Tiền đề ra đời, phát triển của tài chính

Tài chính là một loại hình kinh tế – Lịch sử Sự tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của con người. Từ toàn bộ lịch sử phát triển tài chính xảy ra chúng ta thấy: sự ra đời của tài chính và sự hiện diện của các điều kiện lịch sử nhất định khi những hiện tượng kinh tế xã hội xuất hiện nhiều nhất. Đã xảy ra và sống sót Có thể xem các hiện tượng kinh tế xã hội, mục đích của nó là mục đích sống còn và phát triển tài chính.

Karl Marx trong Nghiên cứu Kinh tế Chính trị đã chỉ ra hai điều kiện tiên quyết cho tình trạng khẩn cấp, tình trạng khẩn cấp và sự tồn tại của các bang, sự xuất hiện và phát triển của các thị trường hàng hóa hàng hoá.

Giả định đầu tiên: Sự tồn tại của nhà nước

Ở dạng nhà nước xã hội chủ nghĩa, tài chính tồn tại như là một công cụ trong tay nhà nước để phân phối thu nhập xã hội và thu nhập quốc gia để đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. Nhà nước đầu tiên trong xã hội con người là nhà nước nô lệ, cùng với Sự nổi lên và sự tồn tại của các hình thức tài chính ban đầu, như thuế, bắt đầu nổi lên.

F. Enghen viết rằng: “Để bảo vệ quyền lực công cộng, đòi hỏi sự đóng góp của một công dân nhà nước phải đóng thuế. Với sự tiến bộ của nền văn minh, bản thân thuế không còn nữa; Chính phủ cũng ban hành một dự thảo trái phiếu, sẽ phát hành trái phiếu ”
Trong các hệ thống xã hội phát triển, các quốc gia có trách nhiệm xã hội trong mọi lĩnh vực, bao gồm kinh tế, văn hoá, giáo dục, bảo vệ … tất cả sẽ tăng cường tài chính của họ.
Như vậy có thể nói, trong những điều kiện lịch sử nhất định, khi xuất hiện, sự tồn tại và hoạt động của nhà nước, bản chất, sự tồn tại và hoạt động của tài chính.

Giả thuyết thứ hai: sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hoá.

Lịch sử phát triển tài chính cho thấy rằng khi mô hình tài chính đầu tiên xuất hiện trong tình trạng của nền kinh tế (thuế), sự nổi lên và sự tồn tại của sản xuất hàng hoá – tiền tệ và các mô hình tiền tệ. Việc sử dụng các mối quan hệ tài chính là cần thiết.

Trong chế độ nô lệ, các biện pháp tài chính đã được thiết lập. (Ví dụ, thuế quan, thuế, thuế gián tiếp, thuế thị trường, thuế tài sản, vv) trong hệ thống phong kiến, phù hợp với sự mở rộng quan hệ thị trường, sản xuất hàng hoá và tài chính, các lĩnh vực tài chính đã mở rộng và lan rộng hơn. (Chẳng hạn như đánh thuế gián tiếp về đất đai). Thu mua hàng tiêu dùng, thuế hộ gia đình, vv).

Với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế hàng hoá – thu nhập tài chính thông qua tiền và thuế đã trở thành nguồn thu nhập chính cho nhà nước. Bằng cách kiếm tiền, việc chi tiêu tiền đã làm tăng mẫu chi tiêu và linh hoạt trong khi sử dụng các khoản tiền. Vào thời kỳ phát triển kinh tế tư bản, một trong những ngân sách nhà nước tập trung của hệ thống tài chính tập trung là có hệ thống hơn và quan trọng hơn trong việc phân phối của cải xã hội. Về mặt giá trị

Phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều hơn, giá trị tiền tệ sẽ trở thành hình thức chính của doanh thu và chi tiêu của chính phủ. Sản phẩm kinh tế – Tiền đã mở rộng phạm vi của các mối quan hệ tài chính. Chủ nghĩa tư bản được sinh ra và phát triển. Giá trị tiền tệ của các mối quan hệ tài chính là một yếu tố trong bản chất của tài chính.

Vì vậy, sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hoá là điều kiện tiên quyết cho sự nổi lên và phát triển của tài chính.

Khi nói đến vị trí của tài chính, một số nhà lý luận kinh tế nhấn mạnh đến tiền đề đầu tiên đó là tập trung vào sự tồn tại của nhà nước. Nhưng một số nhà kinh tế không đồng ý. Các nhà kinh tế này cung cấp các ví dụ về các quốc gia Khmer không ý thức được nền kinh tế hàng hoá, vì vậy không có cơ sở tài chính. Nhiều nhà kinh tế tập trung vào điểm dị thường thứ hai. Những nhà kinh tế này nhấn mạnh sự nổi lên và sự tồn tại của đồng tiền và lập luận rằng đây là điều kiện tiên quyết cho sự nổi lên và sự tồn tại của vốn. Những lý thuyết này đề cập đến nền kinh tế xã hội chủ nghĩa khi các xã hội không chấp nhận hàng hóa. Nhưng tiền tệ đã tồn tại, vì vậy nó vẫn có cơ sở tài chính.

_ Tài chính Hana sưu tầm_

Khởi Nghĩa Lam Sơn – Phần II

Khởi Nghĩa Lam Sơn

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt và sự thành lập nhà Hậu Lê.

Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn:

Hoạt động ở vùng núi Thanh Hoá(1418-1423)

Tiến vào phía nam (1424-1425)

Và chiếm lại Đông Quan (1426-1427).

Khởi nghĩa Lam Sơn – Phần I

Khởi Nghĩa Lam Sơn

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt và sự thành lập nhà Hậu Lê.

Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn:

Hoạt động ở vùng núi Thanh Hoá(1418-1423)

Tiến vào phía nam (1424-1425)

Và chiếm lại Đông Quan (1426-1427).

Chuyện Xóm Tôi

Jennifer qua chào để dọn nhà đi nơi khác. Cô nói, nhà chỉ để lên HAR.com có một hôm là bán được ngay. Cô nghĩ có lẽ vợ chồng cô đã không biết giá thị trường nên có thể bị hớ.  Người mua, trả hơn giá đòi, cả trước khi agent cắm biển bán nhà. Theo cô, có lẽ người mua đã tìm nhà trong khu này lâu rồi, nên thấy, là mua ngay. Tôi hỏi sao đang ở vui vẻ mà lại bán nhà gấp làm gì. Cô hỏi lại:

– Chị không biết gì thật sao ?

Tôi ngạc nhiên nhìn cô, lắc đầu:

– Chuyện gì vậy ?

Cô à một tiếng, rồi nói nhanh:

– À! Đúng rồi, từ khi anh về hưu, anh chị đi chơi nhiều quá nên không để ý chuyện trong xóm, phải không ?

Tôi lại giải bày:

– Chúng tôi dọn về đây 2 năm. Rất thích xóm này vì cảm thấy an toàn và gần khu Bellaire.  Lúc mới dọn vào đây, tôi cũng có tham dự những buổi họp hằng tháng của xóm, nhưng từ ngày ông xã về hưu thì tôi lại ít tham gia chuyện bên ngoài.  Có chuyện gì mà tôi chưa biết vậy ?

Cô xuống giọng:

– Mới đây, trong xóm đề nghị ông Mike lên làm “chủ xị”, chị có biết không ?

– Chuyện đó tôi có biết nhưng ai làm trưởng xóm thì tôi cũng không quan tâm lắm đâu.

– Vậy là chị không biết ông ấy nhiều rồi.

– Có phải ông Mike, “next door neighbor” của tôi không vậy?

– Đúng rồi.

– Chuyện ông Mike được đề nghị làm trưởng xóm có liên hệ đến việc cô bán nhà sao ?

– Đó là lý do chính tụi em bán nhà, đó chị à.

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

– Việc ông Mike được đề nghị làm trưởng xóm là lý do chính cô bán nhà dọn đi chỗ khác ? Tôi thật tình không hiểu.

Jennifer nhìn tôi với ánh mắt ái ngại, rồi hỏi lại:

– Khi biết có thằng ăn cắp ở ngay trong xóm, rồi thằng này lại được đề nghị làm trưởng xóm. Chị có thể không quan tâm hay dửng dưng được không ? Chị có cảm thấy an toàn nữa không ?

– Dĩ nhiên là không. Nhưng tôi vẫn chưa hiểu được ý của Jennifer.

Jennifer lắc đầu, nhìn tôi ngao ngán:

– Ý em là không chấp nhận sự kiện như vậy, nên em phải bán nhà, dọn ra khỏi xóm này.

Tôi đưa hai bàn tay lên ôm nguyên khuôn mặt của mình, che luôn đôi mắt trong vài giây, rồi bỏ tay xuống, mở mắt ra, nhìn Jennifer, hỏi:

– Rồi nơi khu nhà mới, nếu có người xấu, Jenni lại dọn nhà nữa sao ?

Cô lớn giọng trả lời:

– Tụi em ra thật xa thành phố, mỗi nóc gia có vài mẫu đất, không có ai làm chủ xóm cả, chị à.

– Jenni có điều kiện thì làm như vậy được chứ chúng tôi thì không, nên phải có cách khác.

– Cách gì vậy? Nói cho em nghe được không ?

Mời Jenni uống tiếp ly nước táo và chanh mới xay xong, tôi chậm rãi nói:

– Thì tránh họ ra thôi.

– Chị à, nó ở ngay bên cạnh, làm sao chị tránh được.

– Ở xứ này, nhà ai nấy ở, nếu tốt, gặp nhau thì mình chào, còn không thì làm lơ như mình không thấy.

– OK! Coi như chị tránh được đi, nhưng bây giờ một thằng không có tư cách như vậy lại làm chủ xị, thì chị nghĩ sao ?

Đưa tay lên vén những sợi tóc đang lòa xòa trước mắt, thay vì trả lời Jenni, tôi hỏi lại:

– Jenni có theo dõi cuộc bầu cử trong cộng đồng mình tháng trước không?

– Lúc đầu em cũng muốn theo dõi nhưng khi có ban bầu cử, mà trưởng ban lại là người bị tai tiếng trong cộng đồng nên em chán, không thèm để ý đến nữa.

– Jenni có biết kết quả cuộc bầu cử không ?

– Có.

– Jenni thấy sao ?

– It’s OK.

Tôi cười nhẹ, rồi chậm rãi nói:

– Ai cũng nói về người trưởng ban đó không tốt, có người còn phát cả tờ rơi, là bản copy những giấy tờ tội phạm của ông ta, nên rất nhiều người không tham gia cuộc bầu cử, vì vậy năm nay số người đi bầu ít hơn 3 năm trước cả 3 ngàn người. Dù vậy kết quả của cuộc bầu cử thì đa số đều vui mừng…

Không chờ tôi nói hết câu, Jenni nóng nảy cắt ngang:

– Chuyện bầu cử trong cộng đồng thì có dính dáng gì với chuyện trong xóm mình hả chị ?

– Tôi chỉ muốn đưa ra thí dụ để nói với Jenni rằng, biết đâu trong xóm mình có người đề nghị cho ông Mike làm trưởng xóm vì họ thấy kết qủa của cuộc bầu cử trong cộng đồng mình.

– Em không hiểu ý chị!

– Tôi nghe có người nói là người xấu, khi được làm việc tốt, thì họ sẽ làm tốt hơn người bình thường.

Cười lớn, cô lắc đầu lia lịa, rồi nói:

– Em không tin đâu chị.

– OK, cô không tin thì thôi nhưng ngoài lý do chính thì còn có lý do phụ nào nữa?

Yên lặng một lát, Jenni hỏi lại tôi:

– Chị có thấy trong xóm này “phe đảng” không ?

Không suy nghĩ, tôi lắc đầu đáp ngay:

– Không, tôi chẳng thấy ai phe đảng gì cả.

– Có lẽ chị ít để ý chuyện chung quanh. Thôi, vậy cũng tốt chị à.

Nói xong, Jenni đưa tay lên gãi đầu rồi tự dưng đổi đề tài:

–  Em muốn hỏi chị là chuyện cái bà cà chớn TV, mấy tháng trước, khi ra cộng đồng làm việc, lại dùng tên của chị, bị chị viết thư gửi đi khắp nơi, nên bà ấy bị người ta chê cười. Bây giờ ai gặp bà ấy cũng gọi là HV-China, đến đâu rồi?

– Tại sao lại gọi là HV-China?

– Thì China chuyên làm đồ giả đó mà chị.

Tôi phá ra cười:

– Thiệt tình! Tôi chưa biết chuyện này, đó nha. Còn cô hỏi chuyện đến đâu thì tôi cũng chịu, chẳng biết nó tới đâu nhưng dạo gần đây, tôi gặp bà ấy vài lần ngoài cộng đồng, tôi lờ bà ấy đi.

Jenni nhanh nhẩu:

– Em cũng có thấy bà ấy một lần trên chùa VN. Em chỉ cho chồng em, ảnh nói “Ối Giời! Kinh thật!”

Chạm nhẹ tay Jenni, tôi nói:

– Jenni biết không, khi bà ấy lấy tên tôi để ra cộng đồng sinh hoạt với cô DS trẻ kia thì lúc đầu tôi cũng khá ngạc nhiên vì bà ta tên là TV, tôi đã gặp bà ấy, đã liên lạc emails, đã phỏng vấn bà ta trong một phóng sự của chúng tôi. Bà đã tự giới thiệu tên là TV. Tôi lại quen biết với vài người bạn của bà ta, những người biết bà ấy từ lúc bà mới dọn đến đây …

Jenni ngắt lời tôi:

– Vậy mà chị không làm dữ thì em cũng thua chị luôn.

– Để làm gì hả Jenni?

– Vạch mặt ra cho mọi người biết, chứ chị.

Tôi lắc đầu:

– Đừng tưởng người ta không biết Jenni ạ. Phần đông người ta khinh cho đấy chứ. Nhiều người emailed, phoned, text cho tôi nói về bà ta không hay ho chút nào. Tôi chỉ giải thích là, khi người ta đã có ý gian thì mình có nói hay có làm gì đi nữa cũng không ngăn được họ đâu. Họ không còn biết ngượng ngùng nữa đâu. Nếu biết ngượng, là người có tư cách, đạo đức rồi, thì đã không “cầm nhầm” tên tuổi hay sản phảm của người khác.

Jenni không đồng ý, cãi lại:

– Chị à, không nói, những hạng người đó lại tưởng là không ai biết, không bao giờ bỏ thói ăn cắp.

– Có lẽ chẳng cần phải chờ đến mình nói đâu Jenni à.

– Là sao, chị ?

– Nếu là người ưa cầm nhầm thì chắc chắn họ cầm nhầm đồ đạc, sản phẩm của nhiều người, thì thế nào cũng có người không im lặng như mình đâu.

– Nhưng chị là người bị cầm nhầm cả cái tên mà không lên tiếng thì hơi lạ.

– Không lạ đâu, Jenni. Tôi cũng đã làm những gì cần làm rồi đó chứ. Nếu không, thì Jenni làm gì biết chuyện đó, phải không ?

– Không đâu chị, tại em thấy mấy đài truyền hình giới thiệu là HV, mà chiếu ra cái bà hắc ám gì đâu, không phải chị, nên em cũng thắc mắc và hỏi chị đó chứ.

Tôi hạ thấp giọng một tí:

– Jennie thấy đó, cái tên mình còn bị người khác cầm nhầm thì sá gì mấy cái bài mình viết, bị thiên hạ cầm nhầm, phải không ?

– Thật ra em thấy bà ta cũng khôn quá trời đi chứ ?

– Khôn ?

– Chị không thấy hả, thì chỉ cần mượn một cái tên đã “thành danh” trong cộng đồng, đặt cho mình, thì sẽ có nhiều người nhầm tưởng mình là tác giả của những “sản phẩm đã có sẵn trên thị trường.”

Tôi cười muốn tắt thở với ý nghĩ lạ lùng của cô bạn nhỏ hàng xóm, rồi đính chính:

– Làm gì mà “thành danh” hả, Jennie.  Vài cái truyện ngắn, vài tấm hình, vài bài phóng sự, thì có gì đâu mà Jenni nói là “thành danh” ! Nói vậy, “chúng” chửi cho tắt bếp luôn đó cô à.

Jenni cũng cười theo và phụ họa:

– Còn những chương trình Sử, chương trình thiếu nhi trên LSR chị đã làm cả chục năm nữa chi ?

Tôi nghiêm trang đáp lời Jenni:

– Chỉ là những việc nhỏ xìu xiu thôi cô em à. Thích thì làm thôi chứ có gì mà Jenni cho nhiều credit vậy?

Tôi vừa dứt lời, Jenni đã nói nhanh:

– Chị nói credit, làm em nhớ vài năm trước, sau khi anh chị có bài phóng sự về chợ chồm hổm ở nhà thờ La Vang, thì ngay sau đó, mấy đài truyền hình ở đây cũng làm phóng sự đó, mà “tục” nhất là đài GLB-TV. Họ “cầm” nguyên  bài của đài VOA, thêm vài chi tiết khác rồi làm thành của họ mà không nhắc một tiếng là mượn bài của anh.

Tôi lại cười:

– Thì họ sập tiệm rồi đó! Xét cho cùng thì tại họ không có người viết bài thôi.

– Không có người viết, đi lấy bài nơi khác thì phải để “nguồn” chứ, chị.

Tôi trầm ngâm:

– Lúc đầu tôi cũng có ý phiền giận vì sự không trong sáng của họ.  Họ có thể lấy bài nhưng ít ra phải để xuất xứ. Sau này, tôi nghiệm ra một điều là họ cần những lời khen, nên để “tiện việc sổ sách” thì khỏi ghi gì cả để những ai không biết, sẽ tưởng họ viết, họ làm from scratch, rồi khen thưởng họ. Thôi, mình bỏ qua cho họ đi nha. Chuyện chôm chôm, cầm nhầm thì ở khắp nơi rồi, không chỉ ở Tầu, VN và những xứ chậm tiến, mà ngay cả người sống lâu năm tại Mỹ, tại Úc, cũng có không ít người mang chứng bệnh trầm kha này. Chừng nào Jenni dọn nhà?

– Cuối tuần này rồi chị.

– Tôi rất tiếc là vợ chồng Jenni dọn đi nơi khác. Nếu biết trước, tôi đã năn nỉ Jenni đừng bán nhà.

– Cám ơn chị, nhưng mọi việc đã xong rồi.

Đưa Jenni ra cửa, tôi nói trong tiếc nuối:

– Về đây được hai năm, tôi rất vui được quen biết với Jennie. Tôi mong rằng sau này sẽ có dịp ở gần với Jenni.

Cầm tay tôi, Jennie ngập ngừng:

– Em cũng mong có dịp ở gần chị. Biết đâu chừng, khi tụi em lớn tuổi, cũng sẽ dọn về lại gần đây cũng nên.

– Chúc Jenni vui với căn nhà mới và mong mọi điều tốt lành sẽ đến với gia đình cô./.

 

Xuân Trong Cửa Thiền

 

Sau hơn một tuần lễ làm việc với con số, kiểm tra sổ sách một công ty dầu, trong chuyến công tác đến thành phố nhỏ miền trung Mỹ, vào những tuần đầu tháng Hai của năm dương lịch, Thanh tìm được địa chỉ một ngôi chùa trong cuốn điện thoại niên giám. Không ngại cái lạnh triền miên của những ngày mùa đông, với cơn mưa tuyết vừa chấm dứt chiều hôm trước, Thanh quyết định lái xe đến đó để tìm không khí Tết trong lúc phải xa gia đình vào những ngày cuối năm âm lịch.

Trải qua những đoạn đường đông đá, cuối cùng thì cô cũng đến được ngôi chùa nhỏ, nằm khuất dưới những tàng cây không còn lá, trong khuôn đất rộng, với tấm biển nhỏ Tịnh Xá Thanh Lam bên ngoài hàng rào. Sáng sớm thứ Sáu, bãi đậu xe vắng vẻ, Thanh cẩn thận từng bước trên mặt sân còn trơn ướt. Mùi trầm hương thoang thoảng khi cô đến gần cửa. Định đưa tay gõ nhẹ cánh cửa bên góc trái, nhưng hàng chữ nhỏ đập vào mắt cô “Cửa mở, mời vào”.

Đẩy nhẹ cửa, hình ảnh một tu sĩ đang ngồi yên lặng trước bàn thờ Phật, quay lưng lại cửa ra vào, làm Thanh hơi khựng lại. Cô bỏ giày, khép nhẹ cửa, đi vào bên trong. Vị tu sĩ như không hề biết sự hiện diện của cô. Ngước nhìn tượng Phật màu trắng với khuôn mặt thanh thoát, Thanh cúi đầu, lễ ba lạy, rồi ngồi xuống phía cuối chánh điện.

Không biết Thanh đã ngồi đó bao lâu, nhưng khi cô bắt đầu xả thiền thì bắt gặp một ánh mắt trong sáng, hiền từ đang nhìn cô. Cô chắp tay chào, nhưng vị tu sĩ ra dấu, bảo cứ thong thả xả thiền. Chờ cô xả thiền xong, vị tu sĩ lên tiếng:

– Đạo hữu đến chùa sớm vậy có lạnh không ?

Thanh gật đầu:

– Vâng, trời ở đây lạnh quá!

– Đạo hữu từ đâu đến ?

– Dạ từ California.

Vị sư nhìn cô, hỏi:

– Đạo hữu mới dọn đến thành phố này ?

– Dạ không, con chỉ công tác ở đây vài tuần.

– Làm sao biết Chùa mà đến ?

Thanh bẽn lẽn:

– Dạ con coi trong cuốn điện thoại niên giám.

Với nụ cười thật hiền, vị sư hỏi tiếp:

– Sớm quá, có lẽ đạo hữu cũng chưa dùng điểm tâm, mời đạo hữu dùng sáng nhé?

Thấy Thanh có vẻ ngại ngùng, sư lên tiếng:

– Đừng ngại, tới chùa thì cứ tự nhiên.

Buổi điểm tâm với bánh tét nhân đậu xanh và dưa món chay làm Thanh chạnh nhớ những ngày Tết ở quê nhà. Nơi xứ lạ, dù khí hậu lạnh lẽo những ngày trước Tết, nhưng trong lòng Thanh rộn ràng ấm áp khi được biết Thanh Lam là chùa sư nữ.

Với nét mặt dịu hiền nhưng trong sáng, cùng với làn da trắng mịn màng, sư Diệu Hiền nhìn như chưa tới bốn mươi. Thanh không nhớ là mình đã gặp khuôn mặt thanh tú này ở đâu, chỉ biết là nhìn rất quen thuộc. Trí nhớ của Thanh không giúp nàng nhận diện được người trước mặt. Có lẽ vì giọng nói hiền hòa từ tốn của sư Diệu Hiền nên dù mới gặp, Thanh không ngần ngại chia sẻ vài chuyện rất riêng tư để rồi biết ra sư Diệu Hiền là cô Thục Hiền, em của cha Thanh, đã trốn gia đình, xuất gia gần 40 năm trước.

***

Những ngày cận Tết Quý Sửu (1973), Sàigòn có những cơn gió mát nhẹ làm Thục Hiền thêm hồi hộp trong sự đợi chờ. Mới ngày nào, tiễn Hoàng đi du học mà giờ đây chàng sắp về thăm gia đình. Hoàng là bạn của anh kế Thục Hiền, hay đến nhà học thi với anh nàng. Hoàng bày tỏ tình cảm qua những cử chỉ ân cần săn sóc, qua những ánh mắt tình tứ. Rồi khi xa nhà, những lá thư xuyên đại dương trong ba năm trời, gói trọn mối tình đầu của Thục Hiền. Những dòng chữ yêu thương, hứa hẹn, giúp nàng thoát được sự mai mối của người thân quen. Trước khi lên máy bay đi Đức, Hoàng đã nắm tay nàng nói nhỏ “Chờ anh nhé!” Chỉ ba chữ đó thôi mà Thục Hiền coi như lời hứa hôn và nàng đã hạnh phúc gật đầu với nước mắt rưng rưng.

Là con út trong một gia đình đông anh em, Thục Hiền lớn lên cùng các con của anh chị nàng. Có cháu còn ra đời trước cả Thục Hiền vài năm. Các cháu giỏi giang hơn dì út. Cô cháu gái Thục Vi, con bà chị cả, xinh đẹp thi đâu đậu đó, mới vào trường Dược được hai năm và đang có bạn trai là con của một luật sư nổi tiếng trong thành phố. Lúc Hoàng rời nước, Thục Vi chỉ 17 tuổi,  học lớp đệ nhị trung học (lớp 11). Thục Vi thương và rất gần gũi dì út Thục Hiền.

Lòng rộn ràng, Thục Hiền nôn nao chờ đợi. Nàng đếm từng ngày, từng phút, từng giây để ra phi trường đón người yêu. Tháng ngày chờ đợi dài vô tận nhưng nàng sống trong niềm hạnh phúc không cùng.  Ngày Hoàng về thăm nhà, Thục Hiền lại không được ra Tân Sơn Nhất đón người yêu vì mẹ Thục Vi nói xe không đủ chỗ ngồi, nhưng Thục Vi thì được theo mẹ ra phi trường.

Không ai biết được chuyện gì xảy ra trên chuyến xe từ Tân Sơn Nhất về nhà Hoàng, trong Chợ Lớn, ngày hôm đó, mà chỉ một tuần lễ sau là đám hỏi của Thục Vi và Hoàng. Đám cưới cử hành hai tuần sau đám hỏi. Và Hoàng trở lại Đức sau đám cưới một tuần. Bà con họ hàng thân hữu, bàn tán không dứt về cuộc hôn nhân lạ lùng này. Người thì cho rằng cưới như chạy tang, dù trong gia đình không có người chết. Người thì nói “chị giật chồng sắp cưới của em út cho con gái”. Có người chê Thục Vi cướp người yêu của dì út, nhưng có kẻ lại chê Hoàng ham vợ trẻ và giàu mà phụ người yêu. Người khách quan hơn thì cho rằng thời buổi loạn ly, ai lại không muốn tìm cách cho con đi ngoại quốc …

Không biết có phải là để tránh những bàn tán xôn xao về mình, hay là quá thất vọng vì sự thay đổi của người yêu, mà một ngày, sau khi Hoàng trở lại Đức, Thục Hiền cũng bỏ nhà ra đi. Trong bức thư để lại cho gia đình, Thục Hiền chỉ xin đừng tìm kiếm nàng, và hứa sẽ không làm tổn hại bản thân để khỏi phụ công ơn sinh thành dưỡng dục của song thân…

***

Trong lúc sư Diệu Hiền châm thêm trà vào tách cho Thanh, cô chậm rãi hỏi:

– Sao lúc đó Sư Cô lại bỏ nhà ra đi ?

