đó là các thầy cô phỏng vấn, bắt dạy thử cho các thầy cô chấm điểm giống như thi tuyển ca sĩ vậy đó.  Tôi còn nhớ, người lý tưởng và khó nhất có lẽ là Cô Chiêu.  Ấy thế mà tôi cũng được các Thầy Cô chấm điểm nhận vào giáo ban.

Chữ B:  Hồi đó tuyển chọn giáo viên rất khó.  Các chức vụ trong ban điều hành, ban giảng huấn được chọn lựa gay go lắm, có bầu bán, tranh cử đàng hoàng.  Tôi rất phục tinh thần hy sinh của các Thầy Cô trẻ, lúc đó đều là sinh viên.  Một hồi sau hình như các Thầy Cô trẻ có vẻ mệt mỏi.  Khoảng năm 1990 Thầy Thắng làm Hiệu trưởng đã 2 năm mà chưa ai ứng cử ra thay và lúc đó tôi là giáo viên già nhất, có lẽ là người duy nhất có gia đình.  Tôi rất cảm động các thầy cô coi tôi như người anh lớn trong gia đình.  Cô Hoài Anh đặt cho tôi cái chức Anh Cả và cho đến bây giờ mỗi lần gặp lại, Hoài Anh vẫn gọi tôi là Anh Cả.  Các Thầy Cô túm lại thuyết phục tôi làm Hiệu Trưởng và dĩ nhiên tôi đã được làm anh Cả thì phải làm Hiệu Trưởng.  Sau một năm tôi làm Hiệu Trưởng tôi bị gia hạn 2 năm cho đến khi tôi cũng mệt mỏi vì công việc trong sở làm nên nhất định xin từ chức thì lúc đó Thầy Thuận lên làm Hiệu trưởng.  Khỏang thời gian 1990-1992, các Thầy Cô lần lượt tốt nghiệp đại học, ra trường hoặc lập gia đình hoặc đi làm xa nên Thầy Cô rất thiếu. Trong thời gian làm hiệu trưởng tôi làm một sự thay đổi khá lớn để đáp ứng nhu cầu giáo viên cho trường là tìm cách tuyển chọn giáo viên ngay trong hàng ngũ phụ huynh và cho các em học sinh xuất sắc lớp lớn nhất làm phụ giáo để các em có cơ hội tiếp tục học thêm cũng như phụ giúp các Thầy Cô.  Sự thay đổi này khá thành công, các em phụ giáo làm việc hăng say và thấy việc học Việt Ngữ có một kết quả nào đó và làm các em rất hãnh diện.  Các phụ huynh mang một luồng gió mới vào trường, một sự cộng tác đắc lực hơn.  Nếu những thầy cô trẻ mang không khí trẻ trung vào lớp học thì các vị phụ huynh lại có những kinh nghiệm dạy con và cái uy mà các thầy cô trẻ độc thân chưa có hay chưa thông cảm.  Theo thiển ý, hai yếu tố này dung hòa phụ trợ nhau rất là hợp lý mà ít trường Việt Ngữ nào có ngoài trường Hùng Vương.

Tôi nhớ mãi là hai vị thầy rất đặc biệt của Trường là Thầy Dỵ và Thầy Đạo. Có lẽ Bác Sĩ Nguyễn Tiến Dỵ là vị thầy chăm chỉ và dậy kỹ nhất trường, khó nhất trường từ xưa tới nay và cô Chiêu dù khó nhưng thua xa thầy Dỵ.  Từ khi Thầy Dỵ vào trường thì tôi vui mừng nhường chức già nhất cho thầy.  Học trò sợ thày đã đành mà phụ huynh cũng sợ thầy luôn, vì khó theo được sự đòi hỏi nghiêm túc của thầy. Thầy dậy các em học sinh Hùng Vương không khác gì các sinh viên y khoa của thầy trong Trung Tâm Y Khoa M.D Anderson.  Thầy soạn bài kỹ hơn bất cứ ai trong trường.  Cũng nhờ vậy mà học trò nào qua được lớp thầy Dỵ đều là học trò giỏi của Hùng Vương.  Thầy Bùi Văn Đạo lại là một thái cực khác.  Học trò rất mê học với thầy Đạo vì thầy là một con người có thể gọi là rất xuề xòa, dễ dãi về mọi mặt nhưng rất nhiệt tình.  Thầy Đạo làm tôi nhớ đến các thiền sư phá cách, rảnh tay xuống núi, không coi quan trọng vẻ bề ngoài.  Thầy Đạo dậy rất tận tâm nhưng không hề gó ép, những  em học trò ‘ba gai’ lại rất thích thầy và trở thành học trò giỏi.  Nhiều vị phụ huynh lúc chưa biết thầy có đến than phiền với tôi tại sao lại để một người ‘lè phè’ như vậy dạy học trò.  Họ không thể ngờ rằng trong cái vẻ ‘lè phè’ đó là một con người nhiệt thành với tuổi trẻ, một tiến sĩ đại học Berkley của Hoa kỳ và đã cải hóa nhiều con ngựa chứng trong sân trường Hùng Vương. 

Chữ C:  Với tôi, những ngày làm việc tại Trường Hùng Vương là những ngày rất vui và có ý nghĩa.  Tôi hân hạnh gặp các bạn trẻ và các phụ huynh có nhiều thiện chí cho tôi những cảm tình thân thương mà tôi luôn luôn trân quý. Trong mấy chục năm qua, có em học sinh rất giỏi tiếng Việt, có em học đâu quên đó, nói tiếng Việt vẫn ngọng nghịu.  Nhưng theo tôi, tất cả các em đếu có thêm một chút Việt Nam trong người, giữ lại trong các em tâm hồn Việt Nam.  Trong kỳ lễ tốt nghiệp tại đại học Texas ở Austin của cháu Dĩ An năm 2005, tôi được một sự ngạc nhiên thích thú vì có vài vị tân khoa áo mũ xêng xang đến khoanh tay cúi đầu chào tôi bằng tiếng Việt. Thì ra các em là học trò của tôi tại trường Hùng Vương trước đây.  Một phần thưởng tôi không ngờ.  Gần đây, tôi có dự một cuộc hội thảo tại Trung tâm Việt Mỹ và được nghe bác sĩ Phạm Gia Cổn là một người có nhiểu sinh hoạt văn hóa trong cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ, phát biểu rằng cái quan trọng là các em có còn tâm hồn Việt không chứ không phải là bắt buộc phải nói tiếng Việt lưu loát mới không bị mất gốc.  Cũng trong dịp này Giáo sư Nguyễn Văn Trường, một nhà giáo lão thành, nguyên là Bộ Trưởng Văn Hóa Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa trước biến cố 1975, đã nhấn mạnh, là người Việt, dù ở tuổi nào, dù ở đâu cũng cần đối xử với nhau với Thành Ý, nếu không xã hội Việt Nam ở mọi nơi sẽ là những xã hôi xây dựng trên sự dối trá và chúng ta sẽ mất gốc.  Tôi rất tâm đắc vói hai quan điểm này và tôi nghĩ các Thầy Cô trường Hùng Vương đã và đang có Thành Ý xây dựng một xã hội tương lai có những trẻ em  gốc Việt với đầy đủ tâm hồn Việt Nam.

