Lịch sử phát triển của 8Bongda web chuyên link Sopcast xem Bóng Đá

8Bongda – Website ra mắt năm 2010 chuyên cung cấp thông tin về Link Sopcast xem Bóng đá trực tuyến. 8Bongda hình thành và phát triển nhờ sự tài trợ của các Nhà cái Bóng Đá uy tín như : M8win, Ucw88. Tại 8Bongda, tất cả các thông tin bạn cần, hướng dẫn chi tiết cách xem bóng đá trực tuyến bằng phần mềm Sopcast một cách tốt nhất .

Link Sopcast xem bóng đá trực tuyến từ 8Bongda hôm nay

  • Link 1 : Hệ thống đang cập nhật
  • Link 2 : Hệ thống đang cập nhật
  • Link 3 : Hệ thống đang cập nhật

8Bongda hướng dẫn xem bóng đá bằng Sopcast thành công 100%

Để xem bóng đá bằng phần mền Sopcast. Bạn vui lòng thực hiện theo các bước sau :

Chúc bạn thành công !

Tính Chính Danh Của Đại Lễ Ngàn năm

Phàm việc lễ lạt từ bé đến lớn từ xưa đến nay đều có cái tích của nó. Đại lễ mang tính chất kinh đô, thủ đô thì càng phải cẩn thận. Tính chính danh phải được đặt lên hàng đầu. Đâu phải kiểu thương vay khóc mướn mà được việc!

Đại lễ ngàn năm Thăng Long – Hà Nội đã được duyệt và sẽ cử hành vào ngày 01 đến 10/10/2010 với lý do là vào năm 1010 vua Lý Công Uẩn đã dời đô từ Hoa Lư về Đại La và sau đó đặt tên là Thăng Long. Xét về nội dung của chiếu dời đô:

Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại , lấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.

Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế “long bàn, hổ cứ”, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.

Chiếu dời đô này hoàn toàn không thấy tinh thần độc lập dân tộc ở chỗ : Bản chiếu dời đô không thấy vị vua Việt Nam nào được vua Lý nêu tới để làm gương mà chỉ thấy chê bai nhà Đinh, nhà (Tiền) Lê. Lý Thái Tổ lấy việc làm của các triều đại của cường quyền đế quốc Trung Hoa để noi gương. Ông gọi đô hộ Cao Biền là Cao Vương, gọi thành Đại La là đô cũ. Điều này khiến “chiếu dời đô” không thể sánh được với “Nam quốc sơn hà” và “Bình Ngô Đại Cáo”. Từ đây suy ra việc dùng đại lễ từ 1-10/10/2010 với lý do chiếu dời đô, đổi tên Thăng Long là không có tính độc lập dân tộc.

Nếu thực sự cần thiết phải dùng đại lễ vì sự tồn tại của Thăng Long đến nay là 1000 năm thì càng khiên cưỡng. Trong chiếu dời đô Lý Công Uẩn đã nói rõ là ông lấy thành Đại La làm kinh đô mới chứ không phải là ông phát minh ra vùng đất đó. Tính từ Đại La đến Hà Nội hiện nay sẽ nhiều hơn 1000 năm rất nhiều, tại sao lại không gọi đại lễ là Đại La – Hà Nội? Đại La cũng là nơi định đô của Phùng Hưng chứ đâu chỉ là phủ đô hộ? Kể cả khi coi thành Đại La là bất chính vì là do Cao Biền xây nên thì tại Hà Nội cũng có vô số kinh đô của các vị vua Việt đóng đô trước cả Lý Thái Tổ; như vùng Cổ Loa của An Dương Vương, Ngô Quyền; vùng Mê Linh của hai Bà Trưng… mà tính độc lập dân tộc luôn được chính danh. Chính Ngô Quyền đóng đô ở Cổ Loa – Hà Nội là người đã đập tan quân Nam Hán và chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc. Có thể là đại lễ Cổ Loa – Hà Nội hay Mê Linh – Hà Nội hay không? Vì lẽ gì ta cứ phải lấy mốc là triều Lý? Đại lễ này có phải là lễ của riêng triều Lý? Chẳng thể vì một nhẽ là số 1000 vừa tròn vừa đẹp mà làm đại lễ cho số đó; tức là đại lễ MỘT NGÀN. Nếu vì sính chữ thấy Thăng Long mang nghĩa hay mà lờ đi chữ khác và lờ Cổ Loa đi vì dính đến con số 1000 nằm ở chỗ nhạy cảm để làm đại lễ lần này thì thử hỏi lịch sử Việt Nam đâu có còn là sử?

Tính về việc trị vì thì nhà Lý ở Thăng Long cũng chỉ được có 216 năm; Cao Biền trước ở đó cũng chỉ được vài chục năm, đâu phải nhà Lý ở lâu mà phải làm lễ. Nhà Hậu Lê (Lê sơ và Lê trung hưng) cộng lại cũng hơn 356 năm và cũng đặt kinh đô ở Thăng Long sau khi dời từ Lam Kinh ra, tại sao lại không lấy mốc đó để làm đại lễ? Thời đó cũng nổi tiếng với Bình Ngô Đại Cáo và câu nói của vua Lê Thánh Tông “Ta phải giữ gìn cho cẩn thận, đừng để ai lấy mất 1 phân núi, 1 tấc sông do vua Thái Tổ để lại”. Thời nhà Lê với nhiều bộ luật tiến bộ ra đời cũng như việc mở mang bờ cõi được phát huy mạnh mẽ vậy chẳng lẽ không bằng nhà Lý. Cách so sánh khác cũng thú vị, đó là nhà Lý thực chất không kinh qua chiến tranh vệ quốc mà cướp được ngôi vương của nhà tiền Lê từ tay Lê Ngoạ Triều. Nhà Hậu Lê có công đánh giặc ngoại xâm và giành ngôi vương trong cuộc chiến giành độc lập. Vậy tại sao không là Lam Kinh – Hà Nội?

Nếu tính về tính xuyên suốt thì vùng đất Hà Nội cũng đâu có là nơi đặt kinh đô của triều Lê và Nguyễn? Triều Lê đã có kinh đô mới là Tây Đô còn triều Nguyễn là Huế. Rõ ràng tính xuyên suốt của việc kinh đô luôn nằm trên đất Hà Nội là khó chấp nhận được để làm đại lễ. Các triều đại phong kiến định đô rồi dời đô là chuyện thường tình, đâu vì lẽ nhà Lý dời đô đến khu đất cũ của “Cao Vương” mà lại được coi là việc tốt độc nhất vô nhị? Thăng Long thành cũng bị đốt phá bao phen; các vị vua cũng đã bao lần phải bỏ thành chạy giặc phương Nam lẫn phương Bắc đó thôi.

Việc chọn thời gian để hành lễ cũng mang tính chất quá cẩu thả. Lý Công Uẩn viết chiếu dời đô vào mùa xuân năm 1010 và đến Tháng 7 thì dời đô. Ngày xưa cũng như nay việc lễ lạt, cúng bái tổ tiên… đều theo âm lịch và phải đúng ngày, việc chọn kỷ niệm vào Tháng 10 Dương lịch là hoàn toàn sai lệch về mặt tích cổ. Nên nhớ rằng cứ đến 10/3 âm lịch là dân ta nhớ đến giỗ tổ chứ không phải bất cứ ngày nào khác.