Cười nhẹ, sư lắc đầu, rồi nói:

– Lúc đó bà con họ hàng bàn tán dữ quá, mẹ của Thục Vi thì bị bà con xỉ vả. Ai gặp, cũng đem chuyện đó ra hỏi, mà Cô thì không muốn thấy Thục Vi buồn. Bác Thiềm, mẹ của Vi, lại là chị cả trong nhà, nên cô chỉ muốn tránh mặt một thời gian.

– Cô vào Chùa từ lúc đó ?

– Chuyện khá dài dòng, cháu ạ. Lúc đó cháu còn nhỏ quá mà.

– Vâng, cháu mới 6 tuổi. Cô có buồn khi anh Hoàng cưới chị Thục Vi không ?

– Có chứ! Không những buồn mà còn thất vọng, hụt hẫng nữa. Từ lâu lắm rồi, Cô đã theo Bà đến Chùa lễ Phật.  Sau khi chú Hoàng đi Đức học, cô lại đến chùa nhiều hơn. Lúc đó, cô chưa biết gì về đạo Phật, chỉ đến lễ Phật và cầu nguyện mà thôi. Đến khi chú Hoàng về thăm nhà và cưới Thục Vi, rồi trở lại Đức để hoàn tất việc học, thì bác Thiềm thấy cô buồn quá nên lại làm mai, làm mối nhiều người khác cho cô …

– Ủa, sao lạ vậy ? Bác Thiềm có giải thích với cô vì sao anh Hoàng lại cưới chị Vi không ?

– Không, cháu ạ.

– Cô có hỏi anh Hoàng hay chị Vi không ?

– Cô không hỏi, nhưng Vi có nói với cô là “Me dàn xếp mọi chuyện”. Chú Hoàng thì tránh gặp mặt cô.

– Lúc đó cháu nhỏ quá, không biết gì hết. Đám cưới chị Vi xong thì cũng chẳng thấy cô đâu. Mãi sau này lớn lên, cháu nghe Bố Mẹ nói cô đi tu ngoài Đà Nẵng. Họ hàng nói cháu giống cô nhất nhà.

– Ừ, cháu giống cô lúc trẻ.

– Có lẽ vì vậy mà lúc nãy cháu cứ thấy cô quen quen.

– Cô cũng nghi là có liên hệ, khi mới thấy cháu.

– Cô đến Mỹ từ bao giờ ?

– Cũng hơn hai mươi năm rồi, cháu.

– Trong nhà, ai cũng tưởng cô vẫn còn ở Việt Nam.

Sư Diệu Hiền nhìn Thanh, chậm rãi nói:

– Cô nào có định đi khỏi Việt Nam đâu. Thời đó người Việt mình vượt biên chết nhiều quá nên Phật tử trong chùa năn nỉ cô đi với họ. Họ tin là có cô thì mọi việc sẽ hanh thông.

– Cô có biết Bố chết không ?

– Cô có nghe là Bố mất trong tù.

– Vâng, bị đi “trại cải tạo” đó cô.

– Mẹ cháu bây giờ ra sao ?

– Mẹ cháu cũng mất rồi cô.

– Mẹ cháu mất lúc nào ?

– Dạ qua đây mới mất.

– Mẹ cháu hiền, chị dâu mà thương cô hơn cả chị ruột.

– Cháu nghe mẹ kể là hồi đó mẹ đi kiếm cô quá chừng.

– Cô có biết, nhưng cô tránh gặp.

Nhìn sư Diệu Hiền thật lâu, Thanh ngập ngừng hỏi:

– Cô còn nhớ hay buồn chuyện ngày xưa không, cô ?

Lắc đầu, sư Diệu Hiền chậm rãi trả lời Thanh:

– Nếu nói quên chuyện xưa là không nói thật, nhưng buồn thì không, cháu ạ. Cô cho rằng cô có duyên đi tu nên mới xui đẩy những chuyện như thế.

– Là sao, cô ?

Sư Diệu Hiền trầm ngâm một lúc rồi thong thả nói:

– Cô phải thú thật là lúc đầu Cô đi tu vì thất vọng nhưng về sau cô hiểu ra và cảm ơn những người đã mang lại sự khổ đau ban đầu đó, bởi vì những bất hạnh đó mở ra một cuộc đời mới cho cô. Sự tu hành làm cô giảm đi Ái Nghiệp và hiểu được lý Nhân Duyên. Cô nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc đời, của tình yêu. Bây giờ trong sự thanh thản, cô đang cố theo gương Đức Phật, mang tâm Từ Bi trải cho mọi người và mọi loài. Có lẽ cháu không tin đâu, cô cũng không muốn nói nhiều về lý thuyết nhưng cháu cứ thử đi, ráng tu tập và cầu nguyện đức Phật Tự Tâm, cháu sẽ hiểu cô và có được sự nhẹ nhàng và hạnh phúc khi mình mang Tâm Từ trải rộng cho muôn loài, chứ không khép kín trong sự yêu thương đôi lứa hay trong họ hàng thân thuộc.

Thanh vẫn nghi ngờ, hỏi thêm:

– Tết đến rồi ở chùa Cô không buồn sao?

Ni sư Diệu Hiền mỉm cười, dịu dàng trả lời:

– Với người tu, thời gian và không gian không còn ảnh hưởng. Ngày xưa thiền sư Chân Không đời Lý có câu thơ này mà cô rất tâm đắc, cô đọc lại cho cháu nghe này:

“Xuân đến Xuân đi ngờ Xuân hết

Hoa nở Hoa tàn chỉ là Xuân”

Thành thử ra tất cả là tùy Tâm mình. Xuân, thu, ở Mỹ hay Việt Nam, nếu Tâm an thì lúc nào, ở đâu cũng là mùa xuân trên quê hương mình cả.

Thanh nhìn Sư Cô Diệu Hiền mà lòng cảm thấy an tịnh lạ thường. Nàng cảm thấy Mùa Xuân đang thực sự trở về dù thời tiết đang là những ngày cuối đông lạnh giá./.

 

Please! Be My Valentine!

Sáng sớm cuối Đông, trời còn hơi lạnh, mới hơn 5 giờ, Hoàng Uyên đã ngồi đọc báo trong lúc uống coffee. Nghe như có tiếng chân ai rón rén đến gần, nhưng cô vẫn không ngẩng đầu lên.
– Good Morning! – Chào Buổi sáng –

Tiếng chào quen thuộc làm Hoàng Uyên ngạc nhiên. Ngừng đọc báo, cô ngước lên nhìn, mỉm cười với người vừa chào mình, rồi đáp:
– Good Morning! Alex. Sao dậy sớm vậy ?

Alex với dáng rụt rè, hai tay giấu sau lưng, ngập ngừng:
– I don’t know. – Không biết! –

Hoàng Uyên hỏi:
– Alex có gì sau lưng đó ?

Lắc đầu nguầy nguậy, Alex nói thật nhanh:
– Nothing ! – Đâu có gì đâu!

Hoàng Uyên cười:
– OK! Không có gì !

Alex tiến đến gần Hoàng Uyên, rồi bất ngờ đưa hai tay đang giấu sau lưng, ra trước mặt Hoàng Uyên, nói nhanh:
– Happy Valentine!

Hoàng Uyên ngạc nhiên nhìn Alex, rồi nhìn vào nhánh hoa dại, và tấm thiệp trong tay Alex. Tấm thiệp tự làm với tờ giấy trắng, xé từ một cuốn tập nào đó, vẫn còn vết răng cưa, được xếp làm tư.

Xúc động, Hoàng Uyên đưa tay nhận, rồi từ từ mở tấm thiệp. Hình trái tim vẽ vụng dại, với hàng chữ viết nguệch ngoặc bằng Crayon …. “Please! Be My Valentine!”

Nước mắt dàn dụa trên má, Hoàng Uyên cúi xuống, bế Alex lên, nghẹn ngào chưa nói được gì, thì Alex đã lên tiếng:

– Pl…e…a…s…e…! Mommy … Please! Be my Valentine!

Hôn con liên tiếp mấy cái, Hoàng Uyên chậm rãi nói:

– Thank you so much, Alex! You are My Valentine!

Xuân Lẻ Loi

– Thục Uyên! Thục Uyên!…
Tiếng gọi ngạc nhiên chen lẫn ngỡ ngàng làm Thục Uyên ngơ ngác nhìn quanh. Wallee cũng rộn ràng chạy loay hoay dưới chân nàng như tìm kiếm. Đứng trong đoàn người hối hả vừa từ Caltrain Station túa ra để đến sở làm vào sáng sớm mùa đông của San Francisco, Thục Uyên nghe âm thanh của tên mình thật xa lạ với chính nàng. Ai mà biết mình giữa thành phố chưa quen vào buổi sáng tinh sương này ? Ý nghĩ đến nhanh trong đầu nàng, rồi tưởng mình đang mơ, Thục Uyên chăm chú nhìn vào đèn đường. Khi thấy dấu hiệu “đi” sáng lên trên cột đèn giao thông, Thục Uyên cúi xuống, lắc nhẹ chiếc dây trong tay, nối liền với cái vòng trên cổ của Wallee, nói:
– Wallee, ngoan nào, đi …
Thục Uyên chưa dứt lời, thì nghe một giọng nói thật ấm ngay sau lưng:
– Phải Thục Uyên không ?
Nàng hốt hoảng xoay nhanh người lại để bắt gặp một khuôn mặt đàn ông đang đối diện với mình. Người đàn ông nhìn nàng rồi đưa một tay ra như muốn choàng qua vai Thục Uyên. Nàng mừng rỡ reo lên:
– Ô! Anh Hoàng! Anh Hoàng hả ?
Người đàn ông xiết nhẹ vai nàng, gật đầu, rồi dồn dập hỏi nhanh:
– Sao Thục Uyên lại ở đây ? Qua đây lâu chưa ? Ở với ai ở đây ? Sáng sớm còn lạnh như vậy mà đi đâu đây ? …
Vừa hỏi Hoàng vừa kéo nàng đi nhanh theo đoàn người băng qua đường trong khi Wallee ngoan ngoãn chạy theo.
Vẫn nắm tay Thục Uyên khi đã đứng nép vào gần thân cây cherry bên góc đường, để nhường lối cho khách bộ hành, Hoàng nhìn xuống chú chó nhỏ lẩn quẩn dưới chân nàng, hỏi tiếp:
– Thục Uyên có chú chó đẹp quá!
– Thanks, nhưng Wallee là của Quang.
Hoàng ngạc nhiên:
– Cháu Quang ở San Francisco à ?
– Vâng, cháu ở đây từ lúc ra trường.
– Gần đây không ?
– Dạ 2 blocks.
Nhìn Thục Uyên, Hoàng tiếp lời:
– Thục Uyên chưa trả lời mấy câu hỏi của anh.
– Anh hỏi nhiều và nhanh quá, lại phải băng qua đường …
Hoàng cười:
– OK! OK! Xin lỗi! Tại bất ngờ quá!
Thục Uyên hỏi lại:
– Anh đi đâu mà lại thấy và nhận ra Uyên ?
– Đi làm. Vừa xuống train, đang đi vội để đến văn phòng thì chợt thấy có dáng ai quen quen. Tưởng là một cô Tàu nào, nhưng khi thấy gió làm bay nón của cái áo, rồi tóc dài bị gió thổi, anh ngờ ngợ là Uyên. Bèn gọi thử thì thấy “cô Tàu” nhìn quanh nên biết là Thục Uyên. Còn Uyên đi đâu với Wallee sớm vậy ?
Thục Uyên cười bẽn lẽn:
– Sáng nào Uyên cũng dắt Wallee đi một vòng…
– Ủa bao lâu rồi? Sao hôm nay anh mới thấy ? Anh vẫn đi con đường này từ mấy năm nay rồi mà.
Thục Uyên lắc đầu:
– Cũng mới đây thôi, nhưng mọi lần thì đi về hướng đường số 5. Sáng nay Quang text khi vừa đến sở, nói đừng đi hướng đó vì có tai nạn bắn nhau gì đó, nên Uyên đi ngược lại hướng đường số 3…
Hoàng reo lên:
– Ô! Hên quá, nhờ vậy anh mới gặp được Uyên.
Thục Uyên nhìn vội xuống chiếc đồng hồ trên tay mình, hỏi:
– Anh nói chuyện có trễ giờ làm không? Văn phòng gần đây không?
Hoàng đáp nhanh:
– Cách đây 10 blocks. Sáng nay anh có một buổi họp quan trọng rất sớm nên bây giờ phải xin Uyên địa chỉ của cháu Quang, và số phone của Uyên, khi họp xong, anh sẽ gọi và đến nhà cháu Quang, gặp Uyên nhé.
Ghi số phone và địa chỉ xong, Hoàng đưa tay ra nắm lấy bàn tay Thục Uyên bóp nhẹ, nói:
– OK, anh phải chạy, lát nữa anh gọi.
Nhìn theo Hoàng nhập vào đám đông trên đại lộ Brannan, đi về hướng Downtown, Thục Uyên vẫn không tin được những gì vừa xảy ra. Nàng chậm rãi cúi xuống bế Wallee lên, vỗ nhẹ vào đầu nó, rồi quay người lại, đi về hướng nhà Quang.

*

Suốt buổi họp, tâm trí Hoàng bị chi phối vì cuộc gặp gỡ tình cờ với Thục Uyên. Hơn mười năm trời không gặp mà nàng không hề thay đổi và chàng thì vẫn xúc động dạt dào khi gặp lại. Hình ảnh Thục Uyên những ngày còn là sinh viên của trường UT hiện ra như những thước phim quay chậm trong đầu Hoàng. Cô sinh viên nhỏ nhắn, tóc dài nhưng luôn cột cao, làm cho khuôn mặt càng thêm thanh tú, đã khiến chàng giáo sư rung động mỗi lần cô hỏi bài. Dù ái mộ nàng đến đâu thì Hoàng cũng không thể bày tỏ cảm tình của mình vì chàng đã có gia đình. Suốt 4 năm học tại Austin, Thục Uyên vẫn một mình chăm chỉ học, không tham dự những cuộc vui của bạn cùng lứa. Có nhiều lần, Hoàng đã cố gợi chuyện để tìm hiểu về nàng, nhưng Thục Uyên khá kín đáo nên Hoàng không biết nhiều về cô. Chỉ có một lần, vì không hiểu nhiều chữ Anh ngữ, cô mới tâm sự là chỉ mới đến Mỹ vài năm trước đó. Và rồi do một tình cờ, chàng đã biết được là trên đường vượt biển tìm tự do, tàu của Thục Uyên đã gặp hải tặc. Học xong, Thục Uyên có việc làm ở Houston rồi lập gia đình. Hoàng vẫn theo dõi cuộc sống của nàng và biết nàng không hạnh phúc với chồng dù họ có một con trai. Rồi họ chia tay cách đây ba năm, trước khi Quang học xong.
Những giòng tư tưởng chạy lung tung trong đầu Hoàng cho đến khi xong buổi họp, chàng vội ra ngoài để gọi cho Thục Uyên. Cuối cùng thì hẹn được với nàng tại nhà hàng Freshroll, ngay trên đường số 4, chỉ cách nhà Quang vài blocks đường.

*

Thục Uyên nghiêng bên phải, nhìn qua trái trước tấm gương, rồi thêm chút phấn hồng, tí môi son, tí bút chì trên đường viền mắt, trên hàng lông mày… cho tới khi bằng lòng với những gì nàng thấy, mới bước ra khỏi phòng tắm. Nàng tự hỏi tại sao mình lại “điệu” đến thế. Lâu lắm rồi nàng không dùng tới những hộp mỹ phẩm này, nhất là từ lúc dọn đến San Francisco vì nàng chẳng đi đâu ngoài việc dắt Wallee ngày hai lần ra đường và đi mua thực phẩm cho mẹ con nàng. Thục Uyên không có người quen biết nào ở đây, ngoài Quang. Nàng quyết định về hưu ở tuổi 50 để theo con qua thành phố Cựu Kim Sơn sống.
Thục Uyên nghe mình tự hỏi, là đi gặp và ăn trưa với một người quen ngày xưa thì tại sao phải rộn ràng, cuống quít như vậy. Nàng mỉm cười khi nghĩ tới người giảng sư của đại học Austin năm nào đã chiếm nhiều cảm tình của nàng thuở ấy nhưng chưa hề có một hẹn hò giữa hai người. Cuộc hành trình kinh hoàng trên biển cả để tìm tự do, đã mang lại tâm trạng sợ hãi cho nàng khi gặp những người khác phái. Nàng nhớ lại những ngày đến trường trong cô đơn ở thủ phủ Austin của tiểu bang Texas đã làm nàng suýt bỏ học mấy lần, nhưng rồi nàng cũng qua được những lúc buồn chán để quyết chí học hành. Với sự giúp đỡ không ít của người giáo sư tốt bụng tên Hoàng, cuối cùng thì nàng cũng học xong. Thục Uyên biết Hoàng có gia đình và tình cảm giữa hai người cũng rất chừng mực, tuy nhiên, những lần ngồi nghe Hoàng kiên nhẫn giảng bài cho mình, Thục Uyên không khỏi xúc động.
Với mảnh bằng cử nhân của UT- Austin, Thục Uyên có việc làm ở Houston. Tại đây nàng gặp và kết hôn với một đồng nghiệp. Dù Thục Uyên đã không dấu diếm chồng về tai họa khủng khiếp nàng gặp trên biển cả, nhưng cuộc hôn nhân cũng bị ảnh hưởng nặng nề vì chuyện đó. Có lẽ những cơn ác mộng thỉnh thoảng đến với nàng ban đêm đã làm phiền lòng người phối ngẫu. Nhưng làm sao nàng có thể bảo lòng đừng nhớ đến những tai họa kinh hoàng đó! Rồi cuối cùng họ phải chia tay khi Quang vẫn còn chưa học xong cử nhân…

*

Từ ngã tư đường Howard, Thục Uyên đã thấy Hoàng đứng chờ trước tiệm Freshroll, không dưng tim nàng đập nhanh hơn bình thường. Hơi bối rối, nàng chợt mỉm cười một mình. “Lạ thật! Sao mình giống người say vậy nè?”, Thục Uyên lẩm bẩm, rồi đi nhanh hơn.
Đón nàng với nụ cười thật tươi, Hoàng ân cần hỏi:
– Đi bộ mệt không ?
Thục Uyên lắc đầu:
– Không đâu, ngày nào Uyên cũng đi vài miles mà.
– Thục Uyên có thường ăn ở đây không ?
– Không thường lắm ạ. Còn anh thì sao ?
Hoàng cười:
– Mỗi tuần vài lần thôi.
– Vậy là anh ăn hết các món ở Freshroll rồi hả ?
Hoàng nheo mắt:
– Còn phải hỏi!
Rồi tinh nghịch nói tiếp:
– Thục Uyên có muốn hỏi món nào ngon không ?
– Không cần hỏi đâu. Nhờ anh order giùm luôn.
Hoàng cười lớn:
– Ấy! Không nên! Không nên! Dù tôi vẫn nhớ Uyên thích món gỏi cuốn.
Thục Uyên ngạc nhiên:
– Trí nhớ của anh hay thiệt! Được đi ăn với anh có 2 lần ở Austin mà anh vẫn nhớ Uyên thích gỏi cuốn.
– Nhớ chứ, vì từ đó đến giờ tôi cũng thích món này luôn.
Mở mắt lớn nhìn Hoàng, Uyên hỏi:
– Thật vậy hả ?
Hoàng trêu:
– Không thật! Hơi nói dối đấy.
Thục Uyên cười theo:
– Anh vẫn không thay đổi gì cả sau bao nhiêu năm …
Hoàng vờ nghiêm mặt:
– Làm sao thay đổi được khi mình không muốn thay đổi.
Đánh nhẹ vào tay Hoàng, Uyên nói:
– Thiệt tình! Nghiêm chỉnh đi ông thầy.
– OK, nghiêm chỉnh đây. Thục Uyên muốn ăn gì ?
– Tiệm Freshroll thì có lẽ ăn spring roll là hợp lý, phải không ạ.

*

Ăn trưa xong, Hoàng rủ Thục Uyên ra công viên ngay sau lưng tiệm. Ngồi dưới bóng của một cây cổ thụ, hai người nhắc đến những ngày ở Austin. Rồi Hoàng cho biết là hiện đang ở tận San Jose, mỗi sáng đón train vào San Francisco làm việc, chiều lại đi train về. Chàng còn nói là chỉ làm thêm vài năm nữa thì về hưu. Thục Uyên thắc mắc:
– Gia đình anh thì sao ?
– Bây giờ anh ở một mình.
– Ủa! Sao vậy ?
– Tụi anh đang ly thân.
– Oh! Sorry, anh Hoàng.
– Không sao đâu, Thục Uyên!
– Em có thể hỏi tại sao không ?
Nhìn Thục Uyên, Hoàng ngần ngại, nói chậm :
– Có quá nhiều khác biệt giữa hai người.
– Sorry! …
Hoàng để tay lên vai Uyên, rồi lắc đầu:
– Chịu đựng nhau lâu quá và nhiều quá cũng không tốt, đâu Uyên.
– Vâng…
Thấy Hoàng im lặng hơi lâu, Thục Uyên nhắc:
– Anh cần trở lại sở chưa ?
– Không cần đâu. Anh đã nói với bà thư ký là anh nghỉ luôn chiều nay.
– Vậy sao ?
– Gặp lại Uyên anh mừng quá. Có nhiều chuyện cần nói với Uyên.
– Vâng.
Hoàng ngập ngừng:
– Có lẽ Uyên cũng biết cảm tình anh dành cho Uyên từ dạo còn ở Austin ?
Uyên lắc đầu:
– Em không hiểu rõ lắm đâu.
– Anh tưởng Uyên biết.
– Sao hồi đó anh không nói ?
– Anh thì có gia đình. Uyên thì luôn luôn khép kín. Rồi Uyên lập gia đình, anh tôn trọng Uyên nên phải giữ tình cảm trong lòng…
Thục Uyên nhìn Hoàng, chậm rãi nói:
– Có lẽ cứ để yên như vậy mà tốt đó, anh Hoàng.
Hoàng lắc đầu:
– Tới lúc mình cần phải sống cho chính mình Uyên ạ.

*

Tiễn Hoàng ở trạm xe lửa để về nhà chiều đó, Thục Uyên hứa sẽ gặp lại Hoàng cuối tuần tới ở San Jose để cùng lên tu Viện Kim Sơn đón Tết. Câu nói của Hoàng làm Thục Uyên suy nghĩ mấy ngày liền. Muốn lắm chứ, có một người bên cạnh trong tuổi xế chiều. Thèm lắm chứ, một vòng tay ôm khi trời trở lạnh. Nhưng những cơn ác mộng lại đến với nàng trong đêm vắng. Nỗi sợ hãi kinh hoàng khi thức dậy sau những cơn mơ hãi hùng làm nàng ngần ngại khi suy nghĩ về câu nói của Hoàng. Thục Uyên biết mình sẽ không thể sống hạnh phúc bên một người đàn ông nào cả, cũng như sẽ không mang lại hạnh phúc cho ai.
Ba năm nay, nàng đã thấy yên ổn hơn khi chia tay với chồng. Những cơn ác mộng thưa dần với thời gian. Nhưng gặp lại Hoàng rồi nghe lời đề nghị của chàng lại làm nàng nhớ lại những chuyện hãi hùng trên đại dương cách đây đã 30 năm. Những chuyện mà nàng đã cố gắng không nghĩ tới, những chuyện mà nàng không dám nhớ tới. Nước mắt lăn dài trên má, Thục Uyên biết cuối cuộc đời nàng sẽ chỉ là một người cô độc, lẻ loi mà thôi. Nàng không muốn thêm một người nào nữa phải chịu chung những khổ đau của nàng. Mùa Xuân đã thật sự từ giã nàng trên chuyến vượt biển tìm tự do năm xưa. Dưới chân nàng Wallee đang nằm ngủ ngon lành. Thân nhiệt của nó như đang sưởi ấm đôi chân lạnh ngắt của Thục Uyên. Có lẽ chỉ có Wallee là bạn đồng hành với nàng trong cuộc đời còn lại mà thôi.

Một Chuyến Đi

San Francisco và…
Những Người Đàn Ông… Của Tôi

Cánh cửa vừa khép lại sau lưng, cơn gió lạnh làm tôi rùng mình, chợt thấy như tiếc nuối không khí ấm áp, thân mật với ánh sáng mờ mờ ảo ảo tỏa ra từ những ngọn nến hồng, được chưng trên mỗi bàn của tiệm ăn Asha. Bữa cơm tối với món canh chua Thái cay và nóng chỉ còn là “dư âm”.

Tôi quay qua nhìn ba người đàn ông đang vui vẻ chuyện trò. Họ bận cười, bận nói, bận trêu nhau, không ai thấy tôi đang co ro vì lạnh. Tôi lên tiếng:
– Lạnh quá!
Người đàn ông thứ nhất nheo mắt:
– Có lạnh gì đâu!
Tôi cãi lại
– Lạnh mà !
Ông cười, hỏi:
– Có cần ôm không?
Tôi lắc đầu nguầy nguậy:
– Vớ vẩn!
Người đàn ông thứ hai nhìn tôi như thương hại:
– Chắc là… ốm rồi, mát như vậy mà kêu lạnh!
Người đàn ông thứ ba, nói nhanh:
– Chỉ vài blocks là đến trạm BART, sẽ ấm liền đó mà.
Nói xong, cầm tay tôi, kéo đi, rồi tiếp:
– Lạnh thì phải đi nhanh, cho ấm, biết chưa?