Trong niềm hoài niệm tháng tư đen tôi tin tưởng những Tâm Hồn Việt Nam được gây dựng từ trường Việt Ngữ Hùng Vương sẽ tiếp tục đem Thành Ý xây dựng lại quê hương đang dẫy đầy sự dối trá đau thương.

 

 

Canada: Công viên Quốc Gia Banff với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ

image

Canada

 Công viên Quốc Gia Banff

với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ

Bài: Nguyễn Phục Hưng

Ảnh: Hiền Vy

VietTide – Oct 11th, 2013

Với những người thích phồn hoa đô hội, thích mua sắm, thì có lẽ phải bỏ nhiều ngày tháng đi thăm New York, Paris hay Milan, Florence…  Tuy nhiên, với những người mê phong cảnh thiên nhiên thì tiêu dao bên rặng núi Rocky Mountains có thể là một nơi chốn tuyệt vời. Rocky Mountains nằm giữa hai tỉnh bang (*) Bristish Columbia và Alberta của Canada. Vùng này rất rộng lớn, chỉ riêng trong ranh giới Alberta cũng phải mất nhiều ngày giờ mới thăm viếng hết được.  Dĩ nhiên, nếu du khách chỉ muốn “cưỡi ngựa xem hoa” thì có thể đi một vòng tam giác, từ Calgary lên Edmonton, trở qua vùng đá lạnh Jasper, lái xuyên công viên quốc gia Banff, rồi trở lại Calgary.  “Cưỡi ngựa xem hoa” như thế thì cũng mất năm ba ngày.  Với những người yêu thiên nhiên thì vài tuần ngao du, chỉ trong Công viên quốc gia Banff, vẫn còn chưa đủ.

Lake Louise nhìn từ KS The Fairmont Chateau

Công viên quốc gia Banff cách thành phố Calgary chừng 150 cây số về phía tây theo Xa Lộ Xuyên Canada, Trans Canada Highway, tức là xa lộ số 1 của Canada. Xa lộ này kéo dài từ  ven biển Thái Bình Dương ở phía tây, qua tới ven biển Đại Tây Dương ở phía đông của quốc gia này, và xuyên qua rất nhiều công viên cũng như thành phố lớn của Gia Nã Đại.  Nếu du khách chỉ đi xuyên qua công viên Banff thì không phải trả lệ phí đậu xe, nhưng nếu định ghé lại viếng cảnh núi đồi hay sông hồ nào đó trong vùng, thì phải trả khoảng 20 dollars mỗi ngày. Trạm thâu tiền nằm ngay trên tuyến đường trước khi xuyên qua công viên trên quốc lộ số 1.  Mới nghe, lệ phí có vẻ quá cao nhưng nếu bạn dừng lại để ngắm những thác nước hay các hồ trong công viên, thì sẽ thấy chi phí này rất thấp, vì việc bảo trì các thắng cảnh không phải là ít. Từ Calgary đi lên, du khách sẽ đi qua nhiều thị trấn, thác nước và hồ; từ tỉnh lỵ Canmore, tới thị trấn du lịch nổi tiếng Banff, rồi lên Lake Louise.  Những thị trấn này qui tụ đủ loại khách sạn cho du khách, tùy túi tiền. Các thị trấn này nằm dọc theo xa lộ 1 và cũng nằm ven sông Bow.  Sông  Bow bắt nguồn từ rặng núi Rocky Mountains, uốn khúc bên xa lộ 1, chảy qua thành phố Calgary.  Thường thì con sông này rất thơ mộng nhưng mùa tuyết tan tháng Sáu năm 2013 vừa qua, với những cơn mưa quá lớn, đã làm ngập lụt nhiều vùng dọc theo bờ sông và một phần Downtown Calgary, gây nhiều thiệt hại nặng nề.

KS The Fairmont Chateau Lake Louise nhìn từ Fairview Lookout.

Nổi tiếng nhất trong công viên quốc gia Banff là thị trấn Lake Louise với hồ Lake Louise vô cùng thơ mộng.  Không biết cảnh Thiên Thai đẹp như thế nào hay chỉ trong tưởng tượng của nhiều thi sĩ, chứ bây giờ dừng bên Hồ Louise thì có lẽ ai cũng phải ngẩn ngơ như Tản Đà mơ cảnh Thiên Thai trong bài Tống Biệt.

Tống biệt

 Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai

Suối tiễn, oanh đưa luống ngậm ngùi

Nửa năm tiên cảnh

Một bước trần ai

Ước cũ, duyên thừa, có thế thôi!

Đá mòn, rêu nhạt

Nước chảy, huê trôi

Cái hạc bay vút tận trời

Trời đất từ đây xa cách mãi

Cửa động

Đầu non

Đường lối cũ

Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi

(Tản Đà)

Đứng bên hồ nước mầu xanh ngọc bích soi bóng núi tuyết, dù mùa hè tuyết cũng chưa tan hết, trong buổi hoàng hôn hay lúc bình minh thì không thể có cảnh nào hút hồn du khách hơn. Mầu nước của Hồ Louise thay đổi tùy theo ánh sáng của mặt trời. Lúc mây đen, mặt hồ có mầu bạc sẩm tối, khi mây trắng, mầu nước sáng hơn và sẽ trở thành mầu ngọc thạch khi mây bay hết. Nếu là người thành phố ưa náo nhiệt, có thể thuê thuyền chèo trên hồ. Nhưng xin đừng chèo quá mạnh cho nước văng vãi tứ tung, đừng la hét vào lúc bình minh hay lúc mặt trời lặn vì sẽ làm mất đi vẻ đẹp siêu nhiên của cảnh hồ.