Xét tất cả những yếu tố tích cổ và so sánh giữa các lý do để tổ chức đại lễ thì hoàn toàn không nên làm đại lễ Thăng Long- Hà Nội. Chỉ có một lý do duy nhất để làm đại lễ này ở 1000 năm, đó là đổi tên Hà Nội thành Thăng Long thì may ra mới hợp. Mặt khác, thời điểm nhạy cảm hiện nay với Trung Quốc về mặt toàn vẹn lãnh thổ ở biên giới, biển, Hoàng Sa, Trường Sa… mà dựa vào bản “Chiếu dời đô” không có tinh thần độc lập dân tộc và lại tổ chức khai mạc vào 1/10 là ngày quốc khánh Trung Quốc thì thử hỏi có nên không?

Nguyễn Phương Anh

Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam

Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam

Trúc Lâm Lê An Bình biên khảo; Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc hiệu đính

– Thiên tài quân sự theo định nghĩa của Tự Điển Hán Việt của Đào Duy Anh trang 160 và 468 là,
Thiên tài: tài năng trời sinh
Quân sự: việc binh

– Trong Việt Nam Tự Điển quyển hạ (trang 1565 v à 1200) của các tác giả Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ cùng một nhóm văn hữu soạn, có ghi,
Thiên tài: Tài năng trời cho, không phải học hỏi hay tập-rèn nhiều mà vẫn giỏi hơn người: Đó là một thiên-tài của đất nước.
Quân sự: Việc quân, việc đánh giặc.

Cụm từ Thiên tài quân sự hay Thiên tài quân sự Việt Nam có hai ý nghĩa khác nhau.

1/ Thiên tài quân sự người có khả năng điều binh khiển tướng trời cho của thế giới.

2/ Thiên tài quân sự Việt Nam người có khả năng điều binh khiển tướng trời cho của Việt Nam cũng như của thế giới.

Một Thiên Tài Quân Sự là một vị Tướng có tài dụng binh như thần, có mưu lược sâu xa, có trí tuệ phán đoán tình hình đúng thời đúng lúc hơn nữa còn có tình thương (tức lòng NHÂN) với binh lính dưới quyền. Vị Tướng đó biết chăm sóc đời sống cho lính, không xem binh lính dưới quyền là nấc thang để bản thân leo lên địa vị tối cao, mà xem họ như những người thân trong gia đình, biết quý trọng xương máu binh lính, biết tìm cách bảo vệ tối đa sinh mạng binh sĩ mà vẫn tạo nên những chiến thắng lẫy lừng để lại tiếng thơm cho mai sau. Hơn nữa người cầm quân ngoài mặt trận phải là người có tinh thần dân tộc cao độ, chỉ một lòng vì tổ quốc và dân tộc chiến đấu chứ không vì bất kỳ tổ chức hay đảng phái nào.

Có được Đạo của người làm tướng, cũng như  khả  năng điều quân trời cho mới thực sự  là Thiên Tài Quân Sự thật sự và cũng là Thiên tài Quân Sự Việt Nam.

Cho nên mới có câu

Nhất tướng công thành vạn cốt khô

Không cần nhiều cốt khô, nhưng vẫn công được thành, ấy chính là Thiên Tài Quân Sự.

Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm thành Thăng-Long cũng như ngày giỗ lần thứ 35 Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu nguyên Tư  lịnh phó Quân đoàn III quân khu III – Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa – bị ám sát ngày 8 tháng 04 năm 1975, Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam và Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử tôn xưng Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam (nghĩa là bốn bậc tướng lãnh lớn của Việt Nam có tài điều binh khiển tướng của trời cho):

1/ Đức Vua Trần Nhân Tông

(1258-1310) Hoàng Đế Đại Việt. Hai lần thống lãnh quân dân Đại Việt phá tan quân Mông-cổ xâm lược 1285-1288; Người sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một dòng thiền hoàn toàn của Đại Việt. Ngài được người đời sau tôn xưng là Phật Hoàng Trần Nhân Tông.

Ngài có để lại cho đời sau các tác phẩm văn học như:

Chữ Tàu:
– Tăng Già Toái Sự.
– Thạch Thất Mị Ngữ.
– Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục.
– Trúc Lâm Hậu Lục.
– Ðại Hương Hải Ấn Thi Tập.

Chữ Việt (Nôm)
– Cư Trần Lạc Ðạo Phú.
– Ðắc Thú Lâm Tuyền Thành Ðạo Ca.

2/ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn 

( 興道大王陳國峻, 1232? – 1300) là danh tướng thời nhà Trần, có công lớn ba lần phá tan quân Nguyên xâm lược 1257, 1285, 1288.

Được phong Quốc công, tiết chế thống lĩnh tất cả các sắc quân tháng 10 năm 1283.

Là tác giả của bài Hịch Tướng Sĩ, bộ Binh Thư Yếu Lược (hay Binh Gia Diệu Lý Yếu Lược) và Vạn Kiếp Tông Bí  Truyn Thư (đã thất lạc). Ngài được dân Việt tôn sùng như bậc thánh, nên gọi là Đức Thánh Trần. Ngài còn được tín ngưỡng là một trong những vị thánh của dòng Đạo Nội là một Đạo giáo dân tộc.

Trong dân gian có câu:

Cha đây là Đức thánh Trần Hưng Đạo Đại vương, còn Mẹ là Tiên chúa Liễu Hạnh.

Tháng 2 năm 1984, Hội Hoàng Gia Anh, tức là viện Khoa Học Hoàng Gia Anh bầu ra 10 vị Tướng soái kiệt xuất nhất trong lịch sử nhân loại qua các thời đại. Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là vị Tướng Soái duy nhất được chọn với tuyệt đại đa số của thời trung cổ. Ngài đã từng ba lần đánh bại một đoàn quân mạnh nhất thế giới trải từ Âu sang Á, đó là Mông Cổ.

3/ Quang Trung Hoàng Đế Nguyễn Huệ

Nguyễn Huệ (阮惠; 1753 – 1792), còn được biết đến là Quang Trung Hoàng đế (光中皇帝), vua Quang Trung hay Bắc Bình Vương, là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn (ở ngôi từ 1788 tới 1792) sau Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc. Ông là một trong những lãnh đạo chính trị tài giỏi với nhiều cải cách xây dựng đất nước, quân sự xuất sắc trong lịch sửViệt Nam với những trận đánh trong nội chiến và chống ngoại xâm chưa thất bại lần nào. Do có nhiều công lao, Nguyễn Huệ cũng được xem là người anh hùng áo vải của  tộc Việt.

Nguyễn Huệ và hai người anh em của ông, được biết đến với tên gọi Anh em Tây Sơn, là những lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài giữa họ Trịnh ở phía Bắc và họ Nguyễn ở phía Nam, cũng như chấm dứt nhà Hậu Lê. Ngoài ra, Nguyễn Huệ còn là người đánh bại các cuộc xâm lược Đại Việt của Xiêm La từ phía Nam, của Đại Thanh (Trung Quốc) từ phía Bắc; đồng thời còn là người đề ra nhiều kế hoạch cải cách tiến bộ xây dựng Đại Việt.

Sau khi phá tan 20 vạn quân nhà Thanh, Quang Trung Hoàng Đế sắp xếp kế hoạch Bắc tiến lấy lại hai vùng đất Quảng Đông và Quảng Tây của Việt Nam; cũng như Nam chinh để tiêu diệt Nguyễn Ánh. Nhưng cả hai kế hoạch đều không thực hiện được.