Hồi chiều, lúc chưa lạnh lắm, người đàn ông thứ ba đưa cho tôi cái áo jacket vì: “cầm mỏi tay quá”, nhưng trước khi ra khỏi tiệm ăn, đã không nhờ tôi cầm giúp nữa vì sợ tôi… mỏi tay. Người đàn ông thứ nhất thấy tôi bị kéo, lên tiếng can thiệp:
– Đừng kéo mạnh quá, cô ấy (she) ngã đấy.
Người đàn ông thứ hai trêu:
– Có cần bế không?
Sợ bị bế giữa đường phố đông người, tôi hét lên:
– KHÔNG!
Ba người đàn ông cười lớn. Người đàn ông thứ hai quay qua nhìn người thứ ba, hỏi:
– Có biết chuyện ngày xưa cô ấy (she) bị bế không?
– Có nghe nhưng lâu quá, quên mất rồi, kể cho nghe lại được không?
Người đàn ông thứ nhất lại chen vào:
– Khổ quá! Lại trêu cô ấy nữa rồi…
– Không sao đâu, nghe này:

“… Khi Tùng đến, Thằng Ròm vẫn còn trùm chăn kín mít, Tùng kéo mạnh cái chăn ra, bảo:
– Em dặn chị rồi, dậy bận ấm, em chở đi ăn Donuts, sao vẫn còn nằm co ro thế kia?
– Đi mà chết cóng ấy à, tuyết rơi cả 5 inches thế kia…
– Thì đã bảo đi xem tuyết mà!
– Không đi đâu!
– Chị dậy không nào?
– Không!
Chữ “Không” vừa được thốt ra, Tùng cúi người xuống, bế cô ấy lên, H.T. và MiMi chạy theo phụ họa, tiếng bà Cả la với theo:
– Bỏ cô ấy xuống, cô ấy mà té thì khốn…”

Tôi cười đến chảy nước mắt, khi nghe “người đàn ông thứ hai” kể chuyện, giọng nói làm ra vẻ nghiêm trọng, nhưng lại rất dí dỏm. Mới ngày nào… “ông ấy” thẩy tôi xuống sân sau đầy tuyết, của căn nhà nhỏ bằng đá, nằm trên đường số 4, thành phố Tulsa, tiểu bang Oklahoma. Me tôi và Má đã chạy theo ngăn cản. Hai đứa em nhỏ thì vỗ tay, reo hò vui thích.

“Người đàn ông thứ ba” lên tiếng:
– Lúc đó Mình đang ở trong bụng Mẹ, phải không?
“Người đàn ông thứ hai” cười lớn:
– Chứ còn gì nữa!
– Mấy bà bầu nặng như vậy mà Cậu bế được sao?
Ông ta nhìn tôi, nháy mắt, rồi đáp:
– Dù có bầu, nhưng lúc đó Mẹ cũng chưa được 100 lbs mà.
Quay qua nhìn người đàn ông thứ nhất, người đàn ông thứ ba lại hỏi:
– Thế Bố ở đâu lúc đó?
“Người đàn ông thứ nhất” cười tủm tỉm:
– Có Bố cũng chả làm gì được vì cậu Tùng bự con thế kia!
Tôi phụng phịu:
– Chứ không phải Bố cũng hùa theo mấy đứa nhỏ để trêu em à?

Ngồi gọn trên chiếc ghế nhỏ trong toa xe BART đang từ từ lăn bánh, tôi nhìn ba người đàn ông thân thương của mình, cả ba đang cùng đứng nhìn tôi chế diễu. Tôi chợt nghĩ đến “người đàn ông thứ tư” ở tận Munich. Có lẽ giờ này “ông ấy” mới vào tới sở, đang ngồi uống cafe và đọc email …

San Francisco…
Vườn Dill Trên Con Đường Mang Tên California…

Theo lời Alex, “người đàn ông thứ ba”, tôi dậy thật sớm, đi bộ ra đường California, coi sức mình còn leo dốc cao được nữa không. “Người S.F vẫn chạy lên, chạy xuống đường California để tập thể dục đó, mommy thử đi nhé …”

Đầu tháng Bảy, mới hơn 5 giờ, trời đã rạng sáng. Những ngọn gió lùa làm tôi ớn lạnh. Kéo cao cổ áo xong, cho hai tay vào túi, tôi bắt đầu chạy. Hết dốc này, sang dốc khác, xuống dốc dường như khó chạy hơn khi lên dốc. Thấm mệt, tôi đi chậm lại, ngắm những bụi hoa bên đường.

Đưa tay ngắt một cành lá xanh nho nhỏ, mùi Thì Là làm tôi ngỡ ngàng đứng lại. “Ngay Downtown SF mà có cả một “vườn” Dill như thế này sao! “Chả Cá Thăng Long”… món ăn mà hầu như người Bắc nào cũng thích…” Tôi thầm nghĩ, và cảm nhận một niềm vui khó tả đang xen nhẹ vào hồn…

Tối hôm trước, Alex dẫn chúng tôi la cà trên những đường phố đông người, rồi cuối cùng ngồi uống cafe trong khuôn viên của Union Square. Nhìn và nghe những “ca nhạc sĩ tự do” trình diễn “live” ngòai trời, tôi nhớ lại những lần đi uống cafe cũng với “những người đàn ông của tôi” ở Rome.

Vài năm trước, trên một chuyến bay từ Newark đi Rome, tình cờ đọc một bài báo rất hay và lạ về Quán Cafe Sant Eustachio, nên khi đến Rome, tôi nhất định phải tìm cho ra, để thưởng thức cafe của họ. Tiệm nằm trên con đường cùng tên Sant Eustachio, nhưng phải qua nhiều khó khăn chúng tôi mới kiếm được vì đường phố tại Rome nhỏ xíu và xem chừng như hơi rắc rối. Cafe vừa ngon vừa rẻ lại rất đặc biệt nên năm nào tôi cũng tìm dịp ghé Rome vài lần để uống cafe, có lẽ là do “ảnh hưởng” của một câu trong bài báo:
“…thật là không phí gì cả khi mua một vé máy bay khứ hồi New York – Rome, đến nơi, kêu taxi chở đến Sant Eustachio uống vài ly cafe rồi kêu taxi chở ra lại phi trường, bay về…”
Tiền phải trả cho tách cafe “ngồi uống”, khác với giá của cùng một tách nhưng “đứng uống.” Lần nào chúng tôi cũng chỉ mua “cafe-đứng-uống” mà thôi. Tháng Hai hay tháng Mười Một, thời tiết của Rome mát lạnh, có muốn mua “cafe-ngồi-uống” cũng không có chỗ vì tiệm nhỏ, chỉ có vài bàn bên trong và bên ngòai.

San Francisco thì khác, đường phố sạch sẽ, gọn gàng hơn nhiều. Với diện tích không lớn, nhưng Downtown của SF lại có rất nhiều quán Cafe Starbucks. Góc nào cũng có, quay qua quay lại là thấy Starbucks, khỏi phải tìm kiếm khi muốn uống cà phê. Tôi thích Frappuchino với một hay 2 Espresso Shot. Mỗi ngày uống 3 ly “tall” (ly nhỏ nhất) là không cần ăn gì thêm nữa cũng dư calories rồi.

Vài năm nay, tôi vẫn “cố tình” không chịu hiểu tại sao Alex không muốn về lại Houston, ngay cả lúc không có việc làm. Nhà cửa đắt đỏ, giá sinh hoạt cao, nhưng “người đàn ông thứ ba của tôi” vẫn nhất định “bám” San Francisco.
“Chỉ có người già như… Thằng Ròm… mới ở Houston được thôi…, người trẻ như Mình thì phải ở S.F…” 
Alex vẫn trêu Mẹ, mỗi lần tôi hỏi bao giờ dọn về lại Houston.

Căn apt nhỏ xíu, với hai phòng ngủ, một phòng tắm cũ và tối tăm, trên lầu ba của một chung cư rất tầm thường, Alex ở chung với bạn. Mỗi người trả 1,000 Mỹ Kim một tháng. Tôi giật mình khựng lại khi mới bước vào thăm “nhà” của Alex, vì không dè con trai tôi lại sống khổ như vậy. Thấy tôi ngập ngừng, Alex đã cười lớn, đẩy sau lưng tôi, rồi trêu:
“Đây là SF, không phải Houston của mommy đâu, nhà nhỏ và cũ nhưng bảo đảm không có… rắn…, đừng sợ chứ!” 

Những ngày rong chơi trên đường phố, ghé vào “quán sách bên đường”, những đêm la cà đi uống cafe sau bữa cơm tối, rồi đi nghe nhạc ngoài trời với Alex, những sáng đi Chợ Tàu ăn điểm sấm, mua trái cây, … tôi mới hiểu được lý do tại sao Alex không muốn dọn về Houston.
“San Francisco của Alex” khác “Houston của tôi” xa chừng…

Nhìn đám Thì Là vẫn còn ướt đẫm sương, San Francisco không dưng trở nên thân thuộc. Tôi cảm thấy như gần gũi với S. F. hơn, như San Francisco chính là quê hương của tôi vậy.
Cái thân thương gần gũi này tôi đã không có, khi đi uống Cafe Sant Eustachio ở Rome, hay khi tay trong tay đi bộ với Anh bên bờ Hồ Hoàn Kiếm cách đây vài năm.

Visalia 

Những dãy Trúc Đào đủ màu nối tiếp nhau trên xa lộ 99 dẫn vào Visalia cho biết vùng này cũng “Nắng Ấm” không thua gì Houston. Houston còn được thêm hai chữ “Tình Nồng”, có lẽ tại đông người Việt hơn chăng?

Gần tới thị xã Visalia, vẫn trên xa lộ 99, bên tay trái của tôi, còn có thêm những cây Khuynh Diệp thật cao. Tôi thích lá Khuynh Diệp, không chỉ vì mùi khuynh diệp mà còn vì hình dáng của chiếc lá nữa. Trong góc vườn của căn nhà cũ ở Katy, tôi cũng đã có 1 cây, rất lớn. Mỗi lần ra vườn, tôi hay hái vài lá, gập lại vài lần để mùi khuynh diệp tỏa ra, rồi đưa lên mũi, hít vài hơi. Mùi khuynh diệp làm lòng tôi dịu lại, không biết tại mùi của lá hay tại ngày xưa Mẹ tôi rất yêu thích mùi khuynh diệp. Mùi thơm của Khuynh Diệp cho tôi cảm giác như có Mẹ bên cạnh, và lúc nào cũng làm tôi ấm lòng.

Đứng trước nhà anh PST, gọi cell cho anh, tiếng anh hỏi:
– HV đi tới đâu rồi?
– Dạ em đang đứng ngay trước nhà anh chị đây?
– Sao giỏi vậy, chờ tí nha, anh chạy xuống ngay.
Tay bắt mặt mừng, anh em chào hỏi nhau. Anh không khác trong hình nhưng không giống anh PAD hay chị BH. Giọng nói, qua phone, tôi đã nghe có nét phảng phất của chị BH.

Rời SF lúc 6 giờ sáng, chúng tôi bỏ buổi ăn điểm tâm với Alex vì cái hẹn ăn lunch với anh chị PST lúc 11 giờ trưa.
Được lưu ý nạn kẹt xe của SF trên xa lộ 101, chúng tôi dùng xa lộ 5, hướng Oakland, qua 152 để vào 99. Dù có xa hơn, nhưng lại không bị kẹt xe, nên đến sớm 30 phút, trước giờ hẹn.

Tiệm ăn Thái nằm trong vùng Downtown của Visalia sang và yên bình, Chị PST “đi chợ” rất tài tình. Tôi được những 2 món chay. May mà chỉ ghé lại có vài giờ, chứ nếu không thì có lẽ chiếc áo dài mang theo cho buổi RMS ngày Chủ Nhật của nhóm Văn Học Thời Nay đành đem về lại và phải đi kiếm mua áo khác mất. Nhìn Anh và anh Dễ Thương vừa ăn vừa khen ngon, tôi cũng đoán được là chị Trung rất “sành” món Thái.
Nghe chị kể chuyện tôi rất nể phục. Chị chạy bộ mỗi ngày, từ sáng tinh mơ, với đầy đủ “vật dụng phòng thân”. Chị làm việc không biết mệt, ngày nghỉ thì lo vườn tược. Chị đã bỏ một cái hẹn để đi ăn trưa với chúng tôi. Ăn xong chị phải trở lại văn phòng vì cái hẹn kế tiếp lúc 1 giờ 30. Chúng tôi theo anh PST về lại nhà, trước khi lên đường đi tiếp.

Ngôi nhà xinh xắn với hàng rào trắng, sân cỏ xanh, trước cửa có Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, bên cạnh Cờ Mỹ. Anh PST cho biết đã treo lên từ Ngày 30 Tháng Tư và để luôn cho qua Lễ Độc Lập. Vườn sau, ngăn nắp, gọn gàng. Cây Quất ngọt đầy trái, mấy khóm hồng, hoa nở thơm ngát, bên cạnh fountain nước chảy réo rắt. Thảo nào anh Dễ Thương không Thơ đầy túi. “Chỉ cần ngồi trên xích đu là làm thơ phải không anh?” Tôi trêu anh.

Giã từ Visalia với lòng tiếc nuối. Visalia cũng Nắng Ấm, cũng Tình Nồng. Chân tình này, làm sao đền đáp?
Những dãy Trúc Đào rực rỡ trên xa lộ 99, tiễn đưa chúng tôi ra lại xa lộ 5, để về LA.

Cám ơn anh chị đã cho chúng em biết Visalia, một thành phố nhỏ có nắng ấm, có tình nồng, dù chỉ có vài gia đình người Việt, giữa đường từ SF đến LA.

Cafe… Huyền

Chị Bích Huyền đón chúng tôi với nụ cười thật tươi. Chưa kịp khen những bậc tam cấp đẹp, rất mỹ thuật, từ ngoài đường dẫn vào nhà, mùi sả ớt của món Bún Huế thơm phứt, làm tôi phải tấm tắc:
“Chị ơi! Thơm quá, chị nấu hở?”
Vào tới bếp, chị cười cười, đưa cho tôi một thìa nhỏ nước dùng:
“Nếm thử đi, hv”
Tôi ngạc nhiên vì vị đậm đà, cay cay, ngọt ngào…
“Chị hay nấu món chay lắm hở chị? Ngon quá chị ơi!”
Chưa trả lời tôi, chị lại mở nắp một cái chảo lớn bên cạnh:
“Miến xào nữa nè, hv”
Rồi nhìn qua anh NPH đứng bên cạnh, chị tiếp:
“Hôm nay, mọi người sẽ cùng ăn chay với HV. Hôm Chủ Nhật, hv ngồi nhìn chúng mình ăn…Tội quá!”
Tôi cười, giải thích với chị là trước khi đi dự tiệc, lúc nào tôi cũng “dằn bụng” trước, trừ khi được biết là có món chay. Chị trấn an anh NPH:
“Chị có ướp sẵn steaks cho Hưng, nếu Hưng không muốn ăn chay.”

Vườn sau nhà chị đầy hoa trái. Những bụi hoa mầu tím thật xinh xắn, bốn gốc Đào, hai cây Quất, lại có một cây Liễu trong chậu. Chị đặt tên cho từng cây. Gốc ớt mới nhìn đã thấy cay, chị cho 2 quả khô làm giống khi biết tôi cũng thích ăn cay.
Chị kể chuyện anh SK đến thăm, khi chị hỏi anh chụp hình chưa, anh đã trêu:
“Nhà chị toàn Đào và Liễu, làm sao em dám chụp hình…”

Những khung hình mỹ miều, duyên dáng, với nụ cười xinh xắn của Uyển Diễm, hóa trang từ cô gái Bắc, đến cô gái Trung, rồi cô gái Nam treo trên tường, làm căn nhà đã đẹp, lại càng thêm lộng lẫy, nhưng không kém phần ấm cúng. Trên tường còn có những bức tranh do Anh Tú vẽ. Tôi biết tài làm thơ của AnhTú trên diễn đàn Việt Báo, nhưng chưa hề biết, ngoài nghề Y Sĩ, Anh Tú còn là Họa Sĩ và kiêm Thi Sĩ nữa.

Bi và Ben được Mẹ Uyển cho mỗi chú một dĩa Spagetti thơm ngon. Trước khi ăn, hai chú bé mời “Ông Bà Trẻ” H&HV. Uyển Diễm hỏi: “Chú H có muốn ăn spagetti không, cháu làm cho.” Dĩ nhiên là dù có muốn thì chú H cũng đành lắc đầu…

Quỳnh Hương đến với sữa đậu nành và tofu còn nóng. Cô lấy nửa ngày vacation để được uống Cafe Huyền với chúng tôi. Nghe danh Cafe Huyền từ lâu, nên lần này, tôi nhất định phải xin được thử. Khi chị BH mời ăn ngoài tiệm, tôi đã không ngại ngùng xin chị cho được uống cafe Huyền.
“Coffee time” trở thành dinner với nhiều món rất hấp dẫn. Bún Huế, Miến xào, Đậu hũ sả ớt, đậu hũ chiên, bánh rán, xoài, sữa đậu nành…

Cafe Huyền không hổ danh truyền từ bấy lâu nay. Sữa được đun nóng cho từng tách. Mùi cafe thơm ngát. Chị cẩn thận pha mỗi lần một tách, tôi được tách đầu tiên. Ngồi nhìn chị làm cafe cho mọi người, tôi cảm nhận được lòng thương mến của chị dành cho các em. Chân tình đầy ắp.

Được hàn huyên với chị, nghe chị kể lại công việc làm với đài VOA, với Radio Bolsa, với đài Việt bên Úc,… tôi càng thêm nể phục chị. Vài năm nữa, khi chị hưu trí, tôi tin chắc sẽ khó có người thay thế được chị.

Bích Huyền, của Chương Trình Thơ Nhạc trên đài Tiếng Nói Hoa Kỳ đã đi vào lòng người Việt khắp nơi trên thế giới.

Cám ơn chị Bích Huyền đã chia sẻ với chúng em những tâm tình ngọt ngào, những kinh nghiệm sống quí báu, với tình cảm hiếm quí…

Cafe Huyền không những chỉ thơm ngon mà còn vô giá nữa, chị ơi!

HV Thật vs HV Dỏm

Con bé chồm người qua ôm tôi, mi lên má, rồi thì thầm bên tai tôi:
– Me, I love you.
Xiết nhẹ nó, mi lại, tôi cũng nói thì thầm:
– I love you, too. Athena.
Nó buông tôi ra, ngồi thẳng lên, rồi lại nhìn tôi, nhún vai, ngập ngừng hỏi:
– Me, Is your name Hiền Vy? – Me à, tên của Me là Hiền Vy hả?
– Yes, Athena.
Nó lại ngập ngừng:
– I thought your name is Me. Con tưởng tên của me là Me chứ !
Tôi chỉ biết cười, nó hỏi tiếp:
– Do you have a Mom? – Me có Mẹ không vậy?
– Có chứ. Ai mà không có Mẹ!
Con bé lên giọng:
– Does your mom call you… Hiền Vy, Hiền Vy, Hiền Vy, Hiền Vy, Hiền…
Tôi đang ngạc nhiên không biết nó định làm trò gì, thì tiếng cô em tôi, từ ghế tài xế quay lại, quát:
– Athena ! Stop it!
Đã không ngừng, con bé lại cao giọng hơn:
– H.H.H.. i. i. i. ề. ề. ề. n.n.n. V.V.V…Y.Y.Y… all day long?

Tôi bật cười, vì không dè chỉ mới 6 tuổi, con bé đã liếng thoắng đến vậy. Nó nhìn tôi như đang chờ câu trả lời. Kéo nhẹ nó vào người, tôi hôn lên tóc nó, chưa biết nói gì, đã nghe nó hỏi tiếp:
– Do we have the same name, Me? Chúng mình có tên giống nhau hở Me?
Mẹ nó lại quay xuống, cao giọng:
– Your name is Athena, OK? Tên của con là Athena, biết chưa?
– No, I like to be called Hiền Vy – Không, con thích tên Hiền Vy cơ.
Mẹ nó lại nói lớn:
– Lâu nay, con chỉ thích gọi là Athena thôi mà. Sao hôm nay lại đổi ý thế?
Con bé phụng phịu:
– I don’t know! Con không biết!

Vuốt nhẹ mái tóc mượt mà của nó, tôi giảng hòa:
– OK, OK, để Me giải thích.
Con bé ngả đầu vào người tôi, chờ đợi. Tôi từ tốn giải thích:
– Mẹ của con mượn chữ Hiền trong tên của Me, và thêm chữ Vy để đặt tên cho con.
Con bé lại thắc mắc:
– Nhưng sao ai cũng gọi Me là Hiền Vy?
– Tại Me mượn tên con để làm Radio.
Con bé ngập ngừng:
– Sao Me không mượn tên chị Dĩ An?
Rồi gật gật cái đầu, hỏi tiếp:
– Vậy là tên con hay lắm hả?
– Dĩ nhiên rồi, không hay, me đâu có mượn.
– Tên chị Dĩ An không hay hả?

Tôi không biết nói sao, chỉ cười, nhớ lại những ngày đầu mới chập chững vào làm Chương Trình Tuổi Thơ cho LSR. Dĩ An đã dỗi hờn khi thấy tôi dùng tên Hiền Vy. “Vậy là Mẹ thương Athena hơn thương mình rồi, Mẹ dùng tên của con đỡ đầu, mà không thèm dùng tên của con ruột…” 
Đã phải giải thích với Dĩ An là “Hiền Vy” dễ cho các em bé nghe chương trình gọi hơn và cũng dễ cho tôi hơn khi xưng là “Cô Hiền”…

Sau khi nghe tôi giải thích, Athena chúm chím cười:
– OK! Me, I allow you to borrow MY NAME – OK Me, con cho phép Me mượn tên con đó.
– Thanks, Athena!
Con bé xích ra một tí, dùng hai bàn tay bé xíu, ôm lấy mặt tôi, giọng như chững chạc ra:
– Không! Con không muốn gọi là Athena nữa. Từ đây, Me nghe không,…
Nó ngừng lại, như để lấy hơi, rồi gằn giọng, chậm rãi tiếp:
-… từ đây, con chỉ muốn được gọi là Hiền Vy thôi.”
Tôi ôm khuôn mặt nhỏ bé xinh xắn của nó trong hai tay mình, cười lớn, rồi nói:
– Yes, Hiền Vy! Và con là Hiền Vy Thật, còn Me chỉ là Hiền Vy Dỏm thôi./.

Thuở bơ vơ mới về …

Tôi biết  ngay từ những ngày đầu mới “chân ướt chân ráo” về nhà Anh.  là sui gia với Má nhưng có họ ngoại với Anh nên khi Anh trở về nước sau những năm du học ngoại quốc, hai gia đình lại muốn kết thân thêm một lần nữa mà không thành.  có 4 người con gái. Người thứ ba là chị dâu của Anh. Cô Út và chị Cả kẹt lại VN sau 75. Chị thứ hai lập gia đình với một người NaUy nên ở tận Oslo. Biến Cố Tháng Tư 75 đã tách rời  khỏi những người con để rồi  di tản cùng với gia đình chị chồng tôi. Giữa mùa Thu năm đó  sum họp với gia đình người con thứ ba tại Tulsa.

Trong căn nhà nhỏ bằng gỗ 3 phòng ngủ trên đường số 4 gần Tulsa University,  và Má một phòng, anh chị DD và cháu L một phòng, phòng còn lại là của Anh. Đám cưới xong, tôi về ở chung phòng với Anh.  Căn phòng của chúng tôi có cửa sổ nhìn ra vườn sau.  Phòng của anh chị DD thì cửa sổ nhìn ra đường và phòng của  và Má ngay cạnh phòng tắm, cửa sổ nhìn ra nhà anh chị C, chị gái của Anh. Không biết 2 phòng ngủ kia có khóa không chứ phòng của chúng tôi không có khóa từ bên trong.

Những ngày mới về nhà Anh, tôi không chỉ bị Má “chiếu cố” mà còn bị anh D đối xử rất là “không văn minh”. Những buổi trưa từ lớp học Anh ngữ về nhà ăn cơm, tôi vừa bưng chén cơm là Má nói ngay:

Cô ăn lẹ đi rồi lo kiếm áo quần dơ của câu H đem đi giặt để chiều cậu ấy đi làm về cậu ấy nghỉ ngơi”.

Nước mắt dàn dụa vì tủi thân, tôi buông đũa trong khi  lên tiếng:

“Bà để cho cô Ti ăn xong rồi nói có được không ?”

Má điềm nhiên:

“Tôi có biểu cô ấy làm ngay đâu, bảo ăn xong mới làm cơ mà” 

Anh D lúc đó làm ban đêm trong một tiệm McDonald. Trưa ngồi ăn cùng chúng tôi cũng lên tiếng:

“Ai đánh đập gì cô mà khóc cơ chứ”

Rồi “bồi” thêm:

“Mẹ thằng L đi làm, bà tham già yếu, cô ăn xong lo dọn nhà cửa cho sạch sẽ”

Tôi nghẹn ngào không nuốt nổi nên xin phép không ăn nữa, rút lui vào phòng ngồi khóc thầm.  theo vào an ủi:

“Cô ra ăn cơm đi chứ sao lại vào đây ngồi khóc ?”

Tủi thân, tôi khóc lớn và  kể cho tôi nghe chuyện ngày xưa  mới lấy chồng …

Khó Khăn – Trở Ngại

Càng ngày anh D đối xử với tôi càng không công bằng. Tôi tránh gặp mặt anh D tối đa dù ở chung nhà.  biết điều đó nên hay tìm cách nói chuyện vui cho không khí nhẹ đi. Tôi vẫn không kể lại với chồng những việc xảy ra khi Anh đi làm. Một người anh lớn hơn của chồng tôi, tên T, ở cạnh nhà ba mẹ tôi, đến thăm Má, hỏi tôi:

“Sao không về thăm 2 bác vậy cô Ti ? Mê chồng quá quên cả cha mẹ em út sao ?”