Lake Moraine

Nếu có tiền, hãy thuê phòng trong khách sạn The Fairmont Chateau Lake Louise ngay trước hồ, nhớ chọn cho được một phòng có ban công nhìn ra hồ để có cơ hội nhâm nhi ly cà phê bên người tình, ngắm hồ phản ánh mặt trời lúc bình minh, hay nhìn mặt trời lặn dần bên sườn núi lúc hoàng hôn, chẳng khác gì lạc cảnh Thiên Thai.  Khách sạn này khỏang 4 đến 6 trăm dollars mỗi tối cho một phòng trung bình và có thể đắt hơn nhiều, tùy mùa nhưng phải giữ chỗ trước nhiều tháng hay cả năm trời.  Nhiều du khách mê chụp hình, những nhà nhiếp ảnh nghệ thuật đã không ngần ngại dậy sớm tinh mơ đến hồ đón bình minh hay cố tình ở lại trễ để đón hoàng hôn bên hồ, nếu ở những khách sạn xa hồ.

Từ khách sạn The Fairmont Chateau Lake Louise, có thể đi bộ (hiking) trên nhiều lối tùy theo khả năng chịu đựng và thời gian cho phép.  Lối mòn Lake Louise Lakeshore là dễ đi nhất, chỉ dài chừng 4 cây số khứ hồi và không phải leo đồi. Lối mòn này chỉ mất khoảng 1 giờ đồng hồ là đi xong.

Lối mòn Lake Agnes Tea House dài khoảng 7 cây số, dẫn du khách lên độ cao gần 400 mét, khá gập ghềnh. Đi đoạn đường này mất khoảng 4 giờ đồng hồ nhưng đến cuối đường bạn sẽ có cơ hội uống cà phê hay trà tại Tea House nổi tiếng trong lịch sử bên hồ Angnes. Nếu chưa mỏi chân bạn có thể đi thêm chừng 1.5 km đến cuối hồ để chiêm ngưỡng phong cảnh thung lũng Bow và cả vùng Lake Louise.

Cũng từ Hồ Louise bạn có thể chọn đường mòn Plain of Six Glaciers. Đường này dài khoảng 11 cây số, khá gập ghềnh, trung bình mất khoảng 4, 5 giờ đi bộ leo đồi.  Đường này có lẽ là đường đẹp nhất để ngắm rặng núi đá Canadian Rockies như Mt Lefroy, Mt Victoria và vùng băng hà có tên The Plain of Six Glaciers.

Lake Moraine

Vùng này không chỉ có Lake Louise trữ tình mà còn nhiều hồ khác, tuy nhỏ hơn nhưng cũng không kém phần thơ mộng. Trong các hồ này phải kể đến Hồ Moraine, Hồ Consolation, Hồ Eifel, Hồ Angnes và Hồ Temple. Có nhiều lối mòn (hiking trails) cho du khách yêu thiên nhiên đi bộ quanh hồ hay leo núi bên hồ. Những đường đi bộ ven hồ hay leo núi, cho du khách hòa mình vào thiên nhiên.  Người Canada rất yêu thiên nhiên và có lẽ họ là những người thực hành lối sống bảo vệ thiên nhiên nghiêm túc nhất.  Hình như đa số đều thấm nhuần tư tưởng hòa nhập vào thiên nhiên, ngoại cảnh chính là họ và ngược lại. Họ bảo vệ thiên nhiên, môi trường sống, một cách tự nhiên và đầy trí tuệ chứ không phải là vì luật pháp nghiêm phạt những sự hủy hoại môi trường.

Lake Moraine

Hồ Moraine cách Hồ Louise chừng 15 cây số đường đèo. Bên cạnh Hồ Moraine là Hồ Consolation và cách Hồ Moraine chừng 7 cây số là Hồ Eiffel. Đến Hồ Moraine bạn có thể đi bộ theo lối mòn quanh hồ. Đường này rất dễ đi, dài chừng 3 cây số và phong cảnh rất đẹp.  Một lối mòn khác là lối mòn quanh Hồ Consolation cũng bắt đầu từ Hồ Moraine.   Lối này dài chừng 6 cây số khứ hồi, nhưng không gập ghềnh lắm, và tốn chừng 2 giờ đồng hồ.  Cũng từ Hồ Moraine, những người có sức có thể đi đường Lake Eiffel.  Chặng này dài khoảng 12 cây số khứ hồi, khá gập ghềnh nhưng khi lên đến đỉnh, bạn sẽ thấy phong cảnh hùng vĩ vùng thung lũng của 10 đỉnh núi cao trong vùng Lake Louise.

Trên đây chỉ liệt kê vài đường mòn nổi tiếng trong vùng Lake Louise. Có tất cả khoảng 20 đường mòn cho du khách chọn lựa. Ngoại trừ các lối mòn sát bờ hồ, khách du lịch được khuyến cáo nên đi từng đoàn ít nhất là 4 người và nhớ mang theo thuốc xịt đuổi gấu ( bear spray) đề phòng gấu tấn công.  Những năm trước, có thể đi Gondola lên đỉnh núi để nhìn toàn cảnh khu Hồ Louise nhưng năm nay phương tiện này không mở cho du khách.  Đi ngoạn cảnh hết vùng Lake  Louise chắc cũng cần cả tháng nếu bạn muốn thực sự sống với thiên nhiên, chứ không chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa”.

Lake Minnewanka.

Trở về thị trấn Banff cũng còn nhiều nơi ngoạn cảnh. Đi tàu du ngoạn trên Hồ Minnewanka, là hồ lớn nhất trong khu công viên quốc gia Banff và là hồ duy nhất được phép dùng tàu có động cơ. Chuyến đi kéo dài chừng 1 giờ để thấy cảnh đồi núi hùng vĩ soi bóng bên hồ cũng rất là thú vị.  Cạnh Hồ Minnewanka là Two Jack Lake rất thơ mộng và có thể chèo thuyền tại đây. Từ thị trấn Banff, có thể lái xe lên Mount Norquay. Con đường quanh co và có thể thấy những chú nai hay huơu thơ thẩn dạo chơi trên đường.  Mount Norquay là trung tâm truợt tuyết trong mùa đông nhưng mùa hè bạn có thể đi bộ leo núi để thấy cảnh hùng vĩ của những rặng núi quanh vùng Banff vẫn còn đóng tuyết vạn niên trên đỉnh.  Dĩ nhiên, nếu mỏi chân thì bạn có thể lấy Gondola lên tuốt đỉnh núi Sulfur Mountain, là núi cao nhất gần trị trấn Banff, để nhỉn xuống dòng sông Bow uốn khúc bên trị trấn Banff  hiền hòa.  Dọc theo sông Bow từ Canmore, qua Banff , lên tới Lake Louise, có rất nhiều nơi cắm trại cho những ngưới thích thiên nhiên mà không muốn ở khách sạn. Nếu không muốn đị bộ thì có nhiều nơi cho thuê xe đạp để rong chơi hay mạo hiểm trong các đường đi xe trong rừng núi (biking/hiking trails).