Sau 20 năm liên tục chinh chiến và trị quốc, Nguyễn Huệ lâm bệnh và đột ngột qua đời ở tuổi 40. Sau khi ngài băng hà, nhà Tây Sơn suy yếu nhanh chóng. Những người kế thừa của Nguyễn Huệ không thể tiếp tục những kế hoạch ông đã đề ra để cai trị nước Đại Việt, lâm vào mâu thuẫn nội bộ và thất bại trong việc tiếp tục chống lại kẻ thù của Tây Sơn. Diệt Tây Sơn, nhà Nguyễn đã thừa hưởng được những thành quả của phong trào Tây Sơn – với đóng góp to lớn của Nguyễn Huệ – trong việc thống nhất đất nước.

Những cải cách lớn lao của Quang Trung Hoàng Đế :

1/ Thu hút nhân tài:

Trong Chiếu cầu hiền có đoạn:
“Trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng thấy đến. Hay Trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự?… Trẫm nơm nớp lo nghĩ, một ngày hai ngày cũng có hàng vạn sự việc nảy sinh Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn – sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình – sức một người không thể đảm đương”.

Các cựu thần nhà Lê trước đây, tiêu biểu là các tiến sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Nễ, Nguyễn Huy Lượng, Bùi Dương Lịch… đã ra giúp nhà Tây Sơn. La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp sau nhiều lần thoái thác, cuối cùng cũng nhận lời xuống núi giúp vua Quang Trung.

2/ Giáo dục:

Quang Trung bỏ Hán ngữ như là ngôn ngữ chính thức trong các văn bản của quốc gia. Ngôn ngữ chính thức được sử dụng là tiếng Việt và được viết trong các văn kiện hành chính bằng hệ thống chữ Nôm.[56] Quang Trung quy định các bài hịch, chiếu chỉ phải soạn bằng chữ Nôm; đề thi viết bằng chữ Nôm, và các sĩ tử phải làm bài bằng chữ Nôm. Ngài còn chủ trương thay toàn bộ sách học chữ Hán sang chữ Nôm nên năm 1791 đã cho lập “Sùng chính viện” để dịch kinh sách từ Hán sang Nôm.[56]

Theo sách Tây Sơn lược thuật, ông chọn một quan văn “5 ngày một lần vào cấm cung để giảng giải kinh sách”.[56] Ngoài ra, vua Quang Trung quan tâm đưa việc học đến tận thôn xã. Trong “Chiếu lập học” ông lệnh cho các xã::[56]“Phải chọn Nho sĩ bản địa có học thức, có hạnh kiểm đặt làm thầy dạy, giảng tập cho học trò”.

3/ Tôn giáo:

Quang Trung có một chính sách tôn giáo rất tự do và rộng rãi: dù là người đề cao Nho giáo nhưng ông vẫn bảo đảm hoạt động cho các tôn giáo khác như Phật giáo và các tín ngưỡng khác. Về Thiên Chúa giáo, các giáo sĩ tự do hoạt động, truyền đạo, xây dựng nhà thờ. Nhưng đồng thời ông cũng thi hành chính sách bài trừ mê tín dị đoan rất mạnh, chấn chỉnh lại việc tu hành: nhiều chùa ở các làng có mà người tu hành lạm dụng để truyền bá mê tín dị đoan bị đập bỏ để xây duy nhất một ngôi chùa ở huyện cấp trên, đồng thời những người tu hành không đạo đức, những kẻ lưu manh, lười biếng đều phải hoàn tục.

4/ Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu

Nguyên Thiếu tướng tư lịnh phó Quân đoàn III – Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa – sau khi bị ám sát chết ngày 08/04/1975 tại văn phòng Tư lịnh phó Quân đoàn, ngày 10/4/1975 ông được vinh thăng Trung Tướng.

Thân phụ của Tướng Hiếu là ông Nguyễn Văn Hướng sinh ngày 26.9.1903 và Tướng Nguyễn Văn Hiếu sinh ngày 23.6.1929 tại Thiên Tân, Trung Hoa!

Đến tháng 5 năm 1949, Tướng Hiếu hồi hương cùng thân phụ và theo học Khóa 3 (khóa Trần Hưng Đạo) trường Võ Bị Liên Quân Đà-Lạt và mãn khóa ngày 1.7.1951.

Ông thông thạo nhiều sinh ngữ quan trọng như Anh, Pháp, Đức và Quan Thoại.

Sau khi tốt nghiệp, Tướng Hiếu về phục vụ tại Phòng 3 Tổng Tham Mưu, Chợ Quán.

Ngày 15.8.1957 với cấp bậc Thiếu Tá, được cử ra làm Trưởng Phòng 3 Sư Đoàn 1 Bộ Binh ở Huế.

Đi học Khóa Chỉ Huy và Tham mưu Cao cấp ở Ft Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ, và tốt nghiệp ngày 10.5.1963.

1.6.1963 được thăng Trung Tá và làm Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 1 dưới quyền của Đại Tá Nguyễn Cao Trí.

– Sĩ Quan Tham Mưu (7/1953- Đại tá Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn I 11/11/1963; 12/1963-09/1964; Tham Mưu Trưởng quân đoàn II 24/10/1964-06/1966)

– Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh (11/1963-12/1963)

– 1.11.1967 được thăng Chuẩn Tướng và ngày 1.11.1968 được thăng Thiếu Tướng.

– Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh (07/9/1964-10/1964; 23/6/1966-8/1969)

– Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh (14/8/1969-6/1971)

Ông là một trong những vị Tướng được thăng cấp cao trong quân đội là nhờ tài năng tham mưu thiên phú từ cấp cơ bản và từ đơn vị nhỏ đi dần lên.

Tướng Hiếu còn một khả năng thiên phú quân sự khác đó là phối hợp bộ binh thiết giáp. Phương thức phối hợp không thua gì tướng George S. Patton của Quân đội Hoa Kỳ trong thế chiến thứ hai.

Là người có cuộc sống đơn giản thanh bạch, không khoa trương ồn ào, điềm tĩnh và khiêm nhường trong bóng tối, đã là một cặp chiến tướng kiệt xuất với Tướng Đỗ Cao Trí hết sức hiểu ý nhau trong binh ngũ. Hai vị Tướng đều tương kính nhau và đã đưa quân lực Việt Nam Cộng Hòa gặt hái nhiều chiến công vang dội.

Sở trường của Thiếu Tướng Hiếu là chiến thuật nhử địch lộ diện để tiêu diệt. Nổi bật là cuộc hành quân Snoul, 1971 ở Cao Miên. Nhưng chiến thuật dụ địch tuyệt vời này lại không thành công vì thượng cấp của ông là Tướng Minh thay đổi ý kiến vào phút chót.

Đại để là cuộc hành quân Toàn Thắng 02/71 sẽ được tổ chức từ tháng 3.1971 đến tháng 6.1971, Thiếu Tướng Hiếu sẽ dùng Trung Đoàn 8 Bộ Binh của SĐ5BB nhử địch trong khu vực Snoul. Nếu Sư Đoàn 5 Bắc Việt chấp nhận giao tranh và tung các Trung Đoàn 174 và 275 đánh Trung Đoàn 8, Quân Đoàn III sẽ sử dụng lập tức từ một đến ba sư đoàn bao vây tiêu diệt Sư Đoàn 5 Việt cộng.

Tướng Đỗ Cao Trí có đề nghị Bộ tổng tham mưu cử Tướng Hiếu làm tư lịnh Quân đoàn III thay thế ông, nhưng không được chấp nhận. Và  khi ông rời QĐ III nhậm chức Tư lịnh QĐ I thì tử nạn trực thăng.