Tôi chỉ biết ứa nước mắt lắc đầu không nói. Vài tuần trước, khi mới về làm dâu nhà Anh, chiều chiều cơm nước xong Anh hay đưa tôi đi bộ về thăm ba mẹ tôi. Tôi rất hạnh phúc có Anh đi cùng. Nhà ba mẹ và các em tôi ở đường số 7, phía mặt trước của ĐH Tulsa. Nhà tôi ở, sau đám cưới, là phía sau của trường. Đi bộ nhanh mất khoảng 20 phút, đi chầm chậm và ngừng lại xem cây cỏ thì mất khoảng nửa giờ. Nhưng chỉ đi được vài lần là Má kêu tôi vào phòng, phán:

“Cô có về thăm ông bà thì đi học rồi ghé thăm được rồi, sao phải chờ cậu H đi làm về bắt cậu ấy đưa đi? Cậu ấy yếu lắm, đi như vậy rồi bệnh, chết thì ai nuôi tôi ?”

Tôi lại khóc nhưng không hề giận vì biết Má thương người con trai út của bà.  Má lại cùng tuổi với bà ngoại tôi và  thua Má một giáp nên mặc dù là sui gia, mẹ tôi vẫn gọi Má và  là Cụ, xưng Con.  Mẹ dạy tôi phải lễ phép và thương Má vì Má sinh ra chồng tôi. Không có Má thì làm sao có Anh cho tôi lấy. Dù vậy, có lần Mẹ cũng cười nói với tôi “Sao con không chọn ai có cha mẹ trẻ trẻ như ba mẹ cho dễ dàng xưng hô.”

Một buổi tối, không biết ăn nhằm cái gì mà tôi bị đau bụng suốt đêm nên phải ra vào phòng tắm nhiều lần thì sáng hôm sau, ngay sau khi Anh rời nhà đi làm, tôi đang sửa soạn đi học thì Má vào phòng tôi, đóng cửa lại rồi quắt mắt nhìn tôi, hỏi:

“Cô làm gì mà lục đục suốt đêm trong phòng tắm ? Tôi nói cho cô biết là cậu H không khỏe mạnh gì đâu. Phải để cho cậu ấy ngủ để còn đi làm nuôi tôi nữa. Cô phải biết điều một tí”

Tôi ngạc nhiên:

“Con bị đau bụng cả đêm mà Má!”

Tối đó tôi kể lại cho chồng nghe chuyện Má la tôi ban sáng vì tôi không hiểu tại sao đau bụng phải dùng restroom lại bị rầy. Chồng tôi nghe xong, đi qua phòng Má nói gì hơi lớn tiếng. Khi tôi hỏi thì anh bảo là anh cự Má và nói với Má là “Khổ quá Má ơi, từ lúc cưới tới giờ đã làm ăn gì được đâu mà Má cứ suy nghĩ tào lao vậy”.

(Tôi phải mở ngoặc để nói một tí về chuyện này. Trước đám cưới khoảng 3 tuần, trên đường từ trạm xe Bus đi bộ về nhà với một bao giấy lớn đầy thực phẩm vừa mua từ chợ Safeway cho mẹ tôi, tôi bị một gã đàn ông Mỹ trắng tấn công ngay trên đường vắng vào buổi trưa.  Tôi đã quăng bao thực phẩm xuống đường để chạy thoát thân sau khi kêu cứu mà không có một người nào xuất hiện.  Vừa chạy tôi vừa la lớn “Help! Help!” mà không có ai nghe,  may là chỉ cách nhà tôi  có hai blocks. Mẹ ra mở cửa khi nghe tiếng đấm cửa liên hồi của tôi.  Vào nhà tôi chỉ biết khóc vì ngực tôi bị đau khinh khủng do sự tấn công và làm bậy của gã đàn ông đó. Vì sự việc này tôi muốn hủy cái đám cưới đang được những người trong nhà Thờ lo giúp.  Tôi gọi cho “bà mẹ nuôi” nói ý định này. Các bà trong nhà Thờ bảo trợ gia đình tôi, cùng ông mục sư đến thăm và nói họ sẽ làm theo ý tôi.  Chiều đó Anh đến thẳng nhà tôi sau khi tan sở và năn nỉ tôi đừng hủy đám cưới.  Anh hứa với ông mục sư, với ba mẹ tôi là Anh sẽ không làm gì để tôi sợ.)

Đúng sáu tuần sau ngày cưới thì tôi mới thật sự trở thành đàn bà. Sau đó tôi mới hiểu ra lý do Má la tôi khi tôi bị đau bụng phải dùng phòng tắm nhiều lần trong đêm hôm. Chuyện Má rầy rà tôi chịu được vì Má là mẹ Anh nhưng việc anh D cứ bắt lỗi tôi đủ điều và sai khiến tôi làm việc như người giúp việc thì tôi không chịu được.

Lúc đó tôi không hiểu lý do gì mà anh D lại “pick-on” tôi hoài như vậy. Sau này tôi mới biết được là sau khi làm “ông mai” để mai mối chồng tôi với cô Út nhà vợ anh không thành, anh D lại “làm mai” ông em cho em gái của vợ bạn cũng không thành.  Tôi nghe kể lại là trước năm 75 ở Việt Nam, những người du học trở về nước thường được nhiều gia đình khá giả “ngắm nghía”. (Cô chú bác và các anh chị họ của tôi đi du học về tôi không biết có được nhiều nơi “ngắm nghía” không vì tôi còn quá nhỏ để được biết chuyện trong gia tộc, nhưng trong gia đình nhỏ của ba mẹ tôi thì anh Ba của tôi lúc đó vẫn còn học ở Tây Đức chưa về nước nên tôi không kiểm chứng được điều này). H không tránh được những mai mối từ cô, chú, bác, dì, anh, chị và cả cháu trong nhà, sau khi về nước cuối năm 71. Bao nhiêu người mai mối cũng không thành cho đến năm 74 thì gặp tôi trong một lớp Anh ngữ, anh dạy thêm buổi tối của London School.

Có lẽ  biết tôi không vui nên những lúc cùng làm bếp với tôi,  kể cho tôi nghe chuyện ngày xưa ở Việt Nam, chuyện Quan Âm Thị Kính, chuyện tiền kiếp của đức Phật…  cũng coi tuổi, coi tướng và chỉ tay của tôi và nói rằng số tôi rồi sẽ rất sung sướng sau này. Tôi thương và rất quí trọng . Nhiều lần  cũng kể cho tôi nghe chuyện hai người con bị kẹt lại Sàigon. Tôi rất phục cái tính chịu đựng của .  Trong lúc mẹ tôi khóc lên khóc xuống vì gia đình anh Hai của tôi kẹt lại ViệtNam thì tôi chưa từng thấy  khóc khi nhắc đến hai người con của  cũng đang ở Saigon. Cô Út hơn tôi hai tuổi, nhưng trong nhà ai cũng gọi là Cô Út nên tôi cũng gọi theo luôn. Dù chưa hề gặp cô Út nhưng qua lời kể của , tôi rất có cảm tình với Cô.

Chữ Hiếu …

Ở chung được một thời gian, không khí trong nhà ngày càng ngột ngạt, tôi thì ngày càng gầy, mất hẳn tiếng cười, chồng tôi quyết định mua nhà dọn ra riêng với Má cùng đi với chúng tôi. Trong lúc đang lo thủ tục mua nhà thì một buổi sáng cuối tuần tôi thức dậy sớm mà không thấy Anh bên cạnh, tôi rón rén đi ra bếp thì thấy Anh và anh D đang rù rì nói chuyện. Tôi rút lui về phòng nằm đọc sách. Sau đó Anh vào và kể cho tôi nghe là anh D lo ngại nếu chúng tôi dọn ra thì anh chị ấy không thể trả nổi tiền thuê nhà hàng tháng. Chồng tôi hứa sẽ phụ trả tiền nhà thuê cho gia đình anh chị DD cho đến khi nào họ có thể tự túc được.

Qua nhà mới, tôi thi vào làm Nurse Aide trong nhà thương Saint Francis. Chị D cũng được tuyển dụng cùng khóa với tôi. Sau mấy tuần được huấn luyện, tôi phải làm ca hai, từ 3 giờ chiều đến 11 giờ đêm.

Rồi tôi có thai lần đầu. Lúc đó tôi không hiểu “ốm nghén” là gì, chỉ biết mỗi lần Má nấu nấm Đông Cô thì tôi ói tới mật xanh mật vàng. Dù đã vào phòng đóng cửa nhưng cái mùi nấm Đông Cô vẫn theo vào trong phòng ngủ nên tôi vẫn bị ói liên hồi.  Vì vậy khi biết Má sắp nấu món Nấm là tôi lái xe ra khỏi nhà. Có hôm tôi lên nhà ba mẹ tôi nhưng chẳng có ai ở nhà ban ngày. Ba mẹ tôi đi làm, các em thì đi học nên tôi thường lang thang ngoài mall cho đến giờ đi làm.  Việc này bị nhà chồng cho là tôi hỗn láo, không muốn Má ở chung. Gần ngày sanh con đầu lòng, Anh bảo tôi xin nghỉ làm. Ở nhà tôi còn khổ hơn vì anh chị của Anh đến thăm Má mỗi ngày.  Chị C của Anh, bữa thì đem vài cái nấm, bữa thì đem vài quả lê hái bên sân trường đại học, dúi dúi cho Má. Tôi không hiểu tại sao chị C phải mất công làm như vậy vì Má muốn gì, cần gì là chúng tôi mua ngay cho Má.  Cho đến một hôm, Mẹ tôi gọi điện thoại bảo tôi về nhà gấp, Mẹ cần hỏi tôi vài chuyện.

Bước chân vào nhà, tôi thấy Mẹ ngồi nơi bàn ăn, khuôn mặt buồn bã. Mẹ không trả lời khi tôi hỏi Mẹ có khỏe không. Tôi ngồi xuống chiếc ghế đối diện với Mẹ mà lòng đầy âu lo. Tôi tưởng Mẹ không khỏe hay có tin không vui từ VN.  Một lát Mẹ nhìn vào mắt tôi, hỏi:

“Sao con không nghe lời Mẹ dạy ?”

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

“Con không nghe lời Mẹ chuyện gì ?”

Giọng Mẹ buồn buồn nhắc lại những gì đã dặn dò tôi, nào là phải thương và quí nhà chồng hơn nhà mình, nào là phải lo cho Má chu đáo hơn lo cho Mẹ vv và vv…  Tôi bật cười nói với Mẹ: “Khổ quá! biết rồi, nghe rồi, áp dụng rồi. Sao mẹ nói mãi thế ? Mẹ kêu con về để dạy con lại vậy thôi sao?”

Mẹ cầm tay tôi, thở dài rồi kể cho tôi nghe là bạn của Mẹ nói với Mẹ là nghe chị C của anh nói tôi bỏ đói Má, không cho Má ăn uống gì cả, chị C phải mua thức ăn đem đến cho Má. Lúc đó tôi giận Mẹ vô cùng vì Mẹ nghe những lời như vậy mà rầy tôi, nên hỏi Mẹ:

“Mẹ có nghĩ là con làm như vậy không ?”

Mẹ siết chặt tay tôi, nói:

“Mẹ không tin con gái mẹ làm như vậy vì mẹ biết tính nết của con”

Tôi ngắt lời Mẹ:

“Biết tính con rồi, sao Mẹ không nói cho người ta biết mà còn kêu con về để la con ?”

Mẹ tôi gật gật cái đầu, chậm rãi đáp:

“Dĩ nhiên là Mẹ đã nói với bạn mẹ những việc đó không thể nào có, vì đó không phải là cá tính của con, nhưng mẹ vẫn hỏi con cho rõ ngọn ngành”

Ra khỏi nhà Mẹ, tôi lái xe đến nhà . Chỉ có  và cháu L (lúc đó chừng 3 tuổi) ở nhà.  Tôi kể cho nghe chuyện tôi vừa bị oan.  Nghe xong  nói tôi đừng có buồn, tính tình của cô C nó như vậy, cô không đi làm ở nhà rảnh rỗi nên ưa gây chuyện.   cũng nói Má già nên lẩm cẩm và khuyên tôi nên bỏ qua, đừng nói lại với Anh.  Tôi không nghe lời khuyên của  mà đem chuyện này than phiền với Anh. Nghe xong, Anh ôm tôi và nói trong nước mắt:

“Vì Má khó tính nên mãi đến hơn 30 tuổi, gặp em, anh mới dám lấy vợ. Thương anh, em chịu khó nhịn cho yên nhà. Anh mang ơn em suốt đời.”

Nghe lời Anh, tôi không nói gì nhưng rất ấm ức. Má thương và quí Anh vô cùng. Tôi cũng yêu và kính trọng Anh không ít. Có những lúc Má kể cho tôi nghe về cách cư xử của những người con dâu lớn với Má, nghe xong tôi xót xa cho Má. Má không hề nói nặng tôi nhưng đối xử với tôi khá lạ lùng.  Với cái bụng bầu đã gần ngày sinh của tôi, Má vẫn nhắc tôi đem rác ra ngoài để khỏi nhọc công Anh phải làm, dù Anh đã cẩn thận dặn tôi không được làm việc nặng khi Anh đi làm. Mỗi lần tôi làm bếp, Má luôn xuất hiện khi thấy tôi cầm chai tiêu định rắc vào món ăn với câu nhắc nhở: “Câu H đau bao tử mà cô cho ăn tiêu là chết sớm, ai nuôi tôi …”  Có lần  đến thăm, nghe Má bảo tôi đem rác ra ngoài,  bất mãn can: “Cái bụng cô Ti lớn như vậy sao không để chú H khiêng rác mà bà bắt cô ấy khiêng”. Má chỉ nói gọn “Cậu ấy không có khỏe đâu bà”.

Rồi tôi sinh con đầu lòng.  Theo lời chỉ dẫn của những người đã có con, tôi nhất định không cho con ăn đêm để tập cho con quen.  Nghe cháu khóc mà không thấy tôi bế, Má giận lắm ra bế cháu lên.  Tôi cự thì Má bảo phải để yên nhà cho Anh ngủ để còn đi làm chứ nó khóc như vậy Anh không ngủ được, sinh ốm, chết thì không ai nuôi Má. Sáng hôm sau anh D và chị C đến thăm Má. Má kể chuyện tôi cứng đầu không chịu dỗ con ban đêm, để Má và Anh không ngủ được. Tôi tức không nói được nên thở không được, tay chân bủn rủn hết.  Đúng lúc đó, một người bạn của Ba Mẹ tôi đến thăm tôi sinh con đầu lòng. Thấy tôi bị như vậy, chú đến chỗ Mẹ tôi làm (cách nhà chúng tôi chừng 3 miles) kể cho Mẹ nghe rồi chở Mẹ đến nhà tôi ngay, vì chú sợ tôi bị “sản hậu” có thể nguy đến tánh mạng.

Khi mẹ tôi đến thì Anh D, chị C cũng đã chở Má ra khỏi nhà.  Mẹ tôi khóc khi thấy tay chân tôi lạnh ngắt, mặt mày thì tím dắt.  Mẹ ôm tôi và than thở: “Sao khổ vậy con ơi! Chồng con gì mà khổ thân như vậy! Con có chết thì chỉ có mẹ là thiệt thòi thôi, con ơi!” và Mẹ ở lại với tôi cho đến khi Anh đi làm về. Mẹ nói với Anh để Mẹ đem tôi và con về nhà Mẹ nhưng Anh không chịu. Từ đó tôi bị gắn cho cái tội là đuổi mẹ chồng ra khỏi nhà.

Má dọn vào ở một mình trong căn nhà thuê trên đường số 5, cách nhà anh chị DD và chị C một block đất trống, đứng bên này thấy được bên kia.  Với 3 người con trai và một gái cùng sống tại Tulsa, chỉ cách nhau vài miles mà Má không ở với ai cả. Thấy Má cô quạnh một mình, tôi cầu cứu , nhờ nói  về lại với chúng tôi, nhưng anh D không cho, bảo là để Má ở một mình tiện hơn.  Con cháu muốn đến thăm, đến chơi với Má thoải mái hơn.

Chỉ một khoảng thời gian rất ngắn sau đó, anhD đi Houston thăm bạn, những người anh đã gặp trên đường di tản. Sau chuyến đi đó anh D quyết định đem gia đình anh và  về Houston với lý do Tulsa mùa đông lạnh quá không tốt cho bệnh suyển của anh và cháu L. Cũng với lý do thời tiết, Má muốn đi Houston sống. Vài tháng sau, chồng tôi đưa Má về Houston bằng máy bay. Anh D đã thuê cho Má cái apartment một phòng ngủ bên cạnh cái apt hai phòng của gia đình anh và .  Trước khi Má rời Tulsa, tôi đem con đến thăm. Má ngập ngừng hỏi tôi:

“Chắc cô không cho cậu H về Houston ở gần tôi đâu phải không ?”

Tôi hỏi lại:

“Tại sao Má hỏi con như vậy ?”

Má ngập ngừng:

“Thì những chuyện đã xảy ra khiến tôi nghĩ như vậy”

Tôi trêu Má:

“Nếu con không cho chồng con đi, thì Má làm gì con ?”

Má nhìn tôi, đáp:

“Tôi biết cô không phải người xấu. Cô không cấm cậu H ở gần tôi đâu. Cô biết tôi thương cậu H mà cậu H cũng thương tôi. Thầy mất sớm…”

Dĩ nhiên là tôi không cấm được Anh gì cả nhưng thật tình là tôi đã rất vui mừng khi gia đình anh chị DD dọn khỏi Tulsa.

Trong chuyến đưa Má về Houston, chồng tôi đi xin việc tại hãng điện của thành phố.  Chỉ mấy tuần sau là họ gọi, mời trở lại để interview. Khi được hãng điện Houston cho việc với số lương gấp rưỡi lương đang làm tại hãng điện Tulsa, Anh nói với tôi là nếu tôi không muốn đi thì Anh sẽ ở lại Tulsa. Tôi xin Anh vài ngày để suy nghĩ.

Có lẽ đó là thời gian chờ đợi lâu dài và hồi hộp nhất trong đời Anh dù chỉ có 2 ngày. Tôi cũng mất ăn mất ngủ vì suy nghĩ. Tôi cầu cứu mẹ tôi, Mẹ chỉ nói:

“Hiếu thảo với cha mẹ là điều tối quan trọng trong đời người. Hiếu thảo với cha mẹ chồng lại quan trọng hơn vạn lần”

Chỉ một câu nói của Mẹ là tháo gỡ tất cả vướng mắc trong tôi. Khi tôi nói với Anh là tôi bằng lòng đi Houston, Anh ôm tôi, hôn lên tóc rồi nói trong nghẹn ngào:

“I know you’re a good girl, Bé”

Nỗi Oan Ức

Đến Houston, anh D làm thợ tiện cho một hãng tiện vùng Đông Nam. Chị D tiếp tục làm nurse aide trong một nhà thương vùng downtown. Trước năm 75 anh chị đều là giáo sư của một trường trung học tỉnh lỵ, cách Saigon khoảng hơn một giờ chạy xe gắn máy.  Rồi gia đình anh chị T cũng bỏ Tulsa về Houston sinh sống.  Anh chị DD ra mua nhà mới, khu Đông Nam của Houston. Má lại đổi qua sống một mình trong cái apt một phòng ngủ, cùng chung cư với anh chị T.  AnhD rủ chồng tôi mua nhà cùng khu vực nhưng chúng tôi quyết định mua vùng Tây Nam nên các anh chị ở gần Má hơn chúng tôi. Mỗi cuối tuần Anh đều đưa tôi và con về thăm Má và thỉnh thoảng chúng tôi ghé thăm . Má rất thương cháu nội trai. Có lần vợ chồng anh Cả của chồng tôi từ Canada sang thăm Má, Má mách với anh Cả là “Ở chung một nhà mà một cô thì chỉ có làm, không chịu ăn, còn một cô thì chỉ ăn, không chịu làm, mà bừa.” Khi nghe anh chị Cả kể lại tôi đã cười ra nước mắt vì những tưởng Má không hề bận tâm là tôi đã phải làm việc nhà như một con sen khi mới về làm con dâu út của Má.

Cuộc sống tại Houston khá yên ổn. Má vẫn khỏe mạnh, chỉ bị đau nhức xương cốt khi trở trời. Trong khi  thường đi chùa PQ mỗi sáng Chủ nhật, thì Má không bao giờ đến chùa nhưng khi Chùa có chương trình bán đất tại một nghĩa trang của người bản xứ, để làm khu nghĩa trang đặc biệt của người Việt, thì Má muốn mua đất ở đó cho hậu sự. Chồng tôi mua 6 lô hàng ngang cho Má vì policies của nghĩa trang này là phải có ít nhất 6 lô mới được một tấm bia đứng.  chung với bác B mua 6 lô, 3 lô phía này, 3 lô phía đối diện. Sau đó  và bác B đã dựng tấm bia đứng ngay chính giữa 6 lô đất này. Trên bia khắc sẵn ngày sinh mà chưa có ngày tử, mỗi phía cho từng người.

Vài năm sau, Má mất. Ngày hôm trước Má kêu mệt, chị D đưa Má đi bác sĩ. Bác sĩ nói Má bị cảm nhưng hôm sau Má mệt hơn, chở vào bệnh viện thì Má mất. Má ra đi nhẹ nhàng, không đau đớn, không phiền hà con cháu. Thầy nói tuổi tôi hợp với giờ mất của Má nên tôi và 2 người cháu nội của Má được chọn vào tẩm liệm Má. Chồng tôi và các anh chị cũng như các cháu nội ngoại khác phải ở ngoài vì “kỵ tuổi”. Các anh chị đưa cho tôi một bịch giấy có áo dài và quần của Má, rồi trước khi tôi vào tẩm liệm Má, chị C đưa cho tôi thêm một bao giấy nữa, nói là áo quần, vật dụng của Má. Chị dặn tôi để những vật dụng đó vào trong áo quan cho Má ấm và dặn dò liệm Má phải nhẹ tay, cẩn thận từng chút.  Tôi làm xong nhiệm vụ, lòng thanh thản nhẹ nhàng.

Hôm sau trở lại nhà quàn, gặp Bà, tôi chào, thì  lạnh lùng đáp “Không dám, chào Cô”. Tôi thắc mắc không biết tại sao  lại lạnh lùng và xa cách với tôi như vậy nhưng tôi không có thì giờ để suy nghĩ vì khách và bà con đến thăm Má rất đông. Tối về, chồng tôi hỏi:

“Sao hôm qua em liệm áo quần của bà tham cho Má ?”

Tôi ngạc nhiên:

“Mấy anh chị đưa cho em bịch áo quần của Má mà.”

Anh hỏi lại:

“Chứ không phải tự em lấy nhầm áo quần của Bà Tham sao?”    

Tôi cãi lại:

“Không, em đâu có biết áo quần nào các anh chị muốn liệm cho Má. Chính chị C đưa cho em mà. “

Chồng tôi nói nhẹ:

“Vậy mà anh D nói em lấy nhầm áo quần của Bà nên Bà giận em lắm.”

Mà  giận tôi một thời gian thật vì như anhD nói với chồng tôi là  tin rằng  sắp chết vì tôi đã lấy áo quần của  liệm cho Má. Sở dĩ có chuyện này vì, sau này tôi nghe kể lại, là  sợ lạnh nên đem theo thêm áo quần, phòng khi cần đến. Lúc đến nhà quàn Bà đã để bịch áo quần vào một góc. Chị C thì nhất định chối việc chính chị đã đưa bịch áo quần của  cho tôi. Suốt một năm trời tôi sống trong lo âu và sợ hãi. Tôi cầu Trời khẩn Phật nếu được thì cho tôi chết thay  chứ nhỡ  mất, thì trong nhà lại kết tội là tôi giết Bà. Thấy  lạnh lùng, chúng tôi cũng ngại ghé thăm. Chỉ gặp  dịp Tết hay cúng giỗ, hoặc có bà con phương xa đến nhờ chở đi thăm .

Làm thợ tiện được vài năm thì anhD bị lay-off, anh ra mở một tiệm giặt máy (washateria) và làm một tờ báo Việt ngữ, chuyên quảng cáo các cơ sở thương mại do người Việt làm chủ.  Khi tôi sinh đứa con thứ hai và đang nghỉ 6 tháng để lo cho con thì một đêm khuya đang ngồi thiền, tôi bỗng thấy anhD đến ngồi trong góc nhà, đối diện với tôi, nhìn tôi mà không nói gì cả. Tôi xả thiền lên nằm cạnh chồng vì cảm giác là lạ làm tôi hơi sợ. Khoảng nửa tiếng sau, điện thoại nhà reng, chồng tôi nhấc máy. Trong đêm khuya thanh vắng tôi nghe giọng  thảng thốt bên kia giây nói: “Anh D chết rồi chú ơi”. Chồng tôi đang nửa tỉnh nửa mơ vì lúc đó chỉ hơn 2 giờ sáng, nên hỏi  dồn dập.   nói cảnh sát mới đến nhà báo tin anhD bị xe đụng chết tại chỗ. Lúc đó anhD mới 43 tuổi ta.

Cái chết của anh D mang tôi lại gần  hơn. Chúng tôi đến thăm , chị D và hai cháu thường hơn. Cháu nhỏ nhất chưa được hai tuổi. Chị D bỏ việc làm nurse aide về trông coi tiệm giặt. Bà lại âm thầm nuôi cháu và gửi tiền về Việt Nam nuôi con. Mỗi Chủ nhật  lên chùa làm công quả. Có bữa chúng tôi ghé thăm,  chưa về thì chúng tôi lên Chùa đón Bà về. Rồi có tin người con trưởng của  mất tại VN vì ung thư trong khi chờ đợi đi Mỹ do  bảo lãnh. Tôi lại một lần nữa chứng kiến sự can đảm chịu đựng của  “làm tuần” cho con gái tại chùa. Tôi chỉ thấy mắt bà long lanh lệ, chứ chưa bao giờ nghe  khóc gào gì cả.