 Elbow Falls

Đời sống tại Banff, và có lẽ hầu hết ở Canada, là một đời sống thanh bình, vui thú thiên nhiên. Ở vùng này người ta ngại gấu hơn đạo tặc, cướp giựt.  Người dân không được phép mang súng.  Họ uống rượu vui chơi nhưng hiền lành lịch sự, chưa hề thấy cảnh say sưa nhiễu loạn như tại các thành phố lớn Hoa Kỳ.  Nếu là khách du lịch, nên cẩn thận chớ coi thường các vị cao niên dân địa phương.  Có nhiều bà đã già nhưng họ leo núi phăng phăng mà dân trai trẻ quen sống thành thị, ham thể thao trên TV khó lòng bì kịp. Đó là kinh nghiệm bản thân của chúng tôi khi nhập đoàn hiking cùng hai vị bô lão và cuối cùng chúng tôi đành bỏ cuộc vì các cụ bỏ xa chúng tôi trên Eiffel Trail, gần Hồ Moraine. Những ngày ở Banff thật là thú vị và bổ ích. Rời Banff mà lòng luyến tiếc vì có nhiều nơi chưa kịp thăm viếng lại, nhất là vùng băng hà và công viên Jasper. Đây là lần thứ ba chúng tôi đến vùng Lake Louise nhưng lần này được sống với núi rừng thiên nhiên, khác hẳn các lần trước.  Hai mươi năm trước chúng tôi đã viếng cảnh Jasper nhưng chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa”. Chúng tôi hẹn nhau sang năm trở lại để đi hết những phong cảnh vừa hùng vĩ vừa thoát trần của Rocky Mountains. Có lẽ đây là tâm sự của chàng Lưu Nguyễn vừa ra khỏi Thiên Thai trong huyền thoại:

Cửa động

Đầu non

Đường lối cũ

Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi

Banff nhìn từ Sulfur Mountain

 

Nguyễn Phục Hưng

9/2013

(*) Canada có 10 Tỉnh Bang (Provinces):

Alberta, British Columbia, Manitoba, New Brunswick, Newfoundland and Labrador, Nova Scotia, Ontario, Prince Edward Island, Quebec, and Saskatchewan.

Phản Kháng Âm Mưu Xâm Lược Việt Nam của Trung Quốc

image

Đây là Bản Tuyên Bố của những Người Việt Thầm Lặng không đảng phái chính trị, vẫn thường xuyên quan tâm đến tình hình đất nưóc. Nếu quí vị đồng ý với những lời kêu gọi trong bản Tuyến Bố này xin vui lòng ký tên bằng cách gửi tên, tuổi(optional), nơi cư ngụ về địa chỉ điện thư dưới đây: savevietnam09@gmail.com

BẢN TUYÊN BỐ

CỦA NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI

VỀ SỰ XÂM LĂNG THẦM LẶNG CỦA TRUNG QUỐC

 ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Trong thời gian hơn hai ngàn năm qua, Trung Quốc đã liên tục theo đuổi sách lược thôn tính Việt Nam. Nhiều triều đại kế tiếp của Trung Quốc  từ Hán, Đường, Tống, Minh, Nguyên, và cuối cùng nhà Thanh, tất cả đều có dã tâm xâm lăng và đồng hóa Việt Nam.  Nhưng Việt Nam đã kiên trì vượt qua mọi hiểm nghèo, chống lại một cách thành công dã tâm của Trung Quốc và tồn tại cho đến ngày nay.  Tuy nhiên những sự kiện xảy dồn dập trong những năm qua cho thấyTrung Quốc đang tiến hành trở lại âm mưu xâm lăng tuy thầm lặng nhưng không kém nguy hiểm, bao trùm cả Việt Nam.

Những sự kiện xảy ra giữa Trung Quốc và Việt Nam gồm:

  1. Năm 1974, chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa sau trận hải chiền ngắn.
  1. Năm 1979, chiếm đóng mốt số lãnh địa gần biên giới phía Bắc sau trận chiến khóc liệt tại suốt khu vực biên giới Việt  Trung.
  2. Năm 1988, chiếm đóng một số đảo trong quần đảo Trường Sa sau trận hải chiến ngắn khác.
  3. Từ năm 2007 đến nay, có sự xuất hiện đáng nghi ngờ cùa các công ty quốc doanh Trung Quốc chuyên khai thác tài nguyên khoáng sản quặng mỏ  tại nhiều vùng được đánh giá rất quan trọng về  mặt an ninh và chiến lược  quân sự, -cụ thể như vùng Tây Nguyên của Việt Nam.
  4. Bóp nghẹt nền kinh tế Việt Nam nhằm mục đích làm cho Việt Nam trở nên suy yếu về kinh tế và hậu quả tai hại là Việt Nam sẽ không thể chống cự lại được mọi  khống chế của Trung Quốc.

Từ nhiều thế kỷ nay, Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông là lãnh thổ của Việt Nam. Nhiều thế hệ  người Việt Nam đã xây dựng cơ chế xã hội và quân đội trên  hai quần đảo này. Việt Nam có nhiều tài liệu cũng như  các bản đồ do các triều vua Việt Nam từ nhiều thế kỷ trước thực hiện, chứng minh rõ ràng chủ quyền của Việt Nam. Chỉ mới gần đây, khi nhiều quặng mỏ dầu và khí đốt được tìm ra, Trung Quốc bắt đầu đơn phưong tuyên bố chủ quyền các quần đảo này qua –tài liệu lãnh hải hình “Lưỡi Bò”  tiếm  nhận  toàn bộ vùng biển bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa trong lãnh hải  kéo dài từ phía nam đảo Hải Nam – và sau đó Trung Quốc điều động lực lượng hải quân của họ đến kiểm soát toàn khu vực.

Thời gian mới đây hải quân Trung Quốc gia tăng hành động bạo lực phi pháp đối với ngư phủ Việt Nam trên Biển Đông. Nhiều sư kiện liên tục xảy ra, trong đó tàu thuyền đánh cá của ngư phủ Việt Nam bị tàu hải quânTrung Quốc đụng chìm, bắn phá, ngư dân bị bắn chết, bị thương vong và bị bắt làm con tin đòi tiền chuộc mạng.

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/SouthChinaSea-blood-and-tears-TVan-07172009113941.html)

(http://www.rfa.org/vietnamese/VietnameseNews/vietnamnews/Vietnamese-fishermen-detained-by%20chinese-sea-patrol-forced-to-pay-fine-insistently-07182009121523.html) (http://mil.news.sina.com.cn/2009-07-02/0844557400.html)

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/another-Vietnamese-fisherboat-hit-by-a-strange-boat-on-ChinaSea-07152009103037.html)

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/9-fishermen-from-ship-hitting-in-south-china-sea-QNhu-07172009143806.html

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-China-a-long-standing-grievances-historical-MLam-07022009133546.html).