Tướng Nguyễn Văn Minh được đề cử thay thế. Tướng Minh là Tướng văn phòng không phải tướng trận mạc, nên không mặn mà với kế hoạch dụ địch trước đó. Chiến thuật dụ địch không thay đổi, chỉ thay đổi ở chỗ dùng B52 diệt địch quân (áp lực của cố  vấn Mỹ) thay vì dùng ba sư đoàn bộ  binh để  diệt địch. Thiếu Tướng Hiếu lưu ý Tướng Minh, rằng dùng B52 rải bom không những giết chết binh sĩ việt cộng mà còn tàn sát luôn Trung Đoàn 8 VNCH, như vậy cái giá của chiến thắng là sinh mạng của hàng ngàn chiến sĩ Trung Đoàn 8 Bộ Binh. Đánh giặc theo kiểu giết người hàng loạt như vậy thì quá dễ, ngây ngô và vô nhân đạo quá.  Chính vì lòng NHÂN đối với binh sĩ dưới quyền mà Tướng Hiếu đã cưỡng lịnh cấp trên rồi bị trừng phạt.

– Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 1 (6/1971-2/1972)

– Thứ Trưởng Bài Trừ Tham Nhũng (2/1972-12/1973)

– Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 3 (29/10/1973-08/4/1975)

Các Chiến Công hiển hách của Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu:

– Quyết Thắng 202 (Đỗ Xá), 1964
– Pleime, 1965
– Thần Phong II, 1965
– Liên Kết 66
– Đại Bàng 800, 1967
– Toàn Thắng 46, 5-1970
– Toàn Thắng 8/B/5 , 10-1970
– Toàn Thắng TT02, Snoul 1971
– Svay Riêng, 1974
– Phụ tá đặc trách ủy ban chống tham nhũng, 2-1972-10-1973

Trúc Lâm Lê An Bình biên khảo tháng 03/2010; Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc hiệu đính tháng 02/2011.

Tham khảo:
– Đức Vua Trần Nhân Tông – Trúc Lâm Lê An Bình biên khảo
– Trang nhà Nguyễn Tín
– vi.Wikipedia.org

Ngân hàng, tổ chức tài chính Việt Nam – lịch sử phát triển

Sự ra đời của ngân hàng (Tổ chức tín dụng):

Ngân hàng ra đời từ một công việc rất đơn giản của việc giữ tài sản có giá trị cho chủ sở hữu của mình nhằm tránh những  thiệt hại. Đổi lại, chủ sở hữu phải thanh toán cho người giữ. Khi nhiệm vụ này mang lại nhiều lợi ích cho người gửi, mọi thứ cần được phân phối nhiều hơn và nhiều hơn nữa. Dần dần, các ngân hàng là nơi để kiếm tiền cho người dân bằng tiền.

tài chính ngân hàng

Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu tiền tăng lên, điều đó có nghĩa là nhu cầu cho vay trong xã hội ngày càng tăng. Với số tiền trong tay, người có tiền cần phải vay tiền vì số tiền trong tay của họ không phải lúc nào cũng đòi hỏi, đó là sự khác biệt về số tiền. Phải gửi và số tiền thu hồi từ chủ sở hữu. Đó là hoạt động cơ bản đầu tiên của một ngân hàng, gọi chung, nó là gây quỹ và cho vay ( mà ngày nay phát triển ra với nhiều hình thức như vay tín chấp, vay thế chấp giấy tờ nhà, vay nóng, vay trả góp)

Ngân hàng Trung ương Việt Nam

Ngân hàng trung ương (đôi khi được gọi là ngân hàng dự trữ hoặc các tổ chức tài chính) là các cơ quan chuyên trách về quản lý tài chính của các quốc gia / nhóm / quốc gia và chịu trách nhiệm quản lý tài chính. Chính sách tiền tệ Mục đích của ngân hàng trung ương là ổn định các giá trị tiền tệ, ổn định cung tiền, kiểm soát lãi suất và giúp giảm nguy cơ sụp đổ của các ngân hàng thương mại. Hầu hết các ngân hàng trung ương thuộc về nhà nước. Nhưng vẫn còn một mức độ độc lập của chính phủ.

Ngân hàng thương mại cổ phần

Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính cho vay tiền từ người gửi và cho vay đối với các công ty, cá nhân nộp các tài sản, nợ phải trả cho các công ty, cá nhân vay, cũng như tiền gửi tại các ngân hàng khác và số lượng trái phiếu ngân hàng sở hữu có. Tài sản đó Chênh lệch giữa số tiền được huy động và số tiền mượn, gửi vào ngân hàng và mua được gọi là vốn. Tài sản lưu động đã được tổ chức để ngăn chặn tiền gửi được gọi là dự trữ ngân hàng. Tổng vốn của ngân hàng được chia thành hai loại: vốn cấp 1 và vốn cấp 2.

Các ngân hàng tiêu biểu ngày nay và lịch sử

Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Là Ngân hàng thương mại lớn, giữ vai trò quan trọng, trụ cột của ngành Ngân hàng Việt Nam. Có hệ thống mạng lưới trải rộng toàn quốc với 01 Sở giao dịch, 151 Chi nhánh và trên 1000 Phòng giao dịch/ quỹ tiết kiệm.

Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín – (hay còn được gọi là Sacombank) Trên 210 chi nhánh và phòng giao dịch tại 44 tỉnh thành trong cả nước. Được đánh giá và xếp loại A (loại cao nhất) trong bảng xếp loại của Ngân hàng Nhà nước cho năm 2006 và xếp thứ 4 trong ngành tài chính tại Việt Nam do chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP đánh giá cho năm 2007. Sáp nhập với ngân hàng Phương nam.

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – (tên giao dịch quốc tế là Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development, viết tắt là AGRIBANK) là ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam tính theo tổng khối lượng tài sản.

Ngân hàng Kỹ Thương Việt Nam – (hay còn được gọi là Techcombank) là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần lớn ở Việt Nam, được thành lập năm 1993.

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – (tên giao dịch quốc tế: Bank for Investment and Development of Vietnam; tên gọi tắt: BIDV) là ngân hàng thương mại lớn thứ nhì Việt Nam (sau Agribank) tính theo tổng khối lượng tài sản và là doanh nghiệp lớn thứ tư Việt Nam theo báo cáo của UNDP năm 2007.

Ngân hàng Á Châu- ACB – (tên giao dịch bằng tiếng Anh: Asia Comercial Bank) được thành lập vào ngày 24 tháng 4 năm 1993, và chính thức đi vào họat động kinh doanh sau ngày 4 tháng 6 năm 1993.

Ngân hàng Hàng hải – (hay còn được gọi là Maritime Bank) thành lập ngày 12/07/1991 tại TP Cảng Hải Phòng, là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên ở nước ta.

Tổng hợp từ nhiều nguồn

Chọi gà ở Bavet Campuchia

Đá gà cựa sắt là một trò chơi rất được ưa chuộng tại Bavet Campuchia. Nơi đây là một cửa khẩu giao giữa Việt Nam và Campuchia và được xem là xứ sở của đá gà cựa sắt. Nơi đây thường diễn ra các trận đá gà tre cựa sắt nảy lửa hấp dẫn người xem.