Tình Đời

Vài năm sau khi anhD mất, cô Út qua đoàn tụ với  và chịD cùng 2 cháu.  Chúng tôi đến thăm mới biết là trong thời gian ở Việt Nam, cô Út đã bỏ đạo Phật qua đạo Baptist.   chỉ nói là tại ở Việt Nam cô Út cô đơn nên bị họ dụ dỗ.  Chị C, sau đám tang của Má, đã ly thân với chồng và cũng về Houston sống với con gái út của chị. ChịC mai mối cô Út của  với anh của một người con dâu của chị.  Anh này đang ở Tulsa, một mình nuôi con vì vợ anh ấy bỏ chồng con, đi theo “tiếng gọi con tim”. Anh ấy đến Houston vài lần để gặp và tìm hiểu cô Út. Chúng tôi tưởng sắp được ăn cưới cô Út nhưng hoài vẫn không thấy được mời.  Sau này tôi được biết sở dĩ cuộc hôn nhân không thành vì cô Út muốn anh ấy “trở lại đạo” và vì sự lấn cấn trong việc chia sẻ tình thương của anh ấy với người con trai của anh ta.

Làm tiệm giặt một thời gian chị D quen một người đàn ông bản xứ. Ông S hay đến tiệm sửa máy cho chị. Ông S dạy chị và cô Út vẽ tranh sơn dầu. Mỗi lần chúng tôi đến thăm, chị khoe những tác phẩm của chị và cô Út đã vẽ.  Sau khi kết hôn với ông S, chị D bán tiệm giặt, đến một thành phố nhỏ có hồ phía Bắc Houston, nơi anh S có một căn nhà tiền chế  đã cũ, xây “lâu đài tình ái” với anh S. Hai người xây một căn nhà sàn khá đẹp. Tôi chưa hề đến, chỉ nghe chồng tôi nói mà thôi. Chồng tôi khen anh S là xây nhà lần đầu mà anh S làm rất khéo.   vẫn ở với cô Út và cháu ngoại trong căn nhà ngày xưa anh chị DD mua trước khi anh D mất. Chúng tôi vẫn đến thăm  nhưng không thường xuyên như trước. Bà tránh nói đến chuyện chị D tái giá và chuyện cô Út cải đạo.

Không biết có phải chuyện tái giá của chị D làm cho chị C của Anh bất bình mà tỏ ra thân thiện với tôi hơn không. Chị C thường gọi phone nói chuyện và nhiều lần nhắc đến chuyện “chị D lấy Mỹ”,  rồi tâm sự xa gần là “Ở lâu mới biết lòng người”. Khi thấy tôi không “hợp tác” với chị trong việc nói chuyện về người khác thì chịC cũng không nói thêm nhiều nữa. Dù vậy thỉnh thoảng ChịC vẫn gọi than phiền chuyện này chuyện kia. Chị hay làm thức ăn cho chồng tôi vì theo chịC thì tôi không chịu nấu nướng thức ăn ngon cho cậu em út của chị.

Theo năm tháng  yếu và mất dần trí nhớ. Chị D và cô Út thay nhau săn sóc . Lúc thì  ở Houston, khi thì lên trên hồ ở với chị D và anh S. Chồng tôi có đưa anh chị Cả, từ Canada sang Houston trú lạnh vài tháng mùa Đông, đến nhà mới của chị D thăm . Còn tôi chỉ thăm  khi  về Houston.

Một lần chúng tôi đến thăm Tết , gặp cháu Th đang ra xe đi chơi. Tôi lì xì cho cháu rồi vào nhà ngồi nói chuyện với  mời chúng tôi ăn quất ngọt hái từ vườn cùng với mứt bánh. Ăn xong  nhờ chúng tôi giúp  ra vườn hái thêm Quất. Trước khi ra về,  cho chúng tôi khoảng 20 quả quất ngọt. Tôi nhận cho  vui, dù nhà tôi cũng có trồng đủ 3 loại quất; chua, ngoài ngọt trong chua, và ngọt. Vài tuần sau, chị C phone cho tôi khuyên tôi không nên tới thăm  nữa. Tôi hỏi tại sao thì chịC nói là mách với chị là “cô Ti đến thăm mà ăn cắp Quất” của .  Tôi nghe xong chỉ cười và nói với chị C là “có ‘cậuH’ đi với em mà chị”. Nhưng đó là lần cuối cùng tôi đến thăm . Tôi không buồn giận  vì không biết  có nói không nhưng để tránh phiền phức nên tôi không đến thăm  nữa. Anh thì chỉ nói là  lẫn rồi. Mấy năm sau chị C cũng theo Má và anhD.

 

Cách đây ba năm,  có tham dự đám cưới con gái chúng tôi.  không còn nhớ gì nhiều nữa. ngồi xe lăn, khi chúng tôi chào hỏi,  chỉ cười ngây thơ như đứa bé lên hai. Hai tháng trước đây, trong một lần nói chuyện với chị D, chị cho biết  yếu lắm rồi. Tôi nói với chị là tôi sẽ lên thăm nhưng khi hỏi Anh đi với tôi thì Anh nói xa quá, chờ  về Houston rồi thăm. 

Cuối Đời 

Tin  mất được cháu L gửi bằng email đến bà con thân thuộc vào sáng sớm  thứ Bảy cuối cùng của tháng Ba. Bản tin viết  mất từ chiều hôm trước. Chồng tôi gọi điện thoại cho chịD, hỏi chương trình tang lễ, chị nói không có chương trình gì cả. Anh chuyển phone cho tôi chia buồn với chị. Tôi hỏi lúc nào chúng tôi có thể viếng . Chị nói không có thăm viếng, chỉ có một cái memorial service tại nhà thờ Baptist của người Việt vùng Đông Nam Houston, lúc 6 giờ chiều thứ Ba mà thôi. Nhưng sáng hôm sau, chị cho biết chúng tôi sẽ được viếng Bà từ 7 đến 8 giờ chiều Chủ Nhật.

Từ nhà thờ Holy Rosary trong downtown Houston, sau buổi thánh lễ cầu nguyện bình an cho NS Việt Khang và những nhà tranh đấu tại Việt Nam, chúng tôi lái xe đến nhà quàn thì trời bắt đầu tối. Xa và lạ đường, dù có GPS trong cellphone, chúng tôi vẫn bị lạc một quãng, khi đến nơi thì đã 7:15′.  Trong căn nhà quàn nhỏ  của tỉnh lỵ, đứng bên xác Bà chỉ có chị D, cô Út, cháu L, cháu Th và một người đàn ông da trắng lạ. Chúng tôi được giới thiệu ông là mục sư của một nhà thờ Tin Lành trong tỉnh mà anh S và chị D thường đi lễ.

 nằm trên bàn giữa căn phòng nhỏ, giống như phòng nguyện, có đèn khá ấm cúng. Khuôn mặt an bình như đang ngủ. Không áo quan nhưng có 2 chậu hoa Lily nhỏ màu trắng và vài chậu ferns. Chị D nói nhờ không có áo quan nên thấy được  rõ hơn.  Chồng tôi hỏi tại sao không có áo quan, chị trả lời là nhà quàn nói không cần. Anh hỏi như vậy làm sao thiêu, chị nói chị không biết. Rồi chị nói thêm là nhà quàn sẽ thiêu Bà thứ hai, đến thứ ba chị và gia đình sẽ đem tro của  về chôn tại nghĩa trang chùa, nơi  đã có sẵn mộ phần và bia đứng.

Hơn 7 giờ 30 tối anh chị T và con trai của anh chị mới đến vì lạc đường. Anh T ngạc nhiên hỏi “Ủa chưa liệm à” nhưng không ai trả lời anh. Chị D cho chúng tôi biết là nhờ cháu L từ CA bay về và muốn thấy Bà Ngoại trước khi thiêu nên nhà quàn mới dành cho gia đình một tiếng đồng hồ. Vì vậy chúng tôi mới được viếng . Anh T hỏi chị sao không thấy chồng chị, chị trả lời là anh S đang trong bệnh viện vì còn yếu sau những lần chạy chemo vì ung thư phổi.  Chị D cũng nói người con thứ hai của từ NaUy không sang vì xa quá.

Mọi người rời nhà quàn lúc 8 giờ tối sau khi nhờ tôi bấm vài tấm hình. Trên đường lái xe về Houston chúng tôi khá thắc mắc về thủ tục mai táng của . Anh không hiểu tại sao  lại không có được một cái áo quan.  Theo suy đoán của Anh thì có thể  đã lo xong việc hậu sự với nhà quàn VP tại Houston từ lâu lắm rồi. Anh lý giải là bia đứng đã được dựng sẵn từ lâu thì hẳn là áo quan và chi phí tang lễ cũng đã được trả xong từ lâu lắm rồi.  Trong lúc tôi lái xe, Anh mở phone nghe tin nhắn. Một người cháu dâu của Bà đang ở Cali, vợ của cháu ruột gọi  bằng cô, để lại một message trong phone của chồng tôi với giọng bất mãn về việc tang lễ của . Chị phiền trách cô Út khá gay gắt: “Cô Út có theo đạo gì thì theo nhưng tang lễ của Bà đâu có làm như thế được”.  Về đến nhà sau 10 giờ tối, khi nhìn vào cuốn lịch treo tường, tôi chợt ước ao mọi việc vừa xảy ra trong ngày chỉ là “Cá Tháng Tư”khi thấy Chủ Nhật là ngày 1 tháng 4 năm 2012.

Từ những thành phố xa, vài người con của chị C gọi điện thoại cho Anh, báo tin sẽ về dự đám tang của . Tôi nghe Anh nói đám tang có làm gì đâu mà về.  Dù vậy tối thứ hai thì các cháu từ Dallas về đến và sáng sớm thứ ba thì người con lớn của chị C từ Tulsa cũng có mặt tại Houston để dự buổi chôn tro của  tại nghĩa trang lúc 11 giờ sáng.  Sở dĩ tôi không dùng chữ “Lễ” vì không có một vị mục sư hay vị thầy nào cả. Tôi không tham dự buổi chôn cất này vì có việc khẩn phải làm, nhưng khi mọi người về lại nhà tôi thì tôi được biết là nhân viên của nghĩa trang đã đào huyệt nhầm chỗ.  được chôn trên phần đất của bác B. Chôn xong mọi người mới thấy điều này. Chị D có đưa cho anh T một cuốn kinh Phật, bảo anh muốn đọc thì đọc.  Tôi cũng được nghe kể là khi sắp hạ huyệt thì có cơn gió lớn, làm mọi thứ rơi hết xuống đất. Và cháu L đã lên tiếng “Bà giận nên làm đổ hết đó”. Buổi hạ huyệt của  chỉ có người trong gia đình và vợ chồng một người bạn của anhD ngày trước. Tất cả chưa được 20 người  Xong buổi hạ huyệt các cháu trở lại Tulsa và Dallas, không dự buổi lễ tưởng niệm được tổ chức buổi chiều cùng ngày tại nhà thờ.

Trong thánh đường khá lớn của Vietnamese Baptist Church, Chị D, cô Út và hai cháu L, Th ngồi dãy ghế đầu. Chị D muốn chúng tôi và gia đình anh chị T  ngồi hàng ghế ngay sau lưng họ, nên dù đã ‘an tọa’ ở dãy ghế phía sau, chúng tôi phải dời lên trên theo lời yêu cầu của chị D. Bằng hữu và thành viên của nhà thờ ngồi vài hàng ghế phía sau. Tổng cộng khoảng trên dưới 60 người. Không có một người quen của  từ chùa. Buổi lễ tưởng niệm được cử hành với hai ngôn ngữ, Mục sư H.Q.Kh làm lễ bằng tiếng Việt, một thanh niên người Việt rất trẻ dịch lại tiếng Anh. Đang ngồi nghe chăm chú với sự ngưỡng mộ bởi giọng nói trầm ấm của mục sư Kh cũng như giọng tiếng Anh không có âm hưởng tiếng Việt của người dịch, tôi chợt ngỡ ngàng khi nghe mục sư Kh thao thao:

“Bà … đã sáng suốt quyết định trở về với Chúa năm 2003, sau khi nghe mục sư Tôn Thất Bình rao giảng…”

Rồi mục sư Kh kêu gọi những người chưa về với Chúa hãy thức tỉnh về với Chúa để khi chết sẽ được về dưới chân Chúa và sẽ gặp Bà…

Mục sư Kh chưa dứt lời mà những cặp mắt của chúng tôi đã vội tìm nhau. Anh T nhìn tôi. Chồng tôi nhìn tôi. Tôi chỉ lắc đầu.  Quay sang con bé, tôi nói nhanh “Mẹ chết con không được convert mẹ nghe chưa”.  Con bé nắm chặt tay tôi, nói nhỏ “Mẹ, đừng có lắc đầu, họ đang quay phim.”

Mục sư kết thúc buổi lễ và mời mọi người sang phòng bên cạnh có thức ăn nhẹ để hàn huyên. Tôi nói với Anh và con bé “Không ở lại nha, mình cùng đi về”. Cầm chìa khóa xe trong tay, tôi bước ra khỏi giáo đường. Anh T theo chúng tôi ra ngoài sân đậu xe. AnhT lắc đầu nói với chúng tôi là “Họ không có văn minh”. Trong parking lot chúng tôi gặp gia đình một người con khác của chị C từ Dallas vừa đến. Các cháu cho biết sở dĩ đến muộn vì xa lộ bị đóng do những cơn bão lốc ban trưa. Anh T đưa các cháu vào bên trong để gặp chị D và cô Út trong khi chúng tôi lái xe ra khỏi khuôn viên nhà thờ. 

Trên đường về nhà tôi hỏi chồng tôi là có tin  đã “sáng suốt” quyết định về với Chúa không.  Chồng tôi cười lớn hỏi lại “Bộ em tin hả ?”. Tôi chỉ lắc đầu thay câu trả lời. Một lát, Anh nói chậm rãi “Cô Út cải đạo, chị D cũng cải đạo mà bây giờ mình mới biết, Họ tin vào Chúa thì họ làm những gì họ nghĩ là tốt cho Bà mà thôi.” Tôi nói với Anh “Sao lại ‘cả gan’ làm như vậy được.”  và hỏi thêm “Nếu anhD còn sống, anh có nghĩ là cô Út làm được vậy không?” Anh đáp “Chắc chắn là không.”

Hơn một tuần sau, sau cuộc điện đàm với cháu ruột của  ở Cali, chồng tôi kể lại với tôi là, cháu của  cho biết là anh ấy yêu cầu chị D gửi cho một tấm hình của  để “làm tuần” cho Bà. Anh ấy đã nhận được hình và đang “làm tuần” cho  tại một ngôi chùa bên đó ./.

 

Những Đoản Khúc Rời

image

1.

Chị qua đời vào một ngày lạnh lẽo cuối năm 2013. Sự ra đi của Chị làm tôi băn khoăn không ít. Những ngày cuối đời của chị, chúng tôi đến thăm rất thường.

Chứng kiến những cảnh mà tôi cho là rất bất nhẫn, tôi phải nói với em gái của tôi những ước muốn của mình, để mong những cảnh đau lòng trong đoạn cuối đời của Chị, sẽ không xảy đến cho gia đình nhỏ của tôi.

Lâu lắm rồi tôi không khóc trong đám tang nhưng lần này tôi đã không ngăn được dòng nước mắt khi nghĩ tới suốt cuộc đời của Chị đã chỉ biết lo cho chồng con, nhưng …

Tôi đang viết về chuyện này. Có lẽ phải lâu lắm mới hoàn tất vì tôi cần thời gian để bớt hằn học, chua cay.

Đầu năm, không dưng có một chú Downy Woodpecker đến gõ trên cây oak, trước cửa sổ  phòng làm việc của tôi. Chưa bao giờ tôi thấy loài chim này ở cây oak trong sân nhà từ ngày dọn vào đây hơn hai năm qua.

 

2.

Sau bài giảng của Ni Sư sáng Chủ Nhật, 19 tháng Giêng, cháu kiếm tôi, hỏi:
– Làm sao có thể đối xử với gia đình chồng giống như đối xử với gia đình mình được, hả cô ?
Tôi nhìn cháu, hơi ngạc nhiên vì sự lúng túng của cháu, rồi thản nhiên đáp:
– Thì coi cha mẹ chồng như cha mẹ mình, coi anh chị chồng như anh chị ruột mình.
Cháu lắc đầu, khó khăn kiếm cách trả lời:
– Nhưng bố chồng, anh chồng, không đứng đắn thì làm sao mình kính trọng được, hả cô ?
Tôi không biết nói gì với cháu nên tìm ni sư Giáo Thọ hỏi. Ni sư cười hiền rồi giải thích:
– Cô có nói là đàn bà thì phải hiền lành, cư xử nhu mì nhưng cô không có nói là nhu nhược. Nhu mì và nhu nhược khác nhau xa lắm à nha.
Lời giải thích của Ni Sư cho tôi hiểu là tùy trường hợp mà ứng biến. Hy vọng sau Tết, Ni Sư sẽ giảng thêm về vấn đề này.

*

Những năm chị bệnh, có được người đến nhà chăm sóc, nhưng cứ vài tháng lại đổi người. Tôi đến thăm, hỏi chị sao lại đổi người hoài vậy, chị ngao ngán nói:
– Cái ông này (chồng chị) thiệt là kỳ cục, bạ ai cũng ôm, cũng vuốt, thì ai mà muốn làm cho mình nữa.
Mới nghe, tôi cũng tưởng là chị ghen như anh hay than thở: “Chị ghen quá là ghen. Với mấy bà Mỹ đen, chị cũng ghen.” Khá ngạc hiên, tôi đã hỏi chị:
– Chị à, chị ghen làm gì cho cực thân vậy. Em nói thật nha, nhìn cái hàm răng của anh là chẳng có bà nào có thể thích anh được đâu, nếu không muốn nói là ghê nữa.
Chị chậm rãi nói:
– Chị không có ghen em à, gần cả 20 năm nay chị có cho ổng đụng tới người chị đâu.
Tôi ngạc nhiên hỏi lại:
– Hai chục năm! Wow, sao vậy chị ?
– Chị gớm!
Nghe chị nói, tôi cầm tay chị, hỏi nhỏ:
– Chuyện gì mà ghê vậy ?
Chị thong thả kể:
– Anh lung tung lắm, trẻ không tha già không thương! Em gái chị, anh cũng mò, cháu dâu của chị, anh cũng dê. Thậm chí đến em dâu của anh, chồng chết, anh cũng không tha. Ai, anh cũng sàm sở được.

Tôi ngẩn người khi nghe chị tâm sự nhưng hơi nghi ngờ là có thể chị không nhớ đúng sự việc. Tháng trước, tôi có dịp gặp lại vài “nạn nhân”. Tôi hỏi chuyện, thì được xác nhận và được nghe thêm chi tiết, không chỉ về những hành động sàm sở của anh, mà còn về sự cư xử đê tiện của anh, với họ hàng nhà chị. Từ đó tôi đâm ra coi thường và ngại phải gặp mặt anh.

*

Bài giảng, rồi lời giải thích của Ni sư làm tôi nhớ lại có một lần, cháu kể với tôi là cháu không thể nào chấp nhận việc ở chung với bố mẹ chồng. Tôi đã đồng ý với cháu:
– Cháu không chịu là đúng vì bố chồng cháu không đứng đắn đâu. Phòng bệnh hơn chữa bệnh cháu ạ.

3.

.

Who Are You ?

I’m asking you, who are you?

You arrested me,

What wrong did I do?

Who are you?

Why did you beat me

Without pity?

Who are you?

Why didn’t you let me demonstrate

My love for our country,

For our long-suffering people?

Where are you from?

Why did you prevent me

From fighting against the invading Chinese?

Where are you from?

Why are you cursing me

In the tongue of my people?

Who are your kinsmen?

Aren’t you Vietnamese?

Why are you being the lackeys of the Chinese?

So your hands are stained for thousands of years

With the blood of your fellow Vietnamese.

I couldn’t sit still

When Vietnam is teetering!

When my people is entering

Into a thousand years or more of darkness and slavery!

I couldn’t sit still with a possibility

My offsprings

Live in a world without a country

Called Vietnam.

Translated by Roberto Wissai/NKBa’

December 31, 2011

Anh là ai?

Xin hỏi anh là ai ?

Sao bắt tôi,

tôi làm điều gì sai ?

Xin hỏi anh là ai ?

Sao đánh tôi,

chẳng một chút nương tay !

Xin hỏi anh là ai ?

Không cho tôi xuống đường để tỏ bày,

tình yêu quê hương này,

dân tộc này đã quá nhiều đắng cay !

Xin hỏi anh ở đâu ?

Ngăn bước tôi

chống giặc Tàu ngoại xâm !

Xin hỏi anh ở đâu ?

Sao mắng tôi

bằng giọng nói dân tôi !

Dân tộc anh ở đâu ?

Sao đang tâm

làm tay sai cho Tàu !

Để ngàn sau ghi dấu

bàn tay nào

nhuộm đầy máu đồng bào !

Tôi không thể ngồi yên,

khi nước Việt Nam đang ngả nghiêng !

Dân tộc tôi sắp phải đắm chìm

một ngàn năm hay triền miên tăm tối !

Tôi không thể ngồi yên

để đời sau cháu con tôi làm người

Cội nguồn ở đâu ?

khi thế giới này đã không còn VIỆT NAM !

 

By Việt Khang

WHERE IS MY VIETNAM? – VIỆT NAM TÔI ĐÂU?

VIỆT NAM TÔI ĐÂU?

Việt Khang

Việt Nam ơi! Thời gian quá nửa đời người …

Và ta đã tỏ tường rồi

Ôi cuộc đời ngày sau tàn lửa khói

Mẹ việt Nam đau từng cơn xót dạ nhìn đời

Người lầm than đói khổ nghèo nàn

Kẻ quyền uy giàu sang dối gian …

Giờ đây, Việt Nam còn hay đã mất?

Mà giặc tàu ngang tàng trên quê hương ta

Hoàng Trường Sa đã bao người dân vô tội

Chết ngậm ngùi vì tay súng giặc tàu

Là một người con dân Việt Nam

Lòng nào làm ngơ trước ngoại xâm

Người người cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi

Từng đoàn người đi chẳng nề chi

Già trẻ gái trai giơ cao tay

Chống quân xâm lược, chống kẻ nhu nhược bán nước Việt Nam

Việt Nam tôi đâu…? Việt Nam tôi đâu…? Việt Nam tôi đâu …? 

WHERE IS MY VIETNAM?

Oh my Vietnam! I have lived half my life.

And I now thoroughly understand

Ever since the horrific war came to an end

In my country what has transpired:

My motherland Vietnam is in wrenching agony

The people are slaving in abject poverty

While the rulers are steeped in riches and lies.

 

Now… I wonder whether Vietnam is still alive

Because the Chinese brazenly occupy our land.

I wonder how many Vietnamese have died

In defense of Paracel and Spratly Islands.

As Vietnamese we must not be indifferent

With regard to the Chinese invaders.

Every one of us must rise up and take up arms

In defense of the motherland.

The throng, the crowd, the sea of us all rise up

In defense of our rivers and mountains.

Old men, young men, boys and girls all raise our hands

To fight against the greedy Chinese,

To fight against the Việt rulers lackeys.

Where is my Vietnam?

Where is my Vietnam?

Where is my Vietnam?

SAVE VIETNAM FROM CHINA’S QUIET INVASION

DECLARATION OF CONCERNED VIETNAMESE WORLDWIDE REGARDING CHINA’S CURRENT QUIET INVASION OF VIETNAM 

For over two thousand years, China has pursued a policy of annexing Vietnam. The Han, the Tang, the Song, the Yuan, the Ming and the Qing dynasties all undertook full-scale invasions of Vietnam, but Vietnam managed to eventually prevail over the invaders. However, recent events have shown that again China has undertaken a quiet but comprehensive invasion of Vietnam. The latest attempts of China to annex Vietnam involved:

  1. 1974:  the naked take-over of the Paracel Islands after a brief naval battle.
  2. 1979: the land grabbing in the northern border region after a brief and bloody border war during which more than tens of thousands died on each side.
  3.  1988: the occupation of part of the Spratly Islands after another brief naval battle.
  4. Since 2007 to date: the presence of “mining” companies in the strategic central highlands of Vietnam.
  5. The strangling of the economy of Vietnam, with the aim of making Vietnam too weak economically to resist the Chinese domination.

The Paracel and Spratly Islands in the East Sea have been part of Vietnam for centuries. We have legal and historical documents as well as maps to prove our claims. Only very recently when vast oil and gas deposits were discovered in the area did the Chinese brazenly claim the islands were theirs under the absurd doctrine of Cow’s Tongue (the Paracel and Spratly Islands are like the tongue of a cow extending from their Hainan Island!), and subsequently sent their naval forces to the area to back up their expansionist claims.

Recently Chinese naval forces have increased their bullying and unlawful acts of aggression against Vietnamese fishermen who ply their trade in the waters traditionally considered part of Vietnam. There have been numerous incidents in which Vietnamese fishing boats have been rammed, shot at and quite a number of Vietnamese fishermen were either killed from gunshot wounds or detained for large amount of ransom money.

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/SouthChinaSea-blood-and-tears-TVan-07172009113941.htmlhttp://www.rfa.org/vietnamese/VietnameseNews/vietnamnews/Vietnamese-fishermen-detained-by%20chinese-sea-patrol-forced-to-pay-fine-insistently-07182009121523.html)(http://mil.news.sina.com.cn/2009-07-02/0844557400.html). (http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/another-Vietnamese-fisherboat-hit-by-a-strange-boat-on-ChinaSea-07152009103037.html)(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/9-fishermen-from-ship-hitting-in-south-china-sea-QNhu-07172009143806.html)

China’s territorial designs on Vietnam did not stop at sea. China forced the current Vietnamese government to give up land at the border and set up new demarcation posts to the advantage of China.