Trung Quốc vừa dùng tiền của, vật chất vừa áp lực nhà nước Việt Nam để các công ty quốc doanh chuyên khai thác tài nguyên khoáng sản quặng mỏ được vào vùng Tây Nguyên độc quyền dài hạn khai thác quặng kim loại quan trọng như Titanium, Nhôm, vân vân.  Những công ty Trung Quốc này không thu dụng công nhân Việt Nam nhưng lại đem hàng ngàn thanh niên Trung Quốc trong lứa tuổi phục vụ quân đội sang làm việc và sinh sống biệt lập trong các khu vực giành riêng của họ.  Ngay cả các cơ quan nhà nước Việt Nam cũng không được phép vô kiểm tra những nơi này.

Dân chúng Việt Nam nghi ngờ và rất lo lắng về dã tâm đen tối của Trung Quốc, lợi dụng việc khai thác khoáng sản quặng mỏ để bí mật cài đặt tiềm lực quân sự cùa họ, nhất là vùng Tây Nguyên.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam, là người dày dặn kinh nghiệm và có nhiều thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến an ninh quốc phòng, đã ba lần công khai lên tiếng đến các cấp lãnh đạo cao cấp nhất của đảng và nhà nước Việt Nam, bày tỏ nỗi lo lắng sâu xa trước sự có mặt của Trung Quốc trong khu vực Tây Nguyên, vùng rất quan trọng về mặt chiến lược trong việc giữ gìn an ninh toàn vẹn lãnh thổ của  Việt Nam.

Đồng thời, Trung Quốc còn lũng đoạn kinh tế Việt Nam bằng cách cho tràn ngập và phá giá thị trường Việt Nam với nhiều loại hàng hóa tiêu dùng không đủ tiêu chuẩn an toàn vệ sinh, và chuyển vận bất hợp pháp nhiều loại hàng hóa, – vật liệu xuyên qua toàn vùng biên giới Việt Trung. Hậu quả của ý đồ thâm độc này là các ngành sản xuầt của  Việt Nam đang  bị suy yếu chết dấn mòn.

Ngoài ra, với âm mưu nhằm hủy hoại khả năng sản xuất lúa gạo của vùng đồng bằng miền Nam của Việt Nam, Trung Quốc  đang thực hiện kế hoạch xây 8 đập thủy điện lớn trên khu vực thượng nguồn của sông Cửu Long trong vùng Vân Nam. Trung Quốc vừa hoàn tất  ba đập thủy điện lớn.  Những đập này đã thay đổi dòng chảy tự nhiên của sông Cửu Long và gây thiệt hại đến khoảng 75% số lượng thủy sản trong khu vực hạ lưu sông Cửu Long.  Mức độ sản xuất lúa gạo và các hoạt động nông nghiệp trong vùng châu thổ sông Cửu Long của Việt Nam  – khu vực sản xuất lúa gạo lớn nhất thế giới – bị suy giảm nghiêm trọng.

Chúng tôi cực lực chống lại những hành động bành trướng phi pháp và bá quyền cùa Trung Quốc đối với Việt Nam. Chúng tôi đòi hỏi Trung Quốc:

  1. Thả tự do lập tức và vô điều kiện tất cả ngư phủ Việt Nam hiện đang còn bị bắt giữ trái phép cùng với tàu thuyền của họ và bồi hoàn đầy đủ những chi phí chi trả cho việc sửa chữa những hư hại gây ra cho những tàu thuyền, và bối thướng toàn bộ thiệt hại cho số hải sản bị tịch thu trái phép.
  2. Ngừng ngay những hành động bạo lực bá quyền phi pháp đối với ngư phủ Việt Nam trên Biển Đông.
  3. Ngừng xây thêm đập thủy điện trên khu vực Langcang Jiang. Xử lý toàn bộ nuớc phế thải kỹ nghê đúng tiêu chuẩn quốc tế để bảo vệ chất lượng nước trong vùng để sông Cửu Long không bị trở thành một hệ thống thoát nước phế thải của các tập đoàn kỹ nghệ Yunnan.
  4. Giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ, biển đảo và lãnh hải bằng đuờng lối ngoại giao và tuân hành các qui ước quốc tế, không qua hành động áp chế bằng bạo lực. Những thái độ và hành động bạo lực chỉ làm gia tăng tình trạng bất ổn định không những cho vùng Đông Á mà còn cho vùng Đông Nam A, khu vực rất cần sự ổn  định chính trị, giúp cho công cuộc phát triển kinh tế trong khu vực.

Chúng tôi, người Việt Nam trên toàn thế giới ký tên dưới đây đặc biệt quan tâm và lo ngại đến những biến cố dồn dập xảy ra ngoài Biển Đông, trên vùng Tây Nguyên và vùng biên giới Việt Trung.  Sống cạnh Trung Quốc, như kinh nghiệm của người Tây Tạng , nguời Uighurs tại Tân Cương, chúng tôi biết rõ chủ trương lâu đời cùa Trung Quốc là  xâm chiếm  và đồng hóa các nước láng giềng có ít dân.

Chúng tôi kêu gọi những tổ chức bảo vệ nhân quyền tiến hành điều tra những sự ngược đãi và giết hại ngư phủ Việt Nam  không võ trang và không ai bảo vệ, do hải quân Trung Quốc đang gây ra trên Biển Đông, và khẩn thiết  đòi hỏi Trung Quốc tôn trọng quyền căn bản của con người đối với ngư phủ Việt Nam đang bi họ bắt giữ phi pháp và đòi tiền chuộc mạng.

Đính kèm:

(1) Bản đồ Biển Đông ghi lại những địa điểm thuyền đánh cá Việt Nam bịTrung Quốc tấn công và bắt giữ, cho thấy rõ rang họ đang ở  trong vùng lãnh hải Việt Nam.

(2) Một số hình chup cảnh ngư phủ Việt Nam bị đối xử tồi tệ và bị khủng bố, hạ nhục nhân phẩm và hình lính hải quân Trung Quốc đang khủng bố ngư dân Việt Nam.(3) Thư của  Đại Tướng Võ Nguyên Giáp lên tiếng về việc khai thác Bauxite và hiểm họa Trung Quốc tại Tây Nguyên:

http://bauxitevietnam.info/1933/thu-thu-3-cua-dai-tuong-vo-nguyen-giap-gui-bch-tu-bo-chinh-tri-cung-quoc-hoi-va-chinh-phu-ve-van-de-bauxite-tay-nguyen/?c

http://bauxitevietnam.info/tulieu/0904_DTVoNguyenGiap.htm

http://bauxitevietnam.info/tulieu/090114_thudaituongVNG1.htm

(4) Hồ sơ Việt Nam nộp lên Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Cứu Xét Ranh Giới Thềm Lục Địa:

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mys_vnm2009excutivesummary.pdf

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm2009n_executivesummary.pdf

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm2009n_executivesummary.pdf

 

Đây là Bản Tuyên Bố của những Người Việt Thầm Lặng

không đảng phái chính trị, vẫn thường xuyên quan tâm đến tình hình đất nưóc.