Các cuộc chọi gà thường được tổ chức vào các ngày cuối tuần và thường thay đổi địa điểm tổ chức luân phiên và không trùng lặp. Thế nhưng, người chơi đến xem đá gà cựa sắt lại không phải đi xa mà tất cả các trận đá gà chỉ trong khuôn viên của trường đấu nào đó xung quanh cửa khẩu.
Khuôn viên của một trường đấu thường khá rộng rãi hình tròn và các hàng ghế khán giả được xếp xung quanh để các người chơi có thể thưởng thức các trận đấu nảy lửa một cách rõ ràng nhất. Phía sau là một phòng nhỏ để các người choi có thể có không gian để chăm sóc cho những chú chiến kê của mình. Để có được sự công bằng thì ban tổ chức thường đưa ra những luật riêng cho từng cuộc đấu.
Ban đầu để thể hiện sự công bằng thì ban tổ chức sẽ tiến hành đo cân nặng của các chú gà tre đá cựa sắt này. Những chú gà có cùng cân nặng sẽ được tổ chức để thi đấu với nhau. Ban tổ chức sẽ sắp xếp lịch thi đấu và sau đó từng cặp chiến kê sẽ được đưa ra để thi đấu theo lịch của ban tổ chức. Mỗi trận đấu sẽ có một trọng tài đã được ban tổ chức sắp xếp để cử hành.
Trong các cuộc chọi gà cựa sắt này, các chú chiến kê sẽ được trang bị một cựa sắt và một giải màu để người chơi có thể phân biệt. Trước khi bắt đầu các trận đá gà cựa sắt này thì luôn có những người môi giới cá cược sẽ đưa ra các kèo hoặc làm người trung gian để những người chơi có thể dự đoán kết quả của các cuộc đá gà này và đặt một số tiền mà người chơi mong muốn. Nhiệm vụ của người môi giới khá đơn giản khi chỉ cần tìm một thế cân bằng giữa khoản tiền cược cho 2 chú chiến kê và giao tiền giữa người chơi thằng và người chơi thua. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà người chơi có thể trực tiếp bắt kèo với nhau mà phải thông qua người trung gian do luật của ban tổ chức đã quy định. Và ít nhất người trung gian cũng sẽ nhận được một khoản hoa hồng trong mỗi kèo mà người chơi đưa ra số tiền cược.
Các trận đá gà cựa sắt này thường diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn, khi một trong hai chú gà không còn khả năng chiến đấu nữa thì trận đấu sẽ kết thúc. Thông thường các trận đấu sẽ chỉ diễn ra trong khoảng thời gian là 3 đến 5 phút. Khi một chú gà mất khả năng chiến đầu ví dụ như bỏ chạy hoặc chết thì xem như là thua cuộc.
Trong mỗi trận đấu, mỗi chú gà sẽ được trang bị một cựa sắt buộc vào chân với một đoạn băng keo màu. Người ta lấy màu sắc của băng chân đó làm tên gọi cho “võ sĩ” gà. Gà được buộc băng keo đỏ là “gà đỏ”, gà được buộc băng keo xanh là “gà xanh”.
Đây là một môi trường hấp dẫn thế nên việc đá gà cựa sắt tại đây đang được rất nhiều người việt nam cũng như campuchia yêu thích. Với quy định không quá gắt gao nên người chơi có thể đưa ra những khoản tiền cược bắt đầu từ 3 triệu đồng và không giới hạn

7M, Casino và lịch sử phát triển ngành công nghiệp cờ bạc

7m là gì?

7m vn
Vn 7m livescore,

Livescore 7M CN – 7M Sport là trang web chuyên tổng hợp các thông tin tỷ lệ ,Kết quả bóng đá 7m trực tuyến,trên trang này có rất nhiều thông tin hữu ích cho người muốn có dữ liệu bóng đá 7m dùng để làm các vấn đề liên quan tới nhận định ,cập nhật hay soi kèo tỷ số,xem các tỷ lệ cá cược bóng đá ,…7M CN Livescore – 7M Sport luôn luôn đưa đến những thông tin chính xác nhất.

7M, Casino và lịch sử phát triển ngành công nghiệp cờ bạc

Lasvegas , thành phố đông dân của tiểu bang Nevada, Hoa Kì được biết đến là chốn phồn hoa giải trí bậc nhất thế giới với hàng loạt các chuỗi nhà hàng, khách sạn, đặc biệt là những sòng bạc casino lộng lẫy và xa xỉ.

Lasvegas , thành phố đông dân của tiểu bang Nevada, Hoa Kì được biết đến là chốn phồn hoa giải trí bậc nhất thế giới với hàng loạt các chuỗi nhà hàng, khách sạn, đặc biệt là những sòng bạc casino lộng lẫy và xa xỉ. Đó là nơi những hội tụ sự may rủi, mánh khóe trong các trò chơi liên quan đến cờ bạc. Vậy nguồn gốc của những casino này bắt nguồn từ đâu? Con người biết đến đánh bạc, cá cược sự may rủi của mình để kiếm được những khoản tiền kếch xù từ lúc nào? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu một số thông tin về lịch sử phát triển của casino trên toàn thế giới.
Nguồn gốc của các sòng bạc casino tuy chưa được khẳng định rõ ràng, nhưng theo những tài liệu để lại cho thấy chúng xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc năm 2300 trước Công Nguyên. Ban đầu, người ta sử dụng những con xúc xắc lập phương với số điểm tương ứng trên mỗi mặt trong các cách thức chơi khác nhau. Ví dụ như người Hy Lạp và người La Mã, Pháp dưới thời Napoleon và nữ hoàng Anh ném xúc xắc để đánh bạc. Năm 1020, vua của 2 nước Na Uy và Thụy điển đã cá cược vùng lãnh thổ, tranh dành chủ quyền đất đai qua cặp xúc xắc. Vào khoảng năm 1387 ở Pháp đến năm 1440 ở Đức, việc dùng thẻ bài và các quân bài được ứng dụng phổ biến rộng rãi trong giới đánh bac.

Lịch sử casino phát triển theo từng năm

Lịch sử phát triển của casino thật sự mở rộng và phát triển bắt đầu từ năm 1994, tại quốc đảo phía đông Caribe là Antigua và Barbuda,họ đã xây dựng nên  ngành công nghiệp cờ bạc trực tuyến thông qua đạo luật thương mại cung cấp dịch vụ miễn phí và  tạo các sòng bạc ảo. Mô hình này còn được chính phủ cấp giấy phép hoạt động. Điều đó đã khiến cho nơi đây trở thành vị trí trung tâm trong ngành kinh doanh đánh bạc. Một trong những nhà sáng lập cung cấp phần mềm đánh bạc trực tuyến đứng hàng đầu thế giới là Micrograming.

Năm 1995 là năm đánh dấu cho sự bùng nổ cho ra đời các phần mềm đánh bạc trực tuyến, với mục tiêu tăng cường sự an toàn cho các hoạt động của sòng bạc, điển hình là phần mềm Cryptologic. Sau đó 1 năm, phần mềm Boss specialtidningar AB được phát triển để bổ trợ cho Cryptologic, và phần mềm eCash cũng được ứng dụng lần đầu tiên. Những phần mềm này mở ra cho người chơi những lợi ích tối ưu khi đánh bạc trực tuyến khiến cho họ có cảm giác thật sự như với những cảm xúc gay cấn trong đối đầu trực tiếp trong đời sống thực. Đến năm 1997, Antigua- Barbuda chuyển giao hệ thống Boss sang Media AB để hỗ trợ cho những hình phạt khi chơi cờ bạc trực tuyến.