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-China-a-long-standing-grievances-historical-MLam-07022009133546.html).

China also forced Vietnam to permit Chinese mining companies to move into the strategic highlands in Central Vietnam. These mining companies ostensibly do mining work, but with a labor force consisting of tens of thousands of Chinese men of military age and their workplace being off limits even to the local Vietnamese authorities, their presence has caused deep concerns to the Vietnamese public across all walks of life. Retired General Vo Nguyen Giap, ex-Minister of Defense, and thus a man who should know about military matters, has publicly written three letters of concern to the highest Vietnamese authorities.

Further, China is pursuing an economic policy which is designed to strangle the economy of Vietnam. On top of flooding Vietnam with inexpensive consumer products, China has encouraged a massive smuggling program into Vietnam at the northern border. The result is that the Vietnamese business production has been weakened in the last few years. In addition, with the aim of destroying the rice-production capability of Vietnam in the south, China has plans for building a total of eight dams in the Langcang Jiang, the upstream of the Mekong River, which is located in Yunnan, China. Three of these dams have been completed. These dams have altered the natural flow of the river and resulted in the loss of 75% of fish population in the basin area. The rice production and agricultural activities in the Mekong Delta—the world’s second largest rice-producing region— are being adversely affected.

We strongly protest these expansionist and unlawful acts of aggression of China against Vietnam.

We demand China:

  1. Stop all expansionist and unlawful acts of aggression in the East Sea.
  2. Release immediately all detained Vietnamese fishermen and their boats and repay in full the costs for the damages to the boats and the values of the confiscated catches.
  3. Stop building more dams on the Langcang Jiang. Pre-treat industrial dischargeand preserve water quality in the Langcang Jiang in order to prevent the Mekong River from becoming an open sewer system for the Yunnan mining industrial giants.
  4. Resolve land, islands, sea disputes with Vietnam through diplomacy and arbitration, not though acts of bullying of a nuclear-armed power.These acts only increase the instability not only in the East Sea but also the whole Southeast Asiawhich is in need of political stability for economic development.

We, the undersigned, the concerned Vietnamese worldwide are reacting to the events in the East Sea, in the highlands and China-Vietnam border areas with increasing concern and asking for the support of the international community in our struggle to avoid being assimilated as what have happened in Xinjiang and Tibet. We are calling the world attention to China’s current quiet invasion of Vietnam and pointing out China’s long-standing policy of annexation of Vietnam.

We are asking Human Rights organizations to look into the current abuses and killings of the unarmed Vietnamese fishermen by the Chinese naval forces, and vigorously demand China to respect basic human rights with regard to the Vietnamese fishermen they are detaining unlawfully and holding for ransoms.

Attachment:

(1)   The map showing various sites of attack which are clearly in the waters hitherto considered part of Vietnamese territory.

(2)    Some photos of Vietnamese fishermen being terrorized by the Chinese vessels and their naval personnel.

(3)   Letters of Vo Nguyen Giap:

http://bauxitevietnam.info/1933/thu-thu-3-cua-dai-tuong-vo-nguyen-giap-gui-bch-tu-bo-chinh-tri-cung-quoc-hoi-va-chinh-phu-ve-van-de-bauxite-tay-nguyen/?c

http://bauxitevietnam.info/tulieu/0904_DTVoNguyenGiap.htm

http://bauxitevietnam.info/tulieu/090114_thudaituongVNG1.htm

(4)   Submission to the United Nations Commission on the Limits of Continental Shelf

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm2009n_executivesummary.pdf

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mys_vnm2009excutivesummary.pdf

If you agree with declaration, please sign up by sending your name

and those of your like-minded relatives and friends

(please include name of city and country)

to the following email address:

savevietnam09@gmail.com

or

 http://baovetoquoc.blogspot.com/

We are sending our declaration with list of signers

to The United Nations and elected officials.

We are designing a website where we keep the declaration, the list of signers, and all relevant information concerning our fight to keep Vietnam from the hands of the expansionist and annexing-minded Chinese.

Thank you for your consideration.

On behalf of

Organizing Committee of Save Vietnam from China Campaign

Ngô Khoa Bá – MBA – Houston, Texas, USA
Nguyễn Hùng – BE – Sydney, Australia
Le Q. Long – BE -Auckland, New Zealand

*************************************************************

Current list of supporters :

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/danh-sach-moi-nhut.html

Letter to  The Secretary General of United Nations:

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/tho-goi-ong-tong-thu-ky-lien-hiep-quoc.html

Letter to The Prime Minister of Australia:

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/thu-goi-thu-tuong-uc-va-mot-so-bo.html

 

LỜI MINH XÁC CỦA HIỀN VY, Thông Tín Viên đài Á Châu Tự Do (RFA) – Tuần Báo VietTide tại Nam California – Hoa Kỳ

Kính gửi quí đồng hương,
Kính Gửi Quí Cơ Quan Truyền Thông Báo Chí

Chúng tôi là Hiền Vy, Thông Tín Viên đài Á Châu Tự Do (RFA) và Cộng tác viên của Tuần Báo ViệtTide, có trụ sở tại Little Saigon, Nam California.

Như quí đồng hương đã biết, chúng tôi sinh hoạt tại Houston trên dưới 15 năm qua, từ khi mới bắt đầu cộng tác với đài phát thanh Little Saigon Radio, chương trình Thiếu nhi, chương trình Hùng Sử Việt – Ngược Dòng Lịch Sử và trên mạng internet toàn cầu trên 20 năm qua.

Gần đây chúng tôi nhận rất nhiều điện thoại và emails hỏi tôi có phải một thành viên trong Hội Phụ Nữ Việt Nam tại Texas không? Và có phải chúng tôi chuyển hướng để trở thành một người tranh đấu chính trị (activist) không?

Vì có sự ngộ nhận này, chúng tôi xin phép được minh xác cùng quí vị: Chúng tôi không phải là một thành viên của Hội Phụ Nữ Việt Nam Texas.

Sau khi tìm hiểu, chúng tôi rất ngạc nhiên được biết sở dĩ có sự ngộ nhận này là vì có một thành viên của Hội Phụ Nữ Việt Nam Texas tại Houston, dùng tên Hiền Vy trong bản thông báo của Hội đó, được phát thanh trên làn sóng 900-AM và trên một số đài TV Việt ngữ tại Houston.

Để tránh sự ngộ nhận có thể phương hại đến quyền lợi của quí đồng hương vì lòng thương mến, và tín nhiệm của quí vị đối với cá nhân chúng tôi, chúng tôi xin trân trọng xác nhận là:

Chúng tôi là một phóng viên độc lập.

Để giữ tính chất trung thực cho việc làm của mình, chúng tôi không gia nhập bất cứ vào một hội đoàn nào, một tổ chức tài chính, tổ chức tranh đấu chính trị hay xã hội nào cả.

Chúng tôi hoàn toàn không chịu trách nhiệm về việc làm của bà Hiền Vy mới xuất hiện trong cộng đồng Houston vài tuần qua.

Xin cảm ơn sự lưu tâm của quí vị. Chúng tôi cũng xin cảm ơn sự thương mến, lòng tín nhiệm của quí vị dành cho chúng tôi trong nhiều năm qua.

Trân trọng,
Hiền Vy, Thông tín Viên đài RFA và VietTide
hienvy@gmail.com

 

Trường Việt Ngữ Hùng Vương: Sự Thành Ý và Tâm Hồn Việt

Cách đây khoảng một năm, Cô Túc Trí có email cho tôi nói tôi phải viết một bài cho số đặc san Trường Hùng Vương.  Bẵng đi một thời gian không thấy Cô nhắc đến tôi tưởng đặc san đã hoàn tất nhưng không ngờ tháng Tư vừa rồi Cô lại nhắc nữa.  Té ra là Đặc San xuất bản vào năm 2011 chứ không phải 2010 như tôi tưởng.  Tôi ngại ngùng viết, không phải vì khiêm cung đâu, nhưng một phần vì lười viết, một phần vì thấy ‘tài nghệ’ của mình ngày thêm sa sút, tối ngày chỉ đợi về hưu, ‘gác tay rửa kiếm’,  nên chẳng biết viết gì xứng đáng cho người đọc.   Nghe tôi trình bày tự sự,  Cô Túc Trí ra lệnh: “Anh cứ viết đi, viết gì cũng được, chữ A, chữ  C cũng được”.  Thôi đành tuân lệnh vậy, cung kính bất như tùng, các cụ vẫn dậy như thế.  Xin  viết 3 chữ, ‘lời quê góp nhặt dông dài’,  để quí vị đọc chơi giải trí. 

Chữ A: Tôi trở thành giáo viên trường Việt Ngữ Hùng Vương một phần vì tính nể vợ và một phần vì tính dễ bị thuyết phục của tôi trước những sự nhiệt tình của bạn bè.  Nếu tôi nhớ không lầm thì khoảng cuối năm 1988 bà xã tôi quyết định dẫn 2 cháu Alex và Dĩ An đi học Việt Ngữ tại Trường Hùng Vương, chẳng bao lâu thì Bà xã tôi cũng trở thành Cô giáo Hùng Vương.  Ngày xưa “Phu Xướng Phụ Tùy”, bây giờ “Phụ Xướng Phu Tùng”,  thì tôi cũng không ngoài lệ đó.  Tôi trở thành tài xế ngoan, sáng Chủ nhật nào cũng chở cả nhà đến trường Hùng Vương, lúc đó còn ở Đại học St. Thomas.  Sau một thời gian chừng vài tuần chờ đón vợ con về sau giờ tan học, tôi cảm thấy hơi dư thừa nên tìm hiểu thêm về Trường.  Các Thầy Cô lúc đó đa số còn là sinh viên, làm việc rất hăng say và lý tưởng với tất cả Thành Ý.  Việc tuyển chọn Thấy Cô cũng khó khăn, phải dạy thử, phải khai lý lịch đàng hoàng.  Mỗi ngày vô sở làm đều nghe Cô Vân Anh thuyết phục làm thầy giáo Hùng Vương, vì lúc đó Vân Anh làm chung sở và đang là trưởng ban Giảng Huấn của trường Hùng Vương thì phải.  Rồi một buổi sáng, không biết có đẹp trời không mà tôi cũng điền hồ sơ lý lịch xin làm thầy giáo.  Tiếp sau đó là các thầy cô phỏng vấn, bắt dạy thử cho các thầy cô chấm điểm giống như thi tuyển ca sĩ vậy đó.  Tôi còn nhớ, người lý tưởng và khó nhất có lẽ là Cô Chiêu.  Ấy thế mà tôi cũng được các Thầy Cô chấm điểm nhận vào giáo ban.

Chữ B:  Hồi đó tuyển chọn giáo viên rất khó.  Các chức vụ trong ban điều hành, ban giảng huấn được chọn lựa gay go lắm, có bầu bán, tranh cử đàng hoàng.  Tôi rất phục tinh thần hy sinh của các Thầy Cô trẻ, lúc đó đều là sinh viên.  Một hồi sau hình như các Thầy Cô trẻ có vẻ mệt mỏi.  Khoảng năm 1990 Thầy Thắng làm Hiệu trưởng đã 2 năm mà chưa ai ứng cử ra thay và lúc đó tôi là giáo viên già nhất, có lẽ là người duy nhất có gia đình.  Tôi rất cảm động các thầy cô coi tôi như người anh lớn trong gia đình.  Cô Hoài Anh đặt cho tôi cái chức Anh Cả và cho đến bây giờ mỗi lần gặp lại, Hoài Anh vẫn gọi tôi là Anh Cả.  Các Thầy Cô túm lại thuyết phục tôi làm Hiệu Trưởng và dĩ nhiên tôi đã được làm anh Cả thì phải làm Hiệu Trưởng.  Sau một năm tôi làm Hiệu Trưởng tôi bị gia hạn 2 năm cho đến khi tôi cũng mệt mỏi vì công việc trong sở làm nên nhất định xin từ chức thì lúc đó Thầy Thuận lên làm Hiệu trưởng.  Khỏang thời gian 1990-1992, các Thầy Cô lần lượt tốt nghiệp đại học, ra trường hoặc lập gia đình hoặc đi làm xa nên Thầy Cô rất thiếu. Trong thời gian làm hiệu trưởng tôi làm một sự thay đổi khá lớn để đáp ứng nhu cầu giáo viên cho trường là tìm cách tuyển chọn giáo viên ngay trong hàng ngũ phụ huynh và cho các em học sinh xuất sắc lớp lớn nhất làm phụ giáo để các em có cơ hội tiếp tục học thêm cũng như phụ giúp các Thầy Cô.  Sự thay đổi này khá thành công, các em phụ giáo làm việc hăng say và thấy việc học Việt Ngữ có một kết quả nào đó và làm các em rất hãnh diện.  Các phụ huynh mang một luồng gió mới vào trường, một sự cộng tác đắc lực hơn.  Nếu những thầy cô trẻ mang không khí trẻ trung vào lớp học thì các vị phụ huynh lại có những kinh nghiệm dạy con và cái uy mà các thầy cô trẻ độc thân chưa có hay chưa thông cảm.  Theo thiển ý, hai yếu tố này dung hòa phụ trợ nhau rất là hợp lý mà ít trường Việt Ngữ nào có ngoài trường Hùng Vương.

Tôi nhớ mãi là hai vị thầy rất đặc biệt của Trường là Thầy Dỵ và Thầy Đạo. Có lẽ Bác Sĩ Nguyễn Tiến Dỵ là vị thầy chăm chỉ và dậy kỹ nhất trường, khó nhất trường từ xưa tới nay và cô Chiêu dù khó nhưng thua xa thầy Dỵ.  Từ khi Thầy Dỵ vào trường thì tôi vui mừng nhường chức già nhất cho thầy.  Học trò sợ thày đã đành mà phụ huynh cũng sợ thầy luôn, vì khó theo được sự đòi hỏi nghiêm túc của thầy. Thầy dậy các em học sinh Hùng Vương không khác gì các sinh viên y khoa của thầy trong Trung Tâm Y Khoa M.D Anderson.  Thầy soạn bài kỹ hơn bất cứ ai trong trường.  Cũng nhờ vậy mà học trò nào qua được lớp thầy Dỵ đều là học trò giỏi của Hùng Vương.  Thầy Bùi Văn Đạo lại là một thái cực khác.  Học trò rất mê học với thầy Đạo vì thầy là một con người có thể gọi là rất xuề xòa, dễ dãi về mọi mặt nhưng rất nhiệt tình.  Thầy Đạo làm tôi nhớ đến các thiền sư phá cách, rảnh tay xuống núi, không coi quan trọng vẻ bề ngoài.  Thầy Đạo dậy rất tận tâm nhưng không hề gó ép, những  em học trò ‘ba gai’ lại rất thích thầy và trở thành học trò giỏi.  Nhiều vị phụ huynh lúc chưa biết thầy có đến than phiền với tôi tại sao lại để một người ‘lè phè’ như vậy dạy học trò.  Họ không thể ngờ rằng trong cái vẻ ‘lè phè’ đó là một con người nhiệt thành với tuổi trẻ, một tiến sĩ đại học Berkley của Hoa kỳ và đã cải hóa nhiều con ngựa chứng trong sân trường Hùng Vương. 

Chữ C:  Với tôi, những ngày làm việc tại Trường Hùng Vương là những ngày rất vui và có ý nghĩa.  Tôi hân hạnh gặp các bạn trẻ và các phụ huynh có nhiều thiện chí cho tôi những cảm tình thân thương mà tôi luôn luôn trân quý. Trong mấy chục năm qua, có em học sinh rất giỏi tiếng Việt, có em học đâu quên đó, nói tiếng Việt vẫn ngọng nghịu.  Nhưng theo tôi, tất cả các em đếu có thêm một chút Việt Nam trong người, giữ lại trong các em tâm hồn Việt Nam.  Trong kỳ lễ tốt nghiệp tại đại học Texas ở Austin của cháu Dĩ An năm 2005, tôi được một sự ngạc nhiên thích thú vì có vài vị tân khoa áo mũ xêng xang đến khoanh tay cúi đầu chào tôi bằng tiếng Việt. Thì ra các em là học trò của tôi tại trường Hùng Vương trước đây.  Một phần thưởng tôi không ngờ.  Gần đây, tôi có dự một cuộc hội thảo tại Trung tâm Việt Mỹ và được nghe bác sĩ Phạm Gia Cổn là một người có nhiểu sinh hoạt văn hóa trong cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ, phát biểu rằng cái quan trọng là các em có còn tâm hồn Việt không chứ không phải là bắt buộc phải nói tiếng Việt lưu loát mới không bị mất gốc.  Cũng trong dịp này Giáo sư Nguyễn Văn Trường, một nhà giáo lão thành, nguyên là Bộ Trưởng Văn Hóa Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa trước biến cố 1975, đã nhấn mạnh, là người Việt, dù ở tuổi nào, dù ở đâu cũng cần đối xử với nhau với Thành Ý, nếu không xã hội Việt Nam ở mọi nơi sẽ là những xã hôi xây dựng trên sự dối trá và chúng ta sẽ mất gốc.  Tôi rất tâm đắc vói hai quan điểm này và tôi nghĩ các Thầy Cô trường Hùng Vương đã và đang có Thành Ý xây dựng một xã hội tương lai có những trẻ em  gốc Việt với đầy đủ tâm hồn Việt Nam.

Trong niềm hoài niệm tháng tư đen tôi tin tưởng những Tâm Hồn Việt Nam được gây dựng từ trường Việt Ngữ Hùng Vương sẽ tiếp tục đem Thành Ý xây dựng lại quê hương đang dẫy đầy sự dối trá đau thương.

 

 

Canada: Công viên Quốc Gia Banff với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ

image

Canada

 Công viên Quốc Gia Banff

với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ

Bài: Nguyễn Phục Hưng

Ảnh: Hiền Vy

VietTide – Oct 11th, 2013

Với những người thích phồn hoa đô hội, thích mua sắm, thì có lẽ phải bỏ nhiều ngày tháng đi thăm New York, Paris hay Milan, Florence…  Tuy nhiên, với những người mê phong cảnh thiên nhiên thì tiêu dao bên rặng núi Rocky Mountains có thể là một nơi chốn tuyệt vời. Rocky Mountains nằm giữa hai tỉnh bang (*) Bristish Columbia và Alberta của Canada. Vùng này rất rộng lớn, chỉ riêng trong ranh giới Alberta cũng phải mất nhiều ngày giờ mới thăm viếng hết được.  Dĩ nhiên, nếu du khách chỉ muốn “cưỡi ngựa xem hoa” thì có thể đi một vòng tam giác, từ Calgary lên Edmonton, trở qua vùng đá lạnh Jasper, lái xuyên công viên quốc gia Banff, rồi trở lại Calgary.  “Cưỡi ngựa xem hoa” như thế thì cũng mất năm ba ngày.  Với những người yêu thiên nhiên thì vài tuần ngao du, chỉ trong Công viên quốc gia Banff, vẫn còn chưa đủ.

Lake Louise nhìn từ KS The Fairmont Chateau

Công viên quốc gia Banff cách thành phố Calgary chừng 150 cây số về phía tây theo Xa Lộ Xuyên Canada, Trans Canada Highway, tức là xa lộ số 1 của Canada. Xa lộ này kéo dài từ  ven biển Thái Bình Dương ở phía tây, qua tới ven biển Đại Tây Dương ở phía đông của quốc gia này, và xuyên qua rất nhiều công viên cũng như thành phố lớn của Gia Nã Đại.  Nếu du khách chỉ đi xuyên qua công viên Banff thì không phải trả lệ phí đậu xe, nhưng nếu định ghé lại viếng cảnh núi đồi hay sông hồ nào đó trong vùng, thì phải trả khoảng 20 dollars mỗi ngày. Trạm thâu tiền nằm ngay trên tuyến đường trước khi xuyên qua công viên trên quốc lộ số 1.  Mới nghe, lệ phí có vẻ quá cao nhưng nếu bạn dừng lại để ngắm những thác nước hay các hồ trong công viên, thì sẽ thấy chi phí này rất thấp, vì việc bảo trì các thắng cảnh không phải là ít. Từ Calgary đi lên, du khách sẽ đi qua nhiều thị trấn, thác nước và hồ; từ tỉnh lỵ Canmore, tới thị trấn du lịch nổi tiếng Banff, rồi lên Lake Louise.  Những thị trấn này qui tụ đủ loại khách sạn cho du khách, tùy túi tiền. Các thị trấn này nằm dọc theo xa lộ 1 và cũng nằm ven sông Bow.  Sông  Bow bắt nguồn từ rặng núi Rocky Mountains, uốn khúc bên xa lộ 1, chảy qua thành phố Calgary.  Thường thì con sông này rất thơ mộng nhưng mùa tuyết tan tháng Sáu năm 2013 vừa qua, với những cơn mưa quá lớn, đã làm ngập lụt nhiều vùng dọc theo bờ sông và một phần Downtown Calgary, gây nhiều thiệt hại nặng nề.

KS The Fairmont Chateau Lake Louise nhìn từ Fairview Lookout.

Nổi tiếng nhất trong công viên quốc gia Banff là thị trấn Lake Louise với hồ Lake Louise vô cùng thơ mộng.  Không biết cảnh Thiên Thai đẹp như thế nào hay chỉ trong tưởng tượng của nhiều thi sĩ, chứ bây giờ dừng bên Hồ Louise thì có lẽ ai cũng phải ngẩn ngơ như Tản Đà mơ cảnh Thiên Thai trong bài Tống Biệt.

Tống biệt

 Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai

Suối tiễn, oanh đưa luống ngậm ngùi

Nửa năm tiên cảnh

Một bước trần ai

Ước cũ, duyên thừa, có thế thôi!

Đá mòn, rêu nhạt

Nước chảy, huê trôi

Cái hạc bay vút tận trời

Trời đất từ đây xa cách mãi

Cửa động

Đầu non

Đường lối cũ

Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi

(Tản Đà)

Đứng bên hồ nước mầu xanh ngọc bích soi bóng núi tuyết, dù mùa hè tuyết cũng chưa tan hết, trong buổi hoàng hôn hay lúc bình minh thì không thể có cảnh nào hút hồn du khách hơn. Mầu nước của Hồ Louise thay đổi tùy theo ánh sáng của mặt trời. Lúc mây đen, mặt hồ có mầu bạc sẩm tối, khi mây trắng, mầu nước sáng hơn và sẽ trở thành mầu ngọc thạch khi mây bay hết. Nếu là người thành phố ưa náo nhiệt, có thể thuê thuyền chèo trên hồ. Nhưng xin đừng chèo quá mạnh cho nước văng vãi tứ tung, đừng la hét vào lúc bình minh hay lúc mặt trời lặn vì sẽ làm mất đi vẻ đẹp siêu nhiên của cảnh hồ.

Lake Moraine

Nếu có tiền, hãy thuê phòng trong khách sạn The Fairmont Chateau Lake Louise ngay trước hồ, nhớ chọn cho được một phòng có ban công nhìn ra hồ để có cơ hội nhâm nhi ly cà phê bên người tình, ngắm hồ phản ánh mặt trời lúc bình minh, hay nhìn mặt trời lặn dần bên sườn núi lúc hoàng hôn, chẳng khác gì lạc cảnh Thiên Thai.  Khách sạn này khỏang 4 đến 6 trăm dollars mỗi tối cho một phòng trung bình và có thể đắt hơn nhiều, tùy mùa nhưng phải giữ chỗ trước nhiều tháng hay cả năm trời.  Nhiều du khách mê chụp hình, những nhà nhiếp ảnh nghệ thuật đã không ngần ngại dậy sớm tinh mơ đến hồ đón bình minh hay cố tình ở lại trễ để đón hoàng hôn bên hồ, nếu ở những khách sạn xa hồ.

Từ khách sạn The Fairmont Chateau Lake Louise, có thể đi bộ (hiking) trên nhiều lối tùy theo khả năng chịu đựng và thời gian cho phép.  Lối mòn Lake Louise Lakeshore là dễ đi nhất, chỉ dài chừng 4 cây số khứ hồi và không phải leo đồi. Lối mòn này chỉ mất khoảng 1 giờ đồng hồ là đi xong.

Lối mòn Lake Agnes Tea House dài khoảng 7 cây số, dẫn du khách lên độ cao gần 400 mét, khá gập ghềnh. Đi đoạn đường này mất khoảng 4 giờ đồng hồ nhưng đến cuối đường bạn sẽ có cơ hội uống cà phê hay trà tại Tea House nổi tiếng trong lịch sử bên hồ Angnes. Nếu chưa mỏi chân bạn có thể đi thêm chừng 1.5 km đến cuối hồ để chiêm ngưỡng phong cảnh thung lũng Bow và cả vùng Lake Louise.

Cũng từ Hồ Louise bạn có thể chọn đường mòn Plain of Six Glaciers. Đường này dài khoảng 11 cây số, khá gập ghềnh, trung bình mất khoảng 4, 5 giờ đi bộ leo đồi.  Đường này có lẽ là đường đẹp nhất để ngắm rặng núi đá Canadian Rockies như Mt Lefroy, Mt Victoria và vùng băng hà có tên The Plain of Six Glaciers.

Lake Moraine

Vùng này không chỉ có Lake Louise trữ tình mà còn nhiều hồ khác, tuy nhỏ hơn nhưng cũng không kém phần thơ mộng. Trong các hồ này phải kể đến Hồ Moraine, Hồ Consolation, Hồ Eifel, Hồ Angnes và Hồ Temple. Có nhiều lối mòn (hiking trails) cho du khách yêu thiên nhiên đi bộ quanh hồ hay leo núi bên hồ. Những đường đi bộ ven hồ hay leo núi, cho du khách hòa mình vào thiên nhiên.  Người Canada rất yêu thiên nhiên và có lẽ họ là những người thực hành lối sống bảo vệ thiên nhiên nghiêm túc nhất.  Hình như đa số đều thấm nhuần tư tưởng hòa nhập vào thiên nhiên, ngoại cảnh chính là họ và ngược lại. Họ bảo vệ thiên nhiên, môi trường sống, một cách tự nhiên và đầy trí tuệ chứ không phải là vì luật pháp nghiêm phạt những sự hủy hoại môi trường.