Nếu quí vị đồng ý với những lời kêu gọi trong bản Tuyến Bố này xin vui lòng ký tên bằng cách gửi tên họ, tuổi(optional), nơi cư ngụ về địa chỉ điện thư dưới đây:

savevietnam09@gmail.com

hay tại

http://baovetoquoc.blogspot.com/

Nhóm chủ trương sẽ gửi bản Tuyên Bố này đến các cơ quan liên hệ của Liên Hiệp Quốc,

các vị dân cử trên khắp mọi quốc gia trên thế giới và các cơ quan truyền thông

Chúng tôi cũng đang soạn một Website để phổ biến biến dự án này trên hệ thống Internet.

Trong tình trạng Tổ Quốc lâm nguy trước nạn Bắc Thuộc, chúng ta không thể tiếp tục im lặng chờ đợi vào nhà nước Việt Nam và các đảng phái chính trị trong cũng như ngoài nưóc.

Xin hãy cùng góp một tay để lên tiếng kêu gọi lương tâm thế giới trước nạn Bắc xâm.

Trân Trọng

Thay Mặt Nhóm Người  Việt Thầm Lặng Chống Nạn Bắc Thuôc.

Ngô Khoa Bá – MBA – Houston, USA
Nguyễn Hùng  – BE – Sydney, Australia
Le Q. Long  – BE – Auckland, NZ

**************************************************************

Danh sách những người ký tên

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/danh-sach-moi-nhut.html

Thư gửi Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/tho-goi-ong-tong-thu-ky-lien-hiep-quoc.html

Thư gửi Thủ Tướng Úc

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/thu-goi-thu-tuong-uc-va-mot-so-bo.html

.

Buổi Tâm Tình và Ra Mắt Sách: Tuổi Thơ và Chiến Tranh của Võ Đại Tôn

Tuệ An(*)

Trong chuyến công du 2 tháng tại Hoa Kỳ, từ nước Úc, cựu Đại tá  Quân lực Việt Nam Cộng Hòa Võ Đại Tôn tức tác giả Hoàng Phong Linh của nhiều tác phẩm Thơ Văn đã ghé lại Houston. Tại đây Ông đã gặp gỡ đồng hương trong “Buổi Tâm Tình và Ra Mắt Sách Tuổi Thơ và Chiến Tranh” vào chiều Chủ Nhật 30 tháng 5, 2010. 

“Tôi không phản bội bất cứ ai đã giúp đỡ, ủng hộ tôi. Tôi tiếp tục duy trì lập trường chính trị của tôi (để tranh đấu) cho tự do và giải phóng dân tộc. Tôi đã sẵn sàng nhận bất cứ một bản án nào mà chế độ cộng sản dành cho tôi”

Đó là lời tuyên bố của ông Võ Đại Tôn trong cuộc họp báo quốc tế tại Hà Nội ngày 13 tháng 7 năm 1982 trong một đoạn phim được trình chiếu tại buổi “Tâm Tình và Thơ Nhạc Hoàng Phong Linh – Võ Đại Tôn và ra mắt tác phẩm Tuổi Thơ và Chiến Tranh” do Liên Minh Quang Phục Việt Nam tổ chức tại Houston cuối tuần qua. Đoạn phim do phóng viên Mori của đài Truyền hình Nhật Bản TV-NHK thâu được.  Và câu tuyên bố đó của ông Võ Đại Tôn là ngoài sự tiên liệu của nhà nước Việt Nam, và cuộc họp báo chấm dứt ngay sau lời tuyên bố của ông. Sự can cường của ông đã làm thế giới khâm phục nhưng cũng là nguyên nhân khiến ông bị tù biệt giam 10 năm tại trại tù Thanh Liệt với những lần bị tra tấn dã man, cho đến năm 1992 mới được trục xuất về lại Úc Đai Lợi.

Là một cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ông Võ Đại Tôn và gia đình vượt biển định cư tại Úc năm 1975. Đến năm 1980 ông cùng với những người đồng chí hướng đã trở lại Việt Nam xuyên qua đường bộ Thái Lan, Campuchia và Ai Lao để tham gia kháng chiến phục quốc nhưng bị bắt tại biên giới Lào Việt vào tháng 10 năm 1981.

Giới thiệu tác giả Hoàng Phong Linh và tác phẩm của ông là Luật sư Hoàng Duy Hùng, người cũng đã từng về Việt Nam để mưu cầu phục quốc và cũng đã bị giam cầm trong lao tù của nhà nước Việt Nam gần 2 năm, nói là trong tác phẩm Tuổi Thơ và Chiến Tranh, bài thơ Nước Trôi Mồ Mẹ đã được tác giả viết trong bối cảnh nước lụt dâng tràn, sắp cuốn trôi mồ mẹ của ông, người đã bị cộng sản giết năm 1947, và đã khiến Hoàng Phong Linh liên tưởng đến cơn lụt chính trị đang cuốn trôi cả Mẹ Việt Nam.

“Đó là bối cảnh của một dòng sông, e rằng nước dâng lên trôi luôn cả xương cả cốt của mẹ mình vì cái tội tàn ác của cộng sản Việt Nam, thời kỳ 1946 Việt Minh nổi dậy ở Đà Nẵng.  Nhưng mà còn là cái biến cố trôi trong tâm hồn của ông; Việt Nam đau khổ sẽ bị cuốn trôi, cuốn trôi trong dòng nước bạo lực này, giòng nước của bạo tàn… Trong tâm tư đó, ông Võ Đại Tôn đã viết bài đó …”  

Trong phần tâm tình với đồng hương, ông Võ Đại Tôn đã kể lại những câu chuyện đau lòng ông đã gặp mà điển hình là chuyện “Miếu Ba Cô”

“Trên những trạm tỵ nạn hoang vu, tôi đã thấy những ngôi mộ hoang tàn, lạnh lùng, không khói không nhang. Những mộ bia bị đập nát tan, và trong khu rừng âm u, tôi thấy một cái miếu nhỏ. Tôi đã hỏi người Nam Dương cái miếu này là miếu gi. Thì ông ta nói đây là cái miếu của 3 cô gái Việt Nam đã bị hải tặc hãm hiếp và trôi dạt vào bờ, còn sống, họ vớt lên được. Nhưng vì uất hận, nhục nhã, 3 cô gái Việt Nam chưa đầy 20 tuổi đã lén ra ngoài khu rừng treo cổ, tự tử trên nhánh cây. Và người Nam Dương đã lập miếu thờ và gọi là Miếu Ba Cô”  