Năm 1998, Micrograming đã mở ra 1 hệ thống Cash Splash với sự tiến bộ của hệ thống jackpot. Với chương trình mới này, ngành công nghiệp cờ bạc trực tuyến đã thu về 834,5 triệu đô ( theo thống kê của Frost và Sullivan).
Năm 1999, một số đạo luật ngăn cấm sự phát triển của ngành cờ bạc nhưng không thành công. Hãng phần mềm Micro đã khôn ngoan kí kết với công ty kiểm toán Big Five, Warterhouse- Coopers với cam kết báo cáo dữ liệu về tỉ lệ phần trăm thanh khoản tại sòng bạc. Trong năm này, một số sòng bạc trực tuyến tại Úc đã được cấp phép kinh doanh hoạt động. Năm 2000, các nước như Anh , Argentina đã mở cửa rộng rãi cho sự phát triển của lĩnh vực casino.
Ngày 22 tháng 3 năm 2001, PRNewswire mở cuộc khảo sát cho thấy có khoảng 8 triệu người đã tham gia đánh bạc.
Năm 2003, eCOGRA  quy chế thương mại điện tử và chơi game trực tuyến được thành lập với mục đích đảm bảo, quy chuẩn những khung công việc để  giúp cho việc điều hành đạt kết quả tốt nhất và những thử nghiệm đưa ra sẽ phù hợp cho ngành công nghiệp cờ bạc. Cũng trong năm này, poker đã thật sự bùng nổ với sự phát triển mạnh mẽ vượt bậc.
 
Năm 2004, Frost và Sulivan đã báo cáo rằng doanh thu của các sòng bạc trực tuyến trên thế giới đạt đến 8 tỉ đô, tăng từ 3 tỉ đô năm 2001. Tuy nhiên, google và yahoo , hai trang web lớn nhất đã không thông qua việc quảng cáo những vấn đề liên quan đến ngành công nghiệp cờ bạc. Tuy nhiên, năm 2005, Artigua Barbuda đã đưa ra những lập luận và phản chứng đối với  thông cáo của WTO tổ thức thương mại thế giới về các dịch vụ thỏa thuận.
Từ sau năm 2006, doanh thu của ngành công nghiệp cờ bạc không ngừng tăng lên một cách chóng mặt. Hàng triệu người trên thế giới đã coi đây là một thú giải trí không thể thiểu, đặc biệt là với tầng lớp thượng lưu. Vì thế, ngành công nghiệp cờ bạc đã có chỗ đừng không hề thấp kém thậm chí vượt mặt một số ngành kinh doanh thiết yếu khác.

Lời kết: Đối với ngành công nghiệp kinh doanh sòng bạc, đó là nơi có thể khiến cho con người giàu lên trong phút chốc hoặc khiến cho họ dễ dàng mất hết tất cả những gì đã tạo dựng. Không thể phủ nhận, sự đóng góp về mặt kinh tế của từ những casino lớn trên thế giới, Nhưng chúng ta đều nhận thấy đó cũng chính là nguồn gốc của tội phạm. Vì vậy, hiện nay việc kinh doanh sòng bạc vẫn chưa được hợp thức hóa tại một số nước. Thị trường cá cược tại Việt Nam trong những năm gần đây có một nét rất nổi trội với sự xuất hiện của https://ucw18.com/vn/index  với những trò chơi đặc sắc như chọi gà, casino online và nhiều trò chơi khác. Để biết thêm chi tiết những trò chơi thú vị này vui lòng truy cập https://ucw18.com/vn/da-ga-cua-sat

Tiền đề ra đời, phát triển của tài chính

Tài chính là một loại hình kinh tế – Lịch sử Sự tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của con người. Từ toàn bộ lịch sử phát triển tài chính xảy ra chúng ta thấy: sự ra đời của tài chính và sự hiện diện của các điều kiện lịch sử nhất định khi những hiện tượng kinh tế xã hội xuất hiện nhiều nhất. Đã xảy ra và sống sót Có thể xem các hiện tượng kinh tế xã hội, mục đích của nó là mục đích sống còn và phát triển tài chính.

Karl Marx trong Nghiên cứu Kinh tế Chính trị đã chỉ ra hai điều kiện tiên quyết cho tình trạng khẩn cấp, tình trạng khẩn cấp và sự tồn tại của các bang, sự xuất hiện và phát triển của các thị trường hàng hóa hàng hoá.

Giả định đầu tiên: Sự tồn tại của nhà nước

Ở dạng nhà nước xã hội chủ nghĩa, tài chính tồn tại như là một công cụ trong tay nhà nước để phân phối thu nhập xã hội và thu nhập quốc gia để đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. Nhà nước đầu tiên trong xã hội con người là nhà nước nô lệ, cùng với Sự nổi lên và sự tồn tại của các hình thức tài chính ban đầu, như thuế, bắt đầu nổi lên.

F. Enghen viết rằng: “Để bảo vệ quyền lực công cộng, đòi hỏi sự đóng góp của một công dân nhà nước phải đóng thuế. Với sự tiến bộ của nền văn minh, bản thân thuế không còn nữa; Chính phủ cũng ban hành một dự thảo trái phiếu, sẽ phát hành trái phiếu ”
Trong các hệ thống xã hội phát triển, các quốc gia có trách nhiệm xã hội trong mọi lĩnh vực, bao gồm kinh tế, văn hoá, giáo dục, bảo vệ … tất cả sẽ tăng cường tài chính của họ.
Như vậy có thể nói, trong những điều kiện lịch sử nhất định, khi xuất hiện, sự tồn tại và hoạt động của nhà nước, bản chất, sự tồn tại và hoạt động của tài chính.

Giả thuyết thứ hai: sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hoá.

Lịch sử phát triển tài chính cho thấy rằng khi mô hình tài chính đầu tiên xuất hiện trong tình trạng của nền kinh tế (thuế), sự nổi lên và sự tồn tại của sản xuất hàng hoá – tiền tệ và các mô hình tiền tệ. Việc sử dụng các mối quan hệ tài chính là cần thiết.

Trong chế độ nô lệ, các biện pháp tài chính đã được thiết lập. (Ví dụ, thuế quan, thuế, thuế gián tiếp, thuế thị trường, thuế tài sản, vv) trong hệ thống phong kiến, phù hợp với sự mở rộng quan hệ thị trường, sản xuất hàng hoá và tài chính, các lĩnh vực tài chính đã mở rộng và lan rộng hơn. (Chẳng hạn như đánh thuế gián tiếp về đất đai). Thu mua hàng tiêu dùng, thuế hộ gia đình, vv).

Với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế hàng hoá – thu nhập tài chính thông qua tiền và thuế đã trở thành nguồn thu nhập chính cho nhà nước. Bằng cách kiếm tiền, việc chi tiêu tiền đã làm tăng mẫu chi tiêu và linh hoạt trong khi sử dụng các khoản tiền. Vào thời kỳ phát triển kinh tế tư bản, một trong những ngân sách nhà nước tập trung của hệ thống tài chính tập trung là có hệ thống hơn và quan trọng hơn trong việc phân phối của cải xã hội. Về mặt giá trị

Phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều hơn, giá trị tiền tệ sẽ trở thành hình thức chính của doanh thu và chi tiêu của chính phủ. Sản phẩm kinh tế – Tiền đã mở rộng phạm vi của các mối quan hệ tài chính. Chủ nghĩa tư bản được sinh ra và phát triển. Giá trị tiền tệ của các mối quan hệ tài chính là một yếu tố trong bản chất của tài chính.

Vì vậy, sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hoá là điều kiện tiên quyết cho sự nổi lên và phát triển của tài chính.