Lake Moraine

Hồ Moraine cách Hồ Louise chừng 15 cây số đường đèo. Bên cạnh Hồ Moraine là Hồ Consolation và cách Hồ Moraine chừng 7 cây số là Hồ Eiffel. Đến Hồ Moraine bạn có thể đi bộ theo lối mòn quanh hồ. Đường này rất dễ đi, dài chừng 3 cây số và phong cảnh rất đẹp.  Một lối mòn khác là lối mòn quanh Hồ Consolation cũng bắt đầu từ Hồ Moraine.   Lối này dài chừng 6 cây số khứ hồi, nhưng không gập ghềnh lắm, và tốn chừng 2 giờ đồng hồ.  Cũng từ Hồ Moraine, những người có sức có thể đi đường Lake Eiffel.  Chặng này dài khoảng 12 cây số khứ hồi, khá gập ghềnh nhưng khi lên đến đỉnh, bạn sẽ thấy phong cảnh hùng vĩ vùng thung lũng của 10 đỉnh núi cao trong vùng Lake Louise.

Trên đây chỉ liệt kê vài đường mòn nổi tiếng trong vùng Lake Louise. Có tất cả khoảng 20 đường mòn cho du khách chọn lựa. Ngoại trừ các lối mòn sát bờ hồ, khách du lịch được khuyến cáo nên đi từng đoàn ít nhất là 4 người và nhớ mang theo thuốc xịt đuổi gấu ( bear spray) đề phòng gấu tấn công.  Những năm trước, có thể đi Gondola lên đỉnh núi để nhìn toàn cảnh khu Hồ Louise nhưng năm nay phương tiện này không mở cho du khách.  Đi ngoạn cảnh hết vùng Lake  Louise chắc cũng cần cả tháng nếu bạn muốn thực sự sống với thiên nhiên, chứ không chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa”.

Lake Minnewanka.

Trở về thị trấn Banff cũng còn nhiều nơi ngoạn cảnh. Đi tàu du ngoạn trên Hồ Minnewanka, là hồ lớn nhất trong khu công viên quốc gia Banff và là hồ duy nhất được phép dùng tàu có động cơ. Chuyến đi kéo dài chừng 1 giờ để thấy cảnh đồi núi hùng vĩ soi bóng bên hồ cũng rất là thú vị.  Cạnh Hồ Minnewanka là Two Jack Lake rất thơ mộng và có thể chèo thuyền tại đây. Từ thị trấn Banff, có thể lái xe lên Mount Norquay. Con đường quanh co và có thể thấy những chú nai hay huơu thơ thẩn dạo chơi trên đường.  Mount Norquay là trung tâm truợt tuyết trong mùa đông nhưng mùa hè bạn có thể đi bộ leo núi để thấy cảnh hùng vĩ của những rặng núi quanh vùng Banff vẫn còn đóng tuyết vạn niên trên đỉnh.  Dĩ nhiên, nếu mỏi chân thì bạn có thể lấy Gondola lên tuốt đỉnh núi Sulfur Mountain, là núi cao nhất gần trị trấn Banff, để nhỉn xuống dòng sông Bow uốn khúc bên trị trấn Banff  hiền hòa.  Dọc theo sông Bow từ Canmore, qua Banff , lên tới Lake Louise, có rất nhiều nơi cắm trại cho những ngưới thích thiên nhiên mà không muốn ở khách sạn. Nếu không muốn đị bộ thì có nhiều nơi cho thuê xe đạp để rong chơi hay mạo hiểm trong các đường đi xe trong rừng núi (biking/hiking trails).

 Elbow Falls

Đời sống tại Banff, và có lẽ hầu hết ở Canada, là một đời sống thanh bình, vui thú thiên nhiên. Ở vùng này người ta ngại gấu hơn đạo tặc, cướp giựt.  Người dân không được phép mang súng.  Họ uống rượu vui chơi nhưng hiền lành lịch sự, chưa hề thấy cảnh say sưa nhiễu loạn như tại các thành phố lớn Hoa Kỳ.  Nếu là khách du lịch, nên cẩn thận chớ coi thường các vị cao niên dân địa phương.  Có nhiều bà đã già nhưng họ leo núi phăng phăng mà dân trai trẻ quen sống thành thị, ham thể thao trên TV khó lòng bì kịp. Đó là kinh nghiệm bản thân của chúng tôi khi nhập đoàn hiking cùng hai vị bô lão và cuối cùng chúng tôi đành bỏ cuộc vì các cụ bỏ xa chúng tôi trên Eiffel Trail, gần Hồ Moraine. Những ngày ở Banff thật là thú vị và bổ ích. Rời Banff mà lòng luyến tiếc vì có nhiều nơi chưa kịp thăm viếng lại, nhất là vùng băng hà và công viên Jasper. Đây là lần thứ ba chúng tôi đến vùng Lake Louise nhưng lần này được sống với núi rừng thiên nhiên, khác hẳn các lần trước.  Hai mươi năm trước chúng tôi đã viếng cảnh Jasper nhưng chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa”. Chúng tôi hẹn nhau sang năm trở lại để đi hết những phong cảnh vừa hùng vĩ vừa thoát trần của Rocky Mountains. Có lẽ đây là tâm sự của chàng Lưu Nguyễn vừa ra khỏi Thiên Thai trong huyền thoại:

Cửa động

Đầu non

Đường lối cũ

Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi

Banff nhìn từ Sulfur Mountain

 

Nguyễn Phục Hưng

9/2013

(*) Canada có 10 Tỉnh Bang (Provinces):

Alberta, British Columbia, Manitoba, New Brunswick, Newfoundland and Labrador, Nova Scotia, Ontario, Prince Edward Island, Quebec, and Saskatchewan.

Phản Kháng Âm Mưu Xâm Lược Việt Nam của Trung Quốc

image

Đây là Bản Tuyên Bố của những Người Việt Thầm Lặng không đảng phái chính trị, vẫn thường xuyên quan tâm đến tình hình đất nưóc. Nếu quí vị đồng ý với những lời kêu gọi trong bản Tuyến Bố này xin vui lòng ký tên bằng cách gửi tên, tuổi(optional), nơi cư ngụ về địa chỉ điện thư dưới đây: savevietnam09@gmail.com

BẢN TUYÊN BỐ

CỦA NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI

VỀ SỰ XÂM LĂNG THẦM LẶNG CỦA TRUNG QUỐC

 ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Trong thời gian hơn hai ngàn năm qua, Trung Quốc đã liên tục theo đuổi sách lược thôn tính Việt Nam. Nhiều triều đại kế tiếp của Trung Quốc  từ Hán, Đường, Tống, Minh, Nguyên, và cuối cùng nhà Thanh, tất cả đều có dã tâm xâm lăng và đồng hóa Việt Nam.  Nhưng Việt Nam đã kiên trì vượt qua mọi hiểm nghèo, chống lại một cách thành công dã tâm của Trung Quốc và tồn tại cho đến ngày nay.  Tuy nhiên những sự kiện xảy dồn dập trong những năm qua cho thấyTrung Quốc đang tiến hành trở lại âm mưu xâm lăng tuy thầm lặng nhưng không kém nguy hiểm, bao trùm cả Việt Nam.

Những sự kiện xảy ra giữa Trung Quốc và Việt Nam gồm:

  1. Năm 1974, chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa sau trận hải chiền ngắn.
  1. Năm 1979, chiếm đóng mốt số lãnh địa gần biên giới phía Bắc sau trận chiến khóc liệt tại suốt khu vực biên giới Việt  Trung.
  2. Năm 1988, chiếm đóng một số đảo trong quần đảo Trường Sa sau trận hải chiến ngắn khác.
  3. Từ năm 2007 đến nay, có sự xuất hiện đáng nghi ngờ cùa các công ty quốc doanh Trung Quốc chuyên khai thác tài nguyên khoáng sản quặng mỏ  tại nhiều vùng được đánh giá rất quan trọng về  mặt an ninh và chiến lược  quân sự, -cụ thể như vùng Tây Nguyên của Việt Nam.
  4. Bóp nghẹt nền kinh tế Việt Nam nhằm mục đích làm cho Việt Nam trở nên suy yếu về kinh tế và hậu quả tai hại là Việt Nam sẽ không thể chống cự lại được mọi  khống chế của Trung Quốc.

Từ nhiều thế kỷ nay, Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông là lãnh thổ của Việt Nam. Nhiều thế hệ  người Việt Nam đã xây dựng cơ chế xã hội và quân đội trên  hai quần đảo này. Việt Nam có nhiều tài liệu cũng như  các bản đồ do các triều vua Việt Nam từ nhiều thế kỷ trước thực hiện, chứng minh rõ ràng chủ quyền của Việt Nam. Chỉ mới gần đây, khi nhiều quặng mỏ dầu và khí đốt được tìm ra, Trung Quốc bắt đầu đơn phưong tuyên bố chủ quyền các quần đảo này qua –tài liệu lãnh hải hình “Lưỡi Bò”  tiếm  nhận  toàn bộ vùng biển bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa trong lãnh hải  kéo dài từ phía nam đảo Hải Nam – và sau đó Trung Quốc điều động lực lượng hải quân của họ đến kiểm soát toàn khu vực.

Thời gian mới đây hải quân Trung Quốc gia tăng hành động bạo lực phi pháp đối với ngư phủ Việt Nam trên Biển Đông. Nhiều sư kiện liên tục xảy ra, trong đó tàu thuyền đánh cá của ngư phủ Việt Nam bị tàu hải quânTrung Quốc đụng chìm, bắn phá, ngư dân bị bắn chết, bị thương vong và bị bắt làm con tin đòi tiền chuộc mạng.

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/SouthChinaSea-blood-and-tears-TVan-07172009113941.html)

(http://www.rfa.org/vietnamese/VietnameseNews/vietnamnews/Vietnamese-fishermen-detained-by%20chinese-sea-patrol-forced-to-pay-fine-insistently-07182009121523.html) (http://mil.news.sina.com.cn/2009-07-02/0844557400.html)

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/another-Vietnamese-fisherboat-hit-by-a-strange-boat-on-ChinaSea-07152009103037.html)

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/9-fishermen-from-ship-hitting-in-south-china-sea-QNhu-07172009143806.html

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-China-a-long-standing-grievances-historical-MLam-07022009133546.html).

Trung Quốc vừa dùng tiền của, vật chất vừa áp lực nhà nước Việt Nam để các công ty quốc doanh chuyên khai thác tài nguyên khoáng sản quặng mỏ được vào vùng Tây Nguyên độc quyền dài hạn khai thác quặng kim loại quan trọng như Titanium, Nhôm, vân vân.  Những công ty Trung Quốc này không thu dụng công nhân Việt Nam nhưng lại đem hàng ngàn thanh niên Trung Quốc trong lứa tuổi phục vụ quân đội sang làm việc và sinh sống biệt lập trong các khu vực giành riêng của họ.  Ngay cả các cơ quan nhà nước Việt Nam cũng không được phép vô kiểm tra những nơi này.

Dân chúng Việt Nam nghi ngờ và rất lo lắng về dã tâm đen tối của Trung Quốc, lợi dụng việc khai thác khoáng sản quặng mỏ để bí mật cài đặt tiềm lực quân sự cùa họ, nhất là vùng Tây Nguyên.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam, là người dày dặn kinh nghiệm và có nhiều thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến an ninh quốc phòng, đã ba lần công khai lên tiếng đến các cấp lãnh đạo cao cấp nhất của đảng và nhà nước Việt Nam, bày tỏ nỗi lo lắng sâu xa trước sự có mặt của Trung Quốc trong khu vực Tây Nguyên, vùng rất quan trọng về mặt chiến lược trong việc giữ gìn an ninh toàn vẹn lãnh thổ của  Việt Nam.

Đồng thời, Trung Quốc còn lũng đoạn kinh tế Việt Nam bằng cách cho tràn ngập và phá giá thị trường Việt Nam với nhiều loại hàng hóa tiêu dùng không đủ tiêu chuẩn an toàn vệ sinh, và chuyển vận bất hợp pháp nhiều loại hàng hóa, – vật liệu xuyên qua toàn vùng biên giới Việt Trung. Hậu quả của ý đồ thâm độc này là các ngành sản xuầt của  Việt Nam đang  bị suy yếu chết dấn mòn.

Ngoài ra, với âm mưu nhằm hủy hoại khả năng sản xuất lúa gạo của vùng đồng bằng miền Nam của Việt Nam, Trung Quốc  đang thực hiện kế hoạch xây 8 đập thủy điện lớn trên khu vực thượng nguồn của sông Cửu Long trong vùng Vân Nam. Trung Quốc vừa hoàn tất  ba đập thủy điện lớn.  Những đập này đã thay đổi dòng chảy tự nhiên của sông Cửu Long và gây thiệt hại đến khoảng 75% số lượng thủy sản trong khu vực hạ lưu sông Cửu Long.  Mức độ sản xuất lúa gạo và các hoạt động nông nghiệp trong vùng châu thổ sông Cửu Long của Việt Nam  – khu vực sản xuất lúa gạo lớn nhất thế giới – bị suy giảm nghiêm trọng.

Chúng tôi cực lực chống lại những hành động bành trướng phi pháp và bá quyền cùa Trung Quốc đối với Việt Nam. Chúng tôi đòi hỏi Trung Quốc:

  1. Thả tự do lập tức và vô điều kiện tất cả ngư phủ Việt Nam hiện đang còn bị bắt giữ trái phép cùng với tàu thuyền của họ và bồi hoàn đầy đủ những chi phí chi trả cho việc sửa chữa những hư hại gây ra cho những tàu thuyền, và bối thướng toàn bộ thiệt hại cho số hải sản bị tịch thu trái phép.
  2. Ngừng ngay những hành động bạo lực bá quyền phi pháp đối với ngư phủ Việt Nam trên Biển Đông.
  3. Ngừng xây thêm đập thủy điện trên khu vực Langcang Jiang. Xử lý toàn bộ nuớc phế thải kỹ nghê đúng tiêu chuẩn quốc tế để bảo vệ chất lượng nước trong vùng để sông Cửu Long không bị trở thành một hệ thống thoát nước phế thải của các tập đoàn kỹ nghệ Yunnan.
  4. Giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ, biển đảo và lãnh hải bằng đuờng lối ngoại giao và tuân hành các qui ước quốc tế, không qua hành động áp chế bằng bạo lực. Những thái độ và hành động bạo lực chỉ làm gia tăng tình trạng bất ổn định không những cho vùng Đông Á mà còn cho vùng Đông Nam A, khu vực rất cần sự ổn  định chính trị, giúp cho công cuộc phát triển kinh tế trong khu vực.

Chúng tôi, người Việt Nam trên toàn thế giới ký tên dưới đây đặc biệt quan tâm và lo ngại đến những biến cố dồn dập xảy ra ngoài Biển Đông, trên vùng Tây Nguyên và vùng biên giới Việt Trung.  Sống cạnh Trung Quốc, như kinh nghiệm của người Tây Tạng , nguời Uighurs tại Tân Cương, chúng tôi biết rõ chủ trương lâu đời cùa Trung Quốc là  xâm chiếm  và đồng hóa các nước láng giềng có ít dân.

Chúng tôi kêu gọi những tổ chức bảo vệ nhân quyền tiến hành điều tra những sự ngược đãi và giết hại ngư phủ Việt Nam  không võ trang và không ai bảo vệ, do hải quân Trung Quốc đang gây ra trên Biển Đông, và khẩn thiết  đòi hỏi Trung Quốc tôn trọng quyền căn bản của con người đối với ngư phủ Việt Nam đang bi họ bắt giữ phi pháp và đòi tiền chuộc mạng.

Đính kèm:

(1) Bản đồ Biển Đông ghi lại những địa điểm thuyền đánh cá Việt Nam bịTrung Quốc tấn công và bắt giữ, cho thấy rõ rang họ đang ở  trong vùng lãnh hải Việt Nam.

(2) Một số hình chup cảnh ngư phủ Việt Nam bị đối xử tồi tệ và bị khủng bố, hạ nhục nhân phẩm và hình lính hải quân Trung Quốc đang khủng bố ngư dân Việt Nam.(3) Thư của  Đại Tướng Võ Nguyên Giáp lên tiếng về việc khai thác Bauxite và hiểm họa Trung Quốc tại Tây Nguyên:

http://bauxitevietnam.info/1933/thu-thu-3-cua-dai-tuong-vo-nguyen-giap-gui-bch-tu-bo-chinh-tri-cung-quoc-hoi-va-chinh-phu-ve-van-de-bauxite-tay-nguyen/?c

http://bauxitevietnam.info/tulieu/0904_DTVoNguyenGiap.htm

http://bauxitevietnam.info/tulieu/090114_thudaituongVNG1.htm

(4) Hồ sơ Việt Nam nộp lên Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Cứu Xét Ranh Giới Thềm Lục Địa:

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mys_vnm2009excutivesummary.pdf

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm2009n_executivesummary.pdf

http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm2009n_executivesummary.pdf

 

Đây là Bản Tuyên Bố của những Người Việt Thầm Lặng

không đảng phái chính trị, vẫn thường xuyên quan tâm đến tình hình đất nưóc.

Nếu quí vị đồng ý với những lời kêu gọi trong bản Tuyến Bố này xin vui lòng ký tên bằng cách gửi tên họ, tuổi(optional), nơi cư ngụ về địa chỉ điện thư dưới đây:

savevietnam09@gmail.com

hay tại

http://baovetoquoc.blogspot.com/

Nhóm chủ trương sẽ gửi bản Tuyên Bố này đến các cơ quan liên hệ của Liên Hiệp Quốc,

các vị dân cử trên khắp mọi quốc gia trên thế giới và các cơ quan truyền thông

Chúng tôi cũng đang soạn một Website để phổ biến biến dự án này trên hệ thống Internet.

Trong tình trạng Tổ Quốc lâm nguy trước nạn Bắc Thuộc, chúng ta không thể tiếp tục im lặng chờ đợi vào nhà nước Việt Nam và các đảng phái chính trị trong cũng như ngoài nưóc.

Xin hãy cùng góp một tay để lên tiếng kêu gọi lương tâm thế giới trước nạn Bắc xâm.

Trân Trọng

Thay Mặt Nhóm Người  Việt Thầm Lặng Chống Nạn Bắc Thuôc.

Ngô Khoa Bá – MBA – Houston, USA
Nguyễn Hùng  – BE – Sydney, Australia
Le Q. Long  – BE – Auckland, NZ

**************************************************************

Danh sách những người ký tên

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/danh-sach-moi-nhut.html

Thư gửi Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/tho-goi-ong-tong-thu-ky-lien-hiep-quoc.html

Thư gửi Thủ Tướng Úc

http://baovetoquoc.blogspot.com/2009/09/thu-goi-thu-tuong-uc-va-mot-so-bo.html

.

Buổi Tâm Tình và Ra Mắt Sách: Tuổi Thơ và Chiến Tranh của Võ Đại Tôn

Tuệ An(*)

Trong chuyến công du 2 tháng tại Hoa Kỳ, từ nước Úc, cựu Đại tá  Quân lực Việt Nam Cộng Hòa Võ Đại Tôn tức tác giả Hoàng Phong Linh của nhiều tác phẩm Thơ Văn đã ghé lại Houston. Tại đây Ông đã gặp gỡ đồng hương trong “Buổi Tâm Tình và Ra Mắt Sách Tuổi Thơ và Chiến Tranh” vào chiều Chủ Nhật 30 tháng 5, 2010. 

“Tôi không phản bội bất cứ ai đã giúp đỡ, ủng hộ tôi. Tôi tiếp tục duy trì lập trường chính trị của tôi (để tranh đấu) cho tự do và giải phóng dân tộc. Tôi đã sẵn sàng nhận bất cứ một bản án nào mà chế độ cộng sản dành cho tôi”

Đó là lời tuyên bố của ông Võ Đại Tôn trong cuộc họp báo quốc tế tại Hà Nội ngày 13 tháng 7 năm 1982 trong một đoạn phim được trình chiếu tại buổi “Tâm Tình và Thơ Nhạc Hoàng Phong Linh – Võ Đại Tôn và ra mắt tác phẩm Tuổi Thơ và Chiến Tranh” do Liên Minh Quang Phục Việt Nam tổ chức tại Houston cuối tuần qua. Đoạn phim do phóng viên Mori của đài Truyền hình Nhật Bản TV-NHK thâu được.  Và câu tuyên bố đó của ông Võ Đại Tôn là ngoài sự tiên liệu của nhà nước Việt Nam, và cuộc họp báo chấm dứt ngay sau lời tuyên bố của ông. Sự can cường của ông đã làm thế giới khâm phục nhưng cũng là nguyên nhân khiến ông bị tù biệt giam 10 năm tại trại tù Thanh Liệt với những lần bị tra tấn dã man, cho đến năm 1992 mới được trục xuất về lại Úc Đai Lợi.

Là một cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ông Võ Đại Tôn và gia đình vượt biển định cư tại Úc năm 1975. Đến năm 1980 ông cùng với những người đồng chí hướng đã trở lại Việt Nam xuyên qua đường bộ Thái Lan, Campuchia và Ai Lao để tham gia kháng chiến phục quốc nhưng bị bắt tại biên giới Lào Việt vào tháng 10 năm 1981.

Giới thiệu tác giả Hoàng Phong Linh và tác phẩm của ông là Luật sư Hoàng Duy Hùng, người cũng đã từng về Việt Nam để mưu cầu phục quốc và cũng đã bị giam cầm trong lao tù của nhà nước Việt Nam gần 2 năm, nói là trong tác phẩm Tuổi Thơ và Chiến Tranh, bài thơ Nước Trôi Mồ Mẹ đã được tác giả viết trong bối cảnh nước lụt dâng tràn, sắp cuốn trôi mồ mẹ của ông, người đã bị cộng sản giết năm 1947, và đã khiến Hoàng Phong Linh liên tưởng đến cơn lụt chính trị đang cuốn trôi cả Mẹ Việt Nam.

“Đó là bối cảnh của một dòng sông, e rằng nước dâng lên trôi luôn cả xương cả cốt của mẹ mình vì cái tội tàn ác của cộng sản Việt Nam, thời kỳ 1946 Việt Minh nổi dậy ở Đà Nẵng.  Nhưng mà còn là cái biến cố trôi trong tâm hồn của ông; Việt Nam đau khổ sẽ bị cuốn trôi, cuốn trôi trong dòng nước bạo lực này, giòng nước của bạo tàn… Trong tâm tư đó, ông Võ Đại Tôn đã viết bài đó …”  

Trong phần tâm tình với đồng hương, ông Võ Đại Tôn đã kể lại những câu chuyện đau lòng ông đã gặp mà điển hình là chuyện “Miếu Ba Cô”

“Trên những trạm tỵ nạn hoang vu, tôi đã thấy những ngôi mộ hoang tàn, lạnh lùng, không khói không nhang. Những mộ bia bị đập nát tan, và trong khu rừng âm u, tôi thấy một cái miếu nhỏ. Tôi đã hỏi người Nam Dương cái miếu này là miếu gi. Thì ông ta nói đây là cái miếu của 3 cô gái Việt Nam đã bị hải tặc hãm hiếp và trôi dạt vào bờ, còn sống, họ vớt lên được. Nhưng vì uất hận, nhục nhã, 3 cô gái Việt Nam chưa đầy 20 tuổi đã lén ra ngoài khu rừng treo cổ, tự tử trên nhánh cây. Và người Nam Dương đã lập miếu thờ và gọi là Miếu Ba Cô”  

Và chuyện tấm ảnh của các em bé gái Việt Nam 5, 6 tuổi đang làm nô lệ tình dục tại Campuchia, do một người bạn phóng viên của ông gửi cho:

“Một ký giả ngoại quốc quen với tôi đi Campuchia và gửi về cho tôi một tấm ảnh, với giòng chữ viết ‘Hãy nhìn tấm ảnh này để thấy cả dân tộc của anh’. Ông ta chỉ viết như vậy thôi. Tôi lật tấm ảnh ra và tôi bàng hoàng, đấy là hình của 4 người con gái Việt Nam khoảng 6 tuổi, 7 tuổi, ngồi co ro trong một cái vách ở Campuchia và hai chân đầy cả máu. Những người con gái Việt Nam 5, 6 tuổi đã bị bán qua Campuchia để làm công cụ tình dục. Lịch sử Việt Nam chưa bao giờ có chuyện này. Chỉ có dưới chế độ cộng sản ngày nay”    

Và ông cũng nói lên ước vọng là muốn trao lại cho giới trẻ tinh thần bất khuất trước bạo lực và được đồng hành cùng thế hệ trẻ, một cuộc hành trình công tâm để dựng lại niềm tin và cùng hy sinh cho Mẹ Việt Nam :

“Thế hệ chúng tôi xin được hòa đồng cùng tuổi trẻ Việt Nam để từ đó chúng ta kết hợp lòng người giữa hai dòng thế hệ, để đòi lại quyền sống cho dân tộc Việt Nam. Tôi xin gửi lại cho các bạn trẻ những máu xương của anh em chúng tôi đã đổ xuống trên chiến trường miền Nam trong quân đội Việt Nam anh hùng nhưng đã bị bức tử sau những cánh cửa khép kín tại Hoa Thịnh Đốn, tại Ba Lê, tại Bắc Kinh và tại Moscow. Anh em chúng tôi đã ngậm ngùi buông súng xuống … nhưng không trao lại cho thế hệ tuổi trẻ những nỗi ngậm ngùi đó, mà xin trao lại cho tuổi trẻ cái tinh thần bất khuất của những người đã dám hy sinh cho tổ quốc” 

Có mặt trong buổi Tâm Tình này, phu nhân của ông Võ Đại Tôn tâm sự là mặc dù bà rất buồn khổ khi ông bị tù đày nhưng so với vợ của các nhà đấu tranh cho Dân Chủ trong nước thì bà còn may mắn hơn nhiều:

“Tôi cũng có sự đau khổ khi phải xa chồng nhưng tôi nghĩ đến những người đàn bà Việt Nam, sống trong hoàn cảnh rất là khó khăn. Cuộc sống đã khó khăn mà tiếng nói lại nhỏ bé, họ không làm gì được …”   

Buổi họp mặt có nhiều người trẻ tham dự, nha sĩ Chu Văn Cương chia sẻ là ông Võ Đại Tôn đã đem lại niềm phấn khởi cho giới trẻ Việt Nam và NS Cương cũng đồng ý với quan điểm là các thế hệ phải đồng hành để đạt được sư tín nhiệm của mọi người trong nỗ lực vận động cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền tại Việt Nam:

“Ông Võ Đại Tôn đã đem lại thêm niềm hy vọng cho những người ở đây. Nhờ vậy chúng tôi cảm thấy rất là phấn khởi để tiếp tục con đường đấu tranh mà mình đã chọn. Đây là một đường lối rất tốt và nếu chúng ta thắng được nhân tâm thì chúng ta sẽ đi tới được đoạn đường tốt đẹp hơn…”  

(*) Tuệ An là bút hiệu của Hiền Vy và Nguyễn Phục Hưng khi viết chung

Người Việt Houston cứu trợ nạn nhân bão Hải Yến

Phóng sự của VOA – Nguyễn Phục Hưng thực hiện

Phát thanh Thứ Tư, 18-12-2013

 

Theo các cơ quan truyền thông quốc tế thì tính đến ngày 13 tháng 12 năm 2013, sau khi bão Hải Yến đánh vào Philippines ngày 8 tháng 11 năm 2013, số người thiệt mạng lên đến hơn 6000, và 1800 người bị coi là mất tích, hơn 27ngàn người bị thương và khoảng 3triệu 9 trăm ngàn người mất nhà cửa, đang phải sống trong các trại tị nạn. Trước cảnh thương tâm này, cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản khắp nơi trên thế giới đã có những hoạt động cứu trợ người Phi rất tích cực.