Và chuyện tấm ảnh của các em bé gái Việt Nam 5, 6 tuổi đang làm nô lệ tình dục tại Campuchia, do một người bạn phóng viên của ông gửi cho:

“Một ký giả ngoại quốc quen với tôi đi Campuchia và gửi về cho tôi một tấm ảnh, với giòng chữ viết ‘Hãy nhìn tấm ảnh này để thấy cả dân tộc của anh’. Ông ta chỉ viết như vậy thôi. Tôi lật tấm ảnh ra và tôi bàng hoàng, đấy là hình của 4 người con gái Việt Nam khoảng 6 tuổi, 7 tuổi, ngồi co ro trong một cái vách ở Campuchia và hai chân đầy cả máu. Những người con gái Việt Nam 5, 6 tuổi đã bị bán qua Campuchia để làm công cụ tình dục. Lịch sử Việt Nam chưa bao giờ có chuyện này. Chỉ có dưới chế độ cộng sản ngày nay”    

Và ông cũng nói lên ước vọng là muốn trao lại cho giới trẻ tinh thần bất khuất trước bạo lực và được đồng hành cùng thế hệ trẻ, một cuộc hành trình công tâm để dựng lại niềm tin và cùng hy sinh cho Mẹ Việt Nam :

“Thế hệ chúng tôi xin được hòa đồng cùng tuổi trẻ Việt Nam để từ đó chúng ta kết hợp lòng người giữa hai dòng thế hệ, để đòi lại quyền sống cho dân tộc Việt Nam. Tôi xin gửi lại cho các bạn trẻ những máu xương của anh em chúng tôi đã đổ xuống trên chiến trường miền Nam trong quân đội Việt Nam anh hùng nhưng đã bị bức tử sau những cánh cửa khép kín tại Hoa Thịnh Đốn, tại Ba Lê, tại Bắc Kinh và tại Moscow. Anh em chúng tôi đã ngậm ngùi buông súng xuống … nhưng không trao lại cho thế hệ tuổi trẻ những nỗi ngậm ngùi đó, mà xin trao lại cho tuổi trẻ cái tinh thần bất khuất của những người đã dám hy sinh cho tổ quốc” 

Có mặt trong buổi Tâm Tình này, phu nhân của ông Võ Đại Tôn tâm sự là mặc dù bà rất buồn khổ khi ông bị tù đày nhưng so với vợ của các nhà đấu tranh cho Dân Chủ trong nước thì bà còn may mắn hơn nhiều:

“Tôi cũng có sự đau khổ khi phải xa chồng nhưng tôi nghĩ đến những người đàn bà Việt Nam, sống trong hoàn cảnh rất là khó khăn. Cuộc sống đã khó khăn mà tiếng nói lại nhỏ bé, họ không làm gì được …”   

Buổi họp mặt có nhiều người trẻ tham dự, nha sĩ Chu Văn Cương chia sẻ là ông Võ Đại Tôn đã đem lại niềm phấn khởi cho giới trẻ Việt Nam và NS Cương cũng đồng ý với quan điểm là các thế hệ phải đồng hành để đạt được sư tín nhiệm của mọi người trong nỗ lực vận động cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền tại Việt Nam:

“Ông Võ Đại Tôn đã đem lại thêm niềm hy vọng cho những người ở đây. Nhờ vậy chúng tôi cảm thấy rất là phấn khởi để tiếp tục con đường đấu tranh mà mình đã chọn. Đây là một đường lối rất tốt và nếu chúng ta thắng được nhân tâm thì chúng ta sẽ đi tới được đoạn đường tốt đẹp hơn…”  

(*) Tuệ An là bút hiệu của Hiền Vy và Nguyễn Phục Hưng khi viết chung

Người Việt Houston cứu trợ nạn nhân bão Hải Yến

Phóng sự của VOA – Nguyễn Phục Hưng thực hiện

Phát thanh Thứ Tư, 18-12-2013

 

Theo các cơ quan truyền thông quốc tế thì tính đến ngày 13 tháng 12 năm 2013, sau khi bão Hải Yến đánh vào Philippines ngày 8 tháng 11 năm 2013, số người thiệt mạng lên đến hơn 6000, và 1800 người bị coi là mất tích, hơn 27ngàn người bị thương và khoảng 3triệu 9 trăm ngàn người mất nhà cửa, đang phải sống trong các trại tị nạn. Trước cảnh thương tâm này, cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản khắp nơi trên thế giới đã có những hoạt động cứu trợ người Phi rất tích cực.

Sau biến cố Tháng Tư 1975, rất nhiều người Việt, trên đường đi tìm tự do, đã được chính phủ và dân chúng Phi luật Tân giúp đỡ.  Đây là cơ hội cho người Việt tha hương tỏ lòng tương thân và biết ơn với chính phủ và dân tộc Phi.  Riêng tại Houston, sau buổi gây quỹ khẩn cấp tại trụ sở Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia vào ngày 17 tháng 11, 2013, Ủy Ban Cứu Trợ Nạn Nhân Bão Lụt Phi Luật Tân tại Houston được thành lập. Ủy Ban này đã tổ chức một cuộc gây quỹ qui mô với sự tham dự của nhiều đoàn thể người Việt và các cơ quan truyền thông tiếng Việt, đặc biệt là hệ thống SGN Network.  Ngày 12 tháng 12, 2013, Ủy Ban đã mở một cuộc họp báo tại Houston, để công bố kết quả và chính thức trao cho ông Steve Vetrano, Tổng Giám Đốc điều hành hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ, khu duyên hải Texas, một số tiền hơn 300 ngàn mỹ kim, để cứu trợ cho các nạn nhân bão Hải Yến.