Khi nói đến vị trí của tài chính, một số nhà lý luận kinh tế nhấn mạnh đến tiền đề đầu tiên đó là tập trung vào sự tồn tại của nhà nước. Nhưng một số nhà kinh tế không đồng ý. Các nhà kinh tế này cung cấp các ví dụ về các quốc gia Khmer không ý thức được nền kinh tế hàng hoá, vì vậy không có cơ sở tài chính. Nhiều nhà kinh tế tập trung vào điểm dị thường thứ hai. Những nhà kinh tế này nhấn mạnh sự nổi lên và sự tồn tại của đồng tiền và lập luận rằng đây là điều kiện tiên quyết cho sự nổi lên và sự tồn tại của vốn. Những lý thuyết này đề cập đến nền kinh tế xã hội chủ nghĩa khi các xã hội không chấp nhận hàng hóa. Nhưng tiền tệ đã tồn tại, vì vậy nó vẫn có cơ sở tài chính.

_ Tài chính Hana sưu tầm_

Khởi Nghĩa Lam Sơn – Phần II

Khởi Nghĩa Lam Sơn

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt và sự thành lập nhà Hậu Lê.

Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn:

Hoạt động ở vùng núi Thanh Hoá(1418-1423)

Tiến vào phía nam (1424-1425)

Và chiếm lại Đông Quan (1426-1427).

Khởi nghĩa Lam Sơn – Phần I

Khởi Nghĩa Lam Sơn

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt và sự thành lập nhà Hậu Lê.

Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn:

Hoạt động ở vùng núi Thanh Hoá(1418-1423)

Tiến vào phía nam (1424-1425)

Và chiếm lại Đông Quan (1426-1427).

Chuyện Xóm Tôi

Jennifer qua chào để dọn nhà đi nơi khác. Cô nói, nhà chỉ để lên HAR.com có một hôm là bán được ngay. Cô nghĩ có lẽ vợ chồng cô đã không biết giá thị trường nên có thể bị hớ.  Người mua, trả hơn giá đòi, cả trước khi agent cắm biển bán nhà. Theo cô, có lẽ người mua đã tìm nhà trong khu này lâu rồi, nên thấy, là mua ngay. Tôi hỏi sao đang ở vui vẻ mà lại bán nhà gấp làm gì. Cô hỏi lại:

– Chị không biết gì thật sao ?

Tôi ngạc nhiên nhìn cô, lắc đầu:

– Chuyện gì vậy ?

Cô à một tiếng, rồi nói nhanh:

– À! Đúng rồi, từ khi anh về hưu, anh chị đi chơi nhiều quá nên không để ý chuyện trong xóm, phải không ?

Tôi lại giải bày:

– Chúng tôi dọn về đây 2 năm. Rất thích xóm này vì cảm thấy an toàn và gần khu Bellaire.  Lúc mới dọn vào đây, tôi cũng có tham dự những buổi họp hằng tháng của xóm, nhưng từ ngày ông xã về hưu thì tôi lại ít tham gia chuyện bên ngoài.  Có chuyện gì mà tôi chưa biết vậy ?

Cô xuống giọng:

– Mới đây, trong xóm đề nghị ông Mike lên làm “chủ xị”, chị có biết không ?

– Chuyện đó tôi có biết nhưng ai làm trưởng xóm thì tôi cũng không quan tâm lắm đâu.

– Vậy là chị không biết ông ấy nhiều rồi.

– Có phải ông Mike, “next door neighbor” của tôi không vậy?

– Đúng rồi.

– Chuyện ông Mike được đề nghị làm trưởng xóm có liên hệ đến việc cô bán nhà sao ?

– Đó là lý do chính tụi em bán nhà, đó chị à.

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

– Việc ông Mike được đề nghị làm trưởng xóm là lý do chính cô bán nhà dọn đi chỗ khác ? Tôi thật tình không hiểu.

Jennifer nhìn tôi với ánh mắt ái ngại, rồi hỏi lại:

– Khi biết có thằng ăn cắp ở ngay trong xóm, rồi thằng này lại được đề nghị làm trưởng xóm. Chị có thể không quan tâm hay dửng dưng được không ? Chị có cảm thấy an toàn nữa không ?

– Dĩ nhiên là không. Nhưng tôi vẫn chưa hiểu được ý của Jennifer.

Jennifer lắc đầu, nhìn tôi ngao ngán:

– Ý em là không chấp nhận sự kiện như vậy, nên em phải bán nhà, dọn ra khỏi xóm này.

Tôi đưa hai bàn tay lên ôm nguyên khuôn mặt của mình, che luôn đôi mắt trong vài giây, rồi bỏ tay xuống, mở mắt ra, nhìn Jennifer, hỏi:

– Rồi nơi khu nhà mới, nếu có người xấu, Jenni lại dọn nhà nữa sao ?

Cô lớn giọng trả lời:

– Tụi em ra thật xa thành phố, mỗi nóc gia có vài mẫu đất, không có ai làm chủ xóm cả, chị à.

– Jenni có điều kiện thì làm như vậy được chứ chúng tôi thì không, nên phải có cách khác.

– Cách gì vậy? Nói cho em nghe được không ?

Mời Jenni uống tiếp ly nước táo và chanh mới xay xong, tôi chậm rãi nói:

– Thì tránh họ ra thôi.

– Chị à, nó ở ngay bên cạnh, làm sao chị tránh được.

– Ở xứ này, nhà ai nấy ở, nếu tốt, gặp nhau thì mình chào, còn không thì làm lơ như mình không thấy.

– OK! Coi như chị tránh được đi, nhưng bây giờ một thằng không có tư cách như vậy lại làm chủ xị, thì chị nghĩ sao ?

Đưa tay lên vén những sợi tóc đang lòa xòa trước mắt, thay vì trả lời Jenni, tôi hỏi lại:

– Jenni có theo dõi cuộc bầu cử trong cộng đồng mình tháng trước không?

– Lúc đầu em cũng muốn theo dõi nhưng khi có ban bầu cử, mà trưởng ban lại là người bị tai tiếng trong cộng đồng nên em chán, không thèm để ý đến nữa.

– Jenni có biết kết quả cuộc bầu cử không ?

– Có.

– Jenni thấy sao ?

– It’s OK.

Tôi cười nhẹ, rồi chậm rãi nói:

– Ai cũng nói về người trưởng ban đó không tốt, có người còn phát cả tờ rơi, là bản copy những giấy tờ tội phạm của ông ta, nên rất nhiều người không tham gia cuộc bầu cử, vì vậy năm nay số người đi bầu ít hơn 3 năm trước cả 3 ngàn người. Dù vậy kết quả của cuộc bầu cử thì đa số đều vui mừng…

Không chờ tôi nói hết câu, Jenni nóng nảy cắt ngang:

– Chuyện bầu cử trong cộng đồng thì có dính dáng gì với chuyện trong xóm mình hả chị ?

– Tôi chỉ muốn đưa ra thí dụ để nói với Jenni rằng, biết đâu trong xóm mình có người đề nghị cho ông Mike làm trưởng xóm vì họ thấy kết qủa của cuộc bầu cử trong cộng đồng mình.

– Em không hiểu ý chị!

– Tôi nghe có người nói là người xấu, khi được làm việc tốt, thì họ sẽ làm tốt hơn người bình thường.

Cười lớn, cô lắc đầu lia lịa, rồi nói:

– Em không tin đâu chị.

– OK, cô không tin thì thôi nhưng ngoài lý do chính thì còn có lý do phụ nào nữa?

Yên lặng một lát, Jenni hỏi lại tôi:

– Chị có thấy trong xóm này “phe đảng” không ?