Sau biến cố Tháng Tư 1975, rất nhiều người Việt, trên đường đi tìm tự do, đã được chính phủ và dân chúng Phi luật Tân giúp đỡ.  Đây là cơ hội cho người Việt tha hương tỏ lòng tương thân và biết ơn với chính phủ và dân tộc Phi.  Riêng tại Houston, sau buổi gây quỹ khẩn cấp tại trụ sở Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia vào ngày 17 tháng 11, 2013, Ủy Ban Cứu Trợ Nạn Nhân Bão Lụt Phi Luật Tân tại Houston được thành lập. Ủy Ban này đã tổ chức một cuộc gây quỹ qui mô với sự tham dự của nhiều đoàn thể người Việt và các cơ quan truyền thông tiếng Việt, đặc biệt là hệ thống SGN Network.  Ngày 12 tháng 12, 2013, Ủy Ban đã mở một cuộc họp báo tại Houston, để công bố kết quả và chính thức trao cho ông Steve Vetrano, Tổng Giám Đốc điều hành hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ, khu duyên hải Texas, một số tiền hơn 300 ngàn mỹ kim, để cứu trợ cho các nạn nhân bão Hải Yến.

Trong dịp này bà Kim Nguyễn, trưởng ban điều hợp của Ủy Ban cứu trợ đã nói rằng mục đích của cuộc gây quỹ là để đáp lại những tấm lòng nhân ái mà chính phủ và dân tộc Phi đã dành cho người Việt trên bước đường đi tìm tự do:

“Sau năm 1975 hàng triệu người VIệt Nam đã bỏ nước ra đi tìm tự do, đa số ra đi bằng những chiếc thuyền mong manh. Gần nửa triệu người đã bỏ mình trên biển cả hoặc bị chết vì hải tặc, vì đói khát. Nhiều trăm ngàn người đã tới Phi Luật Tân an toàn và họ được chính phủ cũng như dân Phi Luật Tân tận tình giúp đỡ. Để đáp lại ân tình này, cộng đồng người Việt hải ngoại khắp nơi trên thế giới nói chung và cộng đồng người Việt tại Houston nói riêng, đã có nhiều cuộc gây quỹ để cứu trợ nạn nhân bão lụt.  Ngày hôm nay quý vị hiện diện nơi đây để chứng kiến chúng tôi trao số tiền cứu trợ cho ông Steve Vetrano, đại diện cho Hồng Thập Tự…”

Cuộc gây quỹ có sự hỗ trợ nhiệt thành của Hội Đồng Liên Tôn Houston.  Trong buổi họp báo này, Linh mục Phạm Hữu Tâm, một thành viên của hội đồng liên tôn, có nhận xét là bão Hải Yến làm mọi người cùng chung làm việc và tạo nên sự thông cảm giữa các cộng đồng thiểu số:

“Cộng đồng Việt Nam lại càng gần gủi với cộng đồng của các người thiểu số, đặc biệt là người Phi Luật Tân.  Họ có dịp để cùng chia sẻ, họ cùng làm việc với cộng đồng chúng ta và đồng thời, họ cũng hiểu biết về cộng đồng chúng ta là một dân tộc hiền hòa, thương yêu, lễ độ và đầy tình con người, đầy tình biết ơn đối với ơn nghĩa mà chúng ta đã nhận từ họ lúc trước. Một điều nữa là cộng đồng bản xứ ở đây lại càng để ý và thấy quan trọng với cộng đồng người Việt nhiều hơn. Cho nên qua đó, chúng tôi cảm tạ Thiên Chúa, cảm tạ Thượng đế đã cho chúng ta có dịp làm việc chung với nhau, biến sự bất hạnh của con người thành niềm vui chia sẻ với các anh chị em khác.”

Sơ Lucy Lương, thuộc dòng nữ tu Đa Minh, là một trong những người tích cực vận động cho việc gây quỹ, cho là Phi Luật Tân đã luôn hết lòng giúp đỡ người tị nạn Việt nam cho đến phút cuối, khi mà các quốc gia khác đã từ chối. Sơ Lương bày tỏ sự cảm động trước sự thành công của công tác cứu trợ:

“Thiên Chúa đã dậy chúng ta lòng biết ơn và những người chia sẻ, thì Thiên Chúa là người quảng đại sẽ trả công cho họ. Vì thế giây phút này là giây phút mà tôi rất cảm động vì cái sự thành công và cái sự tốt đẹp, sự đoàn kết của anh chị em ở Houston này.”

Hiện diện trong buổi họp báo, ngoài nhiều đồng hương, các nhóm thiện nguyện trong cuộc gây quỹ qui mô, còn có nhiều người Phi Luật Tân tham dự. Ông Reyes một người Phi thuộc Phòng Thương Mại Mỹ Phi tại Houston, nói là ông rất mang ơn những sự trợ giúp rộng lượng của cộng đồng người Việt và chính phủ Phi Luật Tân cũng rất mang ơn những sự trợ giúp do người Việt gửi qua cho các nạn nhân:

Một thành viên của ủy ban gây quỹ là ông Nguyễn Đình Trung, người đã sống tại trại tỵ nạn Palawan trong suốt 16 năm, tâm tình với các người Phi hiện diện trong buổi họp báo, bằng tiếng Phi, gây cảm xúc cho nhiều người:

“Trung nói với tất cả người Phi bằng tiếng Phi là Trung ở Philippines 16 năm, Trung uống nước của Phi, ăn cơm của Phi, con của Trung đẻ ở Phi, 2 đứa. Nhiêu đó là đủ  để cho người ta biết rằng Phi là đất nước thứ hai của Trung, 16 năm không phải là thời gian ngắn. Trung thành thật cảm ơn người ta đã nới rộng vòng tay, nhận mình từ năm 1975 tới nay và hiện tại còn 3 người Việt tị nạn đang sống bên đó.  Trung thành thật cảm ơn họ, số tiền mà chúng ta đóng góp thật sự, Trung nói, là rất nhỏ nhưng mà từ trái tim của người Việt Nam tại Houston…”

Đại diện của cộng đồng người Mỹ gốc Phi tại Houston nói là từ trong đáy lòng, những người Mỹ gốc Phi cảm ơn sự giúp dỡ của cộng đồng người Việt Houston.

“On behalf of the Filipino American Community of  Houston, I would like to thank you…”

Ông Steve Vetrano phát biểu là ông rất hân hạnh thay mặt Hội Hồng Thập Tự, tiếp nhận số tiền hơn 300 ngàn Mỹ kim để xử dụng vào công tác cứu trợ và ông cảm ơn sự cố gắng của ban tổ chức và cộng đồng người Việt Houston:

“Thank you for your hard work in raising this these dollars and It is my honor to  be able to take this back to share with  the Red Cross net work, Thank You

Ủy Ban cho biết, mặc dù cuộc gây quỹ tổ chức tại Houston nhưng qua hệ thống internet, nhiều người Việt từ các tiểu bang khác và từ Canada cũng gửi về đóng góp. Ngoài ra, trong buổi họp báo, bà Vũ Thanh Thủy, giám đốc đài phát thanh Sàigòn Houston, là một trong hai người điều hợp chương trình, còn cho biết là sẽ có một phái đoàn trợ giúp y tế qua Phi Luật Tân vào tháng 2 năm 2014 để trực tiếp giúp đỡ các nạn nhân.

Rất nhiều người Việt tị nạn cộng sản nặng tình với dân tộc và chính phủ Phi.  Nhớ lại tấm lòng nhân ái của dân tộc và chính phủ Phi dành cho họ trên bước đường tị nạn, họ luôn cầu nguyện và tìm cách giúp những nạn nhân bão Hải Yên được sớm vuợt qua cơn thiên tai tàn khốc.  Hiện nay vẫn còn nhiều tổ chức khác nhau tại Houston tiếp tục nỗ lực gây quĩ cứu trợ nạn nhân bão lụt Phi Luật Tân. Và vào tối Thứ Bảy, 14 tháng 12, đài việt ngữ VAN-TV tại Houston cũng có truyền hình trực tiếp về buổi trao số tiền trên 60 ngàn Mỹ Kim cho Hội Hồng Thập Tự. Số tiền này do khán giả và thân chủ của đài VAN-TV đóng góp trong chương trình gây quĩ  trực tiếp, kéo dài 2 tuần trên làn sóng của Đài.

Nguyễn Phục Hưng, tường trình từ Houston, TX.

Người Việt Hải Ngoại Đón Giáng Sinh 2013

Hôm nay là ngày Lễ Giáng Sinh, một trong những ngày quốc lễ của Hoa Kỳ. Vào giờ phút này, Giáng Sinh đã về khắp nơi trên địa cầu, từ Sài Gòn nắng ấm tới miền Bắc Mỹ lạnh giá tuyết băng. Tối hôm qua, hàng triệu người đã tham dự những buổi lễ long trọng trong nhà thờ ở khắp nơi trên thế giới để mừng ngày Chúa Giêsu ra đời. Hòa đồng trong bối cảnh xã hội Tây phương, đa số người Việt tha hương ở Âu Mỹ mừng Lễ Giáng Sinh, trong sự đoàn tụ gia đình, dù có là tín hữu Thiên Chúa giáo hay không.

Từ Calgary, tỉnh bang Alberta, Canada, ông Nguyễn Bảo cho biết thời tiết ở Canada năm nay rất lạnh, đường sá băng tuyết nên ít người ra đường như ở Việt Nam. Là một tín đồ Công giáo, ông Bảo cho rằng lễ Giáng Sinh tại Việt Nam của tín đồ Công giáo mang nhiều ý nghĩa tôn giáo, trong khi tại Canada, ngoài ý nghĩa tôn giáo, Giáng Sinh còn là dịp tiệc tùng, ăn mừng họp mặt đoàn tụ gia đình:

“Với những người Công giáo thì Giáng Sinh ở bên Việt Nam, người ta đón theo tinh thần sống đạo, hướng về đạo là chính, còn ăn uống chỉ là phụ, còn bên này, Christmas có tính cách gia đình, đó là cơ hội đoàn tụ.”

Bà Bảo thì có nhận xét là ở Việt Nam, Giáng Sinh vui hơn vì thời tiết ấm nhưng đa số là vui chơi:

“Ở bên này, những người Công giáo thì mình thấy họ đi lễ, rồi sinh hoạt trong gia đình, thấy nó có vẻ ấm cúng, tốt hơn, còn ở Việt nam thì mình nhận xét thấy là họ đi vui chơi nhiều hơn là sinh hoạt trong gia đình hay đi lễ.”

Trong khi đó, tại Houston, Giáng Sinh năm nay thời tiết cũng khá lạnh dù tuyết không rơi.  Buổi sáng, đa số các gia đình gốc Việt tíu tít mở quà chúc mừng nhau. Trẻ em vui mừng có quà, cha mẹ ông bà thì ôn lại kỷ niệm ngày xưa, vui trong không khí đoàn tụ, giống như không khí Tết Việt Nam.

Ông Trần Khánh Liễm, một tín hữu Công Giáo cao niên tại Houston, thì nói rằng thời tiết lạnh của Houston năm nay làm ông nhớ lại những đêm Giáng Sinh ở quê ông là Thanh Hóa, Ông chia sẻ:

“Quê hương của chúng tôi có một hang đá thực, trong đó có tượng Đức Mẹ, Thánh Giuse và Chúa Hài Nhi. Có một điều rất lạ là ở trong hang đá treo những dây bằng hạt nẻ, tức hạt lúa rang, xâu vào chỉ, và những ngôi sao nhỏ, những ánh đèn rất là mờ trong một hang đá rất là nghèo như vậy. Đó là một biểu tượng mà tôi rất là cảm xúc mỗi khi nhìn lại cảnh hang đá.”

Ông nói thêm là trong mùa Noel năm nay, ông đặc biệt ngưỡng mộ tinh thần san sẻ cho người nghèo khó của Tân Giáo Hoàng phát động, như một cuộc cách mạng xã hội khắp nơi trên thế giới mà khởi đầu từ ngay trong giáo hội Công Giáo:

“Mọi người đang ngưỡng mộ nhìn về cái tinh thần nghèo khó của Đức Giáo Hoàng. Đây là điều tôi suy nghĩ hầu như hằng ngày, bởi vì chúng ta mong rằng ảnh hưởng của Đức Giáo Hoàng sẽ lan tràn đến tất cả các giáo phận, giáo xứ..”

Nhưng ông lại không lạc quan về vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam và các nước cộng sản:

“Chủ nghĩa Cộng Sản là vô thần, đó là một cái khó khăn mà tôi nghĩ rằng rất khó mà vượt qua được ý thức hệ của người Cộng Sản, chỉ trừ khi nào không còn họ ở trên những quốc gia này thì lúc đó hy vọng có sự tự do tôn giáo, đáp ứng lại lòng mong ước của chúng ta.”

Trong khi đó, Luật sự Thiện Ý Nguyễn Văn Thắng, một nhà bình luận chính trị tại Houston, cũng đặc biệt lưu ý đến vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam nhân mùa  Giáng Sinh.  Ông nhớ lại những mùa Giáng Sinh đầy ý nghĩa thời Đệ Nhất Cộng Hòa tại quê nhà và có nhận xét là từ ngày tái lập bang giao với Hoa Kỳ, Giáng Sinh ở Việt Nam có vui nhộn hơn, nhưng các tôn giáo vẫn nằm trong sự kiểm soát của nhà nước.  Ông ước muốn Việt Nam có một Giáng Sinh trọn vẹn với quyền tự do tín ngưỡng thật sự, Ông tâm sự:

“Người dân trong nước cũng như đồng bào hải ngoại mong muốn là có những mùa giáng sinh trọn vẹn hơn. Đó là quyền tự do tôn giáo phải được thực thi một cách đầy đủ và xa hơn nữa người dân mong muốn là làm sao chế độ phải chuyển mình để biến thành một chế độ dân chủ, gọi là đa đảng, đa nguyên, dân chủ pháp trị, chứ không nên duy trì một chế độ mà hiện nay vẫn bó chặt các quyền tự do dân chủ dân sinh, trong đó có quyền tự do tôn giáo.”

Đối với nhiều người Việt hải ngoại, mùa Giáng Sinh năm nay có một tin rất buồn, đó là sự ra đi bất ngờ của ca nhạc sĩ Việt Dzũng, một người đã dâng trọn cuộc đời cho văn học nghệ thuật và đặc biệt là vận động cho tự do dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam. Tin tức về sự ra đi của Việt Dzũng ở tuổi 55, sau một cơn trụy tim vào sáng ngày 20 tháng 12 năm 2013, tràn ngập trên các cơ quan truyền thông và mạng lưới internet, làm mọi người sửng sốt.

Luật Sự Thiện Ý cho biết, ông từng làm việc chung với Việt Dzũng một thời tại đài phát thanh LittleSaigon Radio ở Houston vào cuối thập niên ’90. Ông tỏ bày sự xúc động của ông:

 “Việt Dzũng đã là một tiếng nói, đã là một hình ảnh đi sâu vào lòng người, cho đến độ ngày nay không có phân biệt quen hay không quen, đều nói lên một sự thương tiếc một nhân tài, một tài năng, đa năng, đa hiệu, đa diện, bởi vì anh ra đi quá sớm.  Anh còn có thể đóng góp rất nhiều nữa cho công cuộc đấu tranh trên lãnh vực truyền thông, báo chí, và vận động cho cuộc đấu tranh cho dân chủ hóa tại Việt Nam. Thì đấy là một sự mất mát lớn lao đối với cộng đồng người Việt quốc gia nói riêng và đối với nhân dân trong nước và tất cả quốc dân Việt Nam các nơi, nói chung.”

Trong mùa Giáng Sinh năm nay và ngay giờ phút này, rất nhiều tín hữu Thiên Chúa giáo đang ở trong các giáo đường ca ngợi ơn Thiên Chúa giáng trần cứu giúp nhân loại và cầu nguyện Thiên Chúa ban sự An Bình cho gia đình, dân tộc và quê hương.  Những người có tôn giáo khác cũng quây quần đoàn tụ bên nhau, mừng ngày lễ lớn sau một năm làm việc khó nhọc. Tuy nhiên điểm đặc biệt, có lẽ, là lần đầu tiên trong mùa Giáng Sinh hải ngoại, trên các hệ thống truyền thanh truyền hình Việt ngữ, bên cạnh các bài ca mừng Giáng Sinh, còn có những bài hát do chính Việt Dzũng sáng tác hay trình diễn, để vinh danh một ngôi sao của cộng đồng vừa tắt.

Nhạc VD

Thánh Lễ Cầu Nguyện và Buổi Tưởng Nhớ Việt Dzũng tại Houston

Hầu hết người Việt tị nạn cộng sản trên toàn thế giới, từ Úc Châu, qua Âu Châu, đến Mỹ Châu, ai ai cũng bàng hoàng thương tiếc khi nghe tin ca nhạc sĩ Việt Dzũng vừa đột ngột giã từ trần thế ở tuổi 55, sau một cơn trụy tim tại Orange county, California.

Cùng chung niềm tiếc thương với cộng đồng người Việt lưu vong, tại Houston, trong những ngày cuối năm 2013, có nhiều sinh hoạt tôn giáo và cộng đồng để cầu nguyện và tưởng nhớ Việt Dzũng. Ngay từ đầu thập niên 1980, Việt Dzũng đã là một gương mặt thân yêu nhiệt thành, tham gia nhiều sinh hoạt văn học nghệ thuật cũng như những sinh hoạt tranh đấu cho tự do dân chủ tại quốc nội của cộng đồng người Việt Houston, trước khi định cư tại Tiểu Bang California.

Trưa Chủ nhật, 29-12- 2013, một Thánh lễ cầu nguyện tổ chức tại Thánh Đường Giáo xứ Đức Mẹ Lộ Đức, vùng tây bắc Houston, với rất nhiều người tham dự, trong đó có nhiều người không phải là giáo dân Công giáo.  Theo sau thánh lễ là một buổi họp mặt, do đại diện của Giáo phận Vinh, thành viên của phong trào Hưng Ca Houston, đoàn Văn Nghệ và Công Tác Xã Hội Lạc Việt, và các thân hữu của nhạc Sĩ Việt Dzũng, phối hợp tổ chức.

Tham dự buổi thánh lễ có nhạc sĩ Đăng Khánh, là một nhà truyền thông và một nghệ sĩ sáng tác. Nhạc sĩ Đăng Khánh chia sẻ rằng, Việt Dzũng là một nghệ sĩ đã tranh đấu không ngừng cho đất nước quê hương, đến hơi thở cuối cùng:

“Sự ra đi của nhạc sĩ Việt Dzũng, đối với riêng tôi và có lẽ cũng với tất cả những  người khác, là một sự mất mát lớn lao cho tập thể người Việt chống Cộng ở hải ngoại. Đã từ không biết bao nhiêu lâu nay, từ những ngày đầu tiên, khi bước chân sang Hoa Kỳ, anh Việt Dzũng, đã với lòng yêu nước và tài ba của anh là người nhạc sĩ, một người nghệ sĩ, anh đã tranh đấu không ngưng nghỉ. Lòng hăng say, lòng yêu nước, tấm lòng đối với quê hương đất nước, đối với đồng bào hải ngoại, đã thể hiện hắng giây hằng phút trong hơi thở của anh khi anh còn sống.”

Trong buổi họp mặt để tưởng nhớ Việt Dzũng, giáo sư Lã Huy Quý kể lại các sinh hoạt của Phong Trào Thanh Niên Cách Mạng Dân tộc Việt tại Houston, dẫn đến việc thành lập đoàn Văn nghệ công tác xã hội Lạc Việt và đoàn Hưng Ca mà ông đã góp phần tổ chức và sinh hoạt. Những tổ chức này đều có sự góp mặt nhiệt thành của Việt Dzũng:

“Không ai bắt mình phải đi đấu tranh, không ai bắt mình phải yêu đất nước mình nhưng mà tự lòng mình và chúng ta thấy Việt Dzũng đã tự lòng Việt Dzũng dấn thân làm việc không thể tưởng tượng được với con người như Việt Dzũng. Chúng tôi rất là thương yêu và kính phục Em và chúng tôi cảm ơn toàn thể quí vị đã hiện diện để cầu nguyện cho Em và chúng tôi cũng xin Em ở trên trời cao nhìn xuống cầu nguyện cho chúng ta, phù hộ cho chúng ta tiến lên trên con đường dành lại xứ sở cho quê hương, dành lại tự do dân chủ.”

Một thành viên đoàn Hưng Ca là thi sĩ Viễn Phương, người đã từng lưu diễn cùng Việt Dzũng nhiều nơi, nhắc đến một ca khúc do Việt Dzũng phổ nhạc từ bài thơ “Những đứa con của Mẹ”, đã làm xúc động nhiều người:

“… Mẹ đã sinh ra thằng con bán nước, con đem quê nhà dâng hiến cho ngoại bang. Mẹ đã sinh ra thằng con giết mướn, thân xác lưu đày giờ lưu lạc dưới nghĩa trang. Mẹ lỡ sinh ra thằng con tên Tị Nạn. Con sang xứ người chối bỏ quê hương. Mẹ đã ra đi, thuyền gặp hải tặc, giờ mẹ lưu lạc chốn nào giữa đại dương.  Mẹ hãy sinh thêm thằng con Phục Quốc, Con sẽ trở về dành lại quê hương. Rồi một ngày mai con đưa mẹ về nước, Mẹ sẽ thôi buồn … Hôm nay, chúng ta thương yêu Việt Dzũng, tưởng nhớ đến Việt Dzũng, xin hãy cầu nguyện cho linh hồn Gioankim trong lời kinh nguyện hàng ngày và hãy cùng nhau kết tay nhau nối tiếp những bước đường anh đã đi qua.”

Một người khác, từng có nhiều năm sống chung một mái nhà cũng như làm việc chung với Việt Dzũng tại Houston, là ông Lê Văn Hào. Ông chia sẻ những vui buồn trong cuộc đời đa tài, đa năng của Việt Dzũng từ việc làm báo, làm nhà in, đến làm cơ sở xuất bản Thế Giới tại Houston.  Theo ông, môi trường sinh hoạt của Houtson lúc bấy giờ không đáp ứng được ước mơ của Việt Dzũng nên cuối cùng Việt Dzũng đã đi California, để sinh hoạt tích cực hơn trong lãnh vực truyền thanh, truyền hình và báo chí cũng như ca nhạc, nhưng Việt Dũng vẫn trở về Houston thường xuyên để ủng hộ những cuộc đấu tranh cho dân chủ nhân quyền.

Ông Hào cho rằng, sự ra đi của Việt Dzũng là lúc Thiên Chúa nhận Việt Dzũng trở về, sau những năm dài làm việc không ngừng, để hiến dâng cho xã hội:

“Trên tinh thần Ky tô hữu thì đó là sự trở về của Việt Dzũng. Đó là Thiên Chúa đã gọi anh về thì tôi nghĩ rằng đến lúc anh về và cũng là lúc mà anh bắt đầu cho cuộc sống mới của anh. “

Và ông thêm rằng, sự ra đi nhẹ nhàng của Việt Dzũng là một ân sủng của Thiên Chúa:

“Trong mọi thứ hân hoan thì có sự hân hoan của sự trở về. Của Việt Dũng, thì tôi nghĩ đó là một món quà của Thượng Đế cho Việt Dzũng một cách rất là tự nhiên và an bình”

Mặc dù sự ra đi của Việt Dzũng làm nhiều người nuối tiếc và hụt hẫng nhưng không ít người nhiệt thành tin tưởng rằng, sự ra đi của Ông là cơ hội để cộng đồng chống cộng sản hải ngoại, có dịp nhìn lại gương hy sinh kiên trì của Ông và tiếp tục công cuộc tranh đấu cho dân chủ nhân quyền tại quốc nội.  Lời tâm tình của Nhạc sĩ Đăng Khánh nói lên niềm hy vọng của rất nhiều đồng hương nhự lời ước nguyện đầu năm 2014 :

“Tôi hy vong rằng, với tinh thần Việt Dzũng, chúng ta sẽ tiếp tục, tiếp nối  công cuộc đấu tranh cho quê hương có