Trong dịp này bà Kim Nguyễn, trưởng ban điều hợp của Ủy Ban cứu trợ đã nói rằng mục đích của cuộc gây quỹ là để đáp lại những tấm lòng nhân ái mà chính phủ và dân tộc Phi đã dành cho người Việt trên bước đường đi tìm tự do:

“Sau năm 1975 hàng triệu người VIệt Nam đã bỏ nước ra đi tìm tự do, đa số ra đi bằng những chiếc thuyền mong manh. Gần nửa triệu người đã bỏ mình trên biển cả hoặc bị chết vì hải tặc, vì đói khát. Nhiều trăm ngàn người đã tới Phi Luật Tân an toàn và họ được chính phủ cũng như dân Phi Luật Tân tận tình giúp đỡ. Để đáp lại ân tình này, cộng đồng người Việt hải ngoại khắp nơi trên thế giới nói chung và cộng đồng người Việt tại Houston nói riêng, đã có nhiều cuộc gây quỹ để cứu trợ nạn nhân bão lụt.  Ngày hôm nay quý vị hiện diện nơi đây để chứng kiến chúng tôi trao số tiền cứu trợ cho ông Steve Vetrano, đại diện cho Hồng Thập Tự…”

Cuộc gây quỹ có sự hỗ trợ nhiệt thành của Hội Đồng Liên Tôn Houston.  Trong buổi họp báo này, Linh mục Phạm Hữu Tâm, một thành viên của hội đồng liên tôn, có nhận xét là bão Hải Yến làm mọi người cùng chung làm việc và tạo nên sự thông cảm giữa các cộng đồng thiểu số:

“Cộng đồng Việt Nam lại càng gần gủi với cộng đồng của các người thiểu số, đặc biệt là người Phi Luật Tân.  Họ có dịp để cùng chia sẻ, họ cùng làm việc với cộng đồng chúng ta và đồng thời, họ cũng hiểu biết về cộng đồng chúng ta là một dân tộc hiền hòa, thương yêu, lễ độ và đầy tình con người, đầy tình biết ơn đối với ơn nghĩa mà chúng ta đã nhận từ họ lúc trước. Một điều nữa là cộng đồng bản xứ ở đây lại càng để ý và thấy quan trọng với cộng đồng người Việt nhiều hơn. Cho nên qua đó, chúng tôi cảm tạ Thiên Chúa, cảm tạ Thượng đế đã cho chúng ta có dịp làm việc chung với nhau, biến sự bất hạnh của con người thành niềm vui chia sẻ với các anh chị em khác.”

Sơ Lucy Lương, thuộc dòng nữ tu Đa Minh, là một trong những người tích cực vận động cho việc gây quỹ, cho là Phi Luật Tân đã luôn hết lòng giúp đỡ người tị nạn Việt nam cho đến phút cuối, khi mà các quốc gia khác đã từ chối. Sơ Lương bày tỏ sự cảm động trước sự thành công của công tác cứu trợ:

“Thiên Chúa đã dậy chúng ta lòng biết ơn và những người chia sẻ, thì Thiên Chúa là người quảng đại sẽ trả công cho họ. Vì thế giây phút này là giây phút mà tôi rất cảm động vì cái sự thành công và cái sự tốt đẹp, sự đoàn kết của anh chị em ở Houston này.”

Hiện diện trong buổi họp báo, ngoài nhiều đồng hương, các nhóm thiện nguyện trong cuộc gây quỹ qui mô, còn có nhiều người Phi Luật Tân tham dự. Ông Reyes một người Phi thuộc Phòng Thương Mại Mỹ Phi tại Houston, nói là ông rất mang ơn những sự trợ giúp rộng lượng của cộng đồng người Việt và chính phủ Phi Luật Tân cũng rất mang ơn những sự trợ giúp do người Việt gửi qua cho các nạn nhân:

Một thành viên của ủy ban gây quỹ là ông Nguyễn Đình Trung, người đã sống tại trại tỵ nạn Palawan trong suốt 16 năm, tâm tình với các người Phi hiện diện trong buổi họp báo, bằng tiếng Phi, gây cảm xúc cho nhiều người:

“Trung nói với tất cả người Phi bằng tiếng Phi là Trung ở Philippines 16 năm, Trung uống nước của Phi, ăn cơm của Phi, con của Trung đẻ ở Phi, 2 đứa. Nhiêu đó là đủ  để cho người ta biết rằng Phi là đất nước thứ hai của Trung, 16 năm không phải là thời gian ngắn. Trung thành thật cảm ơn người ta đã nới rộng vòng tay, nhận mình từ năm 1975 tới nay và hiện tại còn 3 người Việt tị nạn đang sống bên đó.  Trung thành thật cảm ơn họ, số tiền mà chúng ta đóng góp thật sự, Trung nói, là rất nhỏ nhưng mà từ trái tim của người Việt Nam tại Houston…”

Đại diện của cộng đồng người Mỹ gốc Phi tại Houston nói là từ trong đáy lòng, những người Mỹ gốc Phi cảm ơn sự giúp dỡ của cộng đồng người Việt Houston.

“On behalf of the Filipino American Community of  Houston, I would like to thank you…”

Ông Steve Vetrano phát biểu là ông rất hân hạnh thay mặt Hội Hồng Thập Tự, tiếp nhận số tiền hơn 300 ngàn Mỹ kim để xử dụng vào công tác cứu trợ và ông cảm ơn sự cố gắng của ban tổ chức và cộng đồng người Việt Houston:

“Thank you for your hard work in raising this these dollars and It is my honor to  be able to take this back to share with  the Red Cross net work, Thank You

Ủy Ban cho biết, mặc dù cuộc gây quỹ tổ chức tại Houston nhưng qua hệ thống internet, nhiều người Việt từ các tiểu bang khác và từ Canada cũng gửi về đóng góp. Ngoài ra, trong buổi họp báo, bà Vũ Thanh Thủy, giám đốc đài phát thanh Sàigòn Houston, là một trong hai người điều hợp chương trình, còn cho biết là sẽ có một phái đoàn trợ giúp y tế qua Phi Luật Tân vào tháng 2 năm 2014 để trực tiếp giúp đỡ các nạn nhân.

Rất nhiều người Việt tị nạn cộng sản nặng tình với dân tộc và chính phủ Phi.  Nhớ lại tấm lòng nhân ái của dân tộc và chính phủ Phi dành cho họ trên bước đường tị nạn, họ luôn cầu nguyện và tìm cách giúp những nạn nhân bão Hải Yên được sớm vuợt qua cơn thiên tai tàn khốc.  Hiện nay vẫn còn nhiều tổ chức khác nhau tại Houston tiếp tục nỗ lực gây quĩ cứu trợ nạn nhân bão lụt Phi Luật Tân. Và vào tối Thứ Bảy, 14 tháng 12, đài việt ngữ VAN-TV tại Houston cũng có truyền hình trực tiếp về buổi trao số tiền trên 60 ngàn Mỹ Kim cho Hội Hồng Thập Tự. Số tiền này do khán giả và thân chủ của đài VAN-TV đóng góp trong chương trình gây quĩ  trực tiếp, kéo dài 2 tuần trên làn sóng của Đài.

Nguyễn Phục Hưng, tường trình từ Houston, TX.