Không suy nghĩ, tôi lắc đầu đáp ngay:

– Không, tôi chẳng thấy ai phe đảng gì cả.

– Có lẽ chị ít để ý chuyện chung quanh. Thôi, vậy cũng tốt chị à.

Nói xong, Jenni đưa tay lên gãi đầu rồi tự dưng đổi đề tài:

–  Em muốn hỏi chị là chuyện cái bà cà chớn TV, mấy tháng trước, khi ra cộng đồng làm việc, lại dùng tên của chị, bị chị viết thư gửi đi khắp nơi, nên bà ấy bị người ta chê cười. Bây giờ ai gặp bà ấy cũng gọi là HV-China, đến đâu rồi?

– Tại sao lại gọi là HV-China?

– Thì China chuyên làm đồ giả đó mà chị.

Tôi phá ra cười:

– Thiệt tình! Tôi chưa biết chuyện này, đó nha. Còn cô hỏi chuyện đến đâu thì tôi cũng chịu, chẳng biết nó tới đâu nhưng dạo gần đây, tôi gặp bà ấy vài lần ngoài cộng đồng, tôi lờ bà ấy đi.

Jenni nhanh nhẩu:

– Em cũng có thấy bà ấy một lần trên chùa VN. Em chỉ cho chồng em, ảnh nói “Ối Giời! Kinh thật!”

Chạm nhẹ tay Jenni, tôi nói:

– Jenni biết không, khi bà ấy lấy tên tôi để ra cộng đồng sinh hoạt với cô DS trẻ kia thì lúc đầu tôi cũng khá ngạc nhiên vì bà ta tên là TV, tôi đã gặp bà ấy, đã liên lạc emails, đã phỏng vấn bà ta trong một phóng sự của chúng tôi. Bà đã tự giới thiệu tên là TV. Tôi lại quen biết với vài người bạn của bà ta, những người biết bà ấy từ lúc bà mới dọn đến đây …

Jenni ngắt lời tôi:

– Vậy mà chị không làm dữ thì em cũng thua chị luôn.

– Để làm gì hả Jenni?

– Vạch mặt ra cho mọi người biết, chứ chị.

Tôi lắc đầu:

– Đừng tưởng người ta không biết Jenni ạ. Phần đông người ta khinh cho đấy chứ. Nhiều người emailed, phoned, text cho tôi nói về bà ta không hay ho chút nào. Tôi chỉ giải thích là, khi người ta đã có ý gian thì mình có nói hay có làm gì đi nữa cũng không ngăn được họ đâu. Họ không còn biết ngượng ngùng nữa đâu. Nếu biết ngượng, là người có tư cách, đạo đức rồi, thì đã không “cầm nhầm” tên tuổi hay sản phảm của người khác.

Jenni không đồng ý, cãi lại:

– Chị à, không nói, những hạng người đó lại tưởng là không ai biết, không bao giờ bỏ thói ăn cắp.

– Có lẽ chẳng cần phải chờ đến mình nói đâu Jenni à.

– Là sao, chị ?

– Nếu là người ưa cầm nhầm thì chắc chắn họ cầm nhầm đồ đạc, sản phẩm của nhiều người, thì thế nào cũng có người không im lặng như mình đâu.

– Nhưng chị là người bị cầm nhầm cả cái tên mà không lên tiếng thì hơi lạ.

– Không lạ đâu, Jenni. Tôi cũng đã làm những gì cần làm rồi đó chứ. Nếu không, thì Jenni làm gì biết chuyện đó, phải không ?

– Không đâu chị, tại em thấy mấy đài truyền hình giới thiệu là HV, mà chiếu ra cái bà hắc ám gì đâu, không phải chị, nên em cũng thắc mắc và hỏi chị đó chứ.

Tôi hạ thấp giọng một tí:

– Jennie thấy đó, cái tên mình còn bị người khác cầm nhầm thì sá gì mấy cái bài mình viết, bị thiên hạ cầm nhầm, phải không ?

– Thật ra em thấy bà ta cũng khôn quá trời đi chứ ?

– Khôn ?

– Chị không thấy hả, thì chỉ cần mượn một cái tên đã “thành danh” trong cộng đồng, đặt cho mình, thì sẽ có nhiều người nhầm tưởng mình là tác giả của những “sản phẩm đã có sẵn trên thị trường.”

Tôi cười muốn tắt thở với ý nghĩ lạ lùng của cô bạn nhỏ hàng xóm, rồi đính chính:

– Làm gì mà “thành danh” hả, Jennie.  Vài cái truyện ngắn, vài tấm hình, vài bài phóng sự, thì có gì đâu mà Jenni nói là “thành danh” ! Nói vậy, “chúng” chửi cho tắt bếp luôn đó cô à.

Jenni cũng cười theo và phụ họa:

– Còn những chương trình Sử, chương trình thiếu nhi trên LSR chị đã làm cả chục năm nữa chi ?

Tôi nghiêm trang đáp lời Jenni:

– Chỉ là những việc nhỏ xìu xiu thôi cô em à. Thích thì làm thôi chứ có gì mà Jenni cho nhiều credit vậy?

Tôi vừa dứt lời, Jenni đã nói nhanh:

– Chị nói credit, làm em nhớ vài năm trước, sau khi anh chị có bài phóng sự về chợ chồm hổm ở nhà thờ La Vang, thì ngay sau đó, mấy đài truyền hình ở đây cũng làm phóng sự đó, mà “tục” nhất là đài GLB-TV. Họ “cầm” nguyên  bài của đài VOA, thêm vài chi tiết khác rồi làm thành của họ mà không nhắc một tiếng là mượn bài của anh.

Tôi lại cười:

– Thì họ sập tiệm rồi đó! Xét cho cùng thì tại họ không có người viết bài thôi.

– Không có người viết, đi lấy bài nơi khác thì phải để “nguồn” chứ, chị.

Tôi trầm ngâm:

– Lúc đầu tôi cũng có ý phiền giận vì sự không trong sáng của họ.  Họ có thể lấy bài nhưng ít ra phải để xuất xứ. Sau này, tôi nghiệm ra một điều là họ cần những lời khen, nên để “tiện việc sổ sách” thì khỏi ghi gì cả để những ai không biết, sẽ tưởng họ viết, họ làm from scratch, rồi khen thưởng họ. Thôi, mình bỏ qua cho họ đi nha. Chuyện chôm chôm, cầm nhầm thì ở khắp nơi rồi, không chỉ ở Tầu, VN và những xứ chậm tiến, mà ngay cả người sống lâu năm tại Mỹ, tại Úc, cũng có không ít người mang chứng bệnh trầm kha này. Chừng nào Jenni dọn nhà?

– Cuối tuần này rồi chị.

– Tôi rất tiếc là vợ chồng Jenni dọn đi nơi khác. Nếu biết trước, tôi đã năn nỉ Jenni đừng bán nhà.

– Cám ơn chị, nhưng mọi việc đã xong rồi.

Đưa Jenni ra cửa, tôi nói trong tiếc nuối:

– Về đây được hai năm, tôi rất vui được quen biết với Jennie. Tôi mong rằng sau này sẽ có dịp ở gần với Jenni.

Cầm tay tôi, Jennie ngập ngừng:

– Em cũng mong có dịp ở gần chị. Biết đâu chừng, khi tụi em lớn tuổi, cũng sẽ dọn về lại gần đây cũng nên.

– Chúc Jenni vui với căn nhà mới và mong mọi điều tốt lành sẽ đến với gia đình cô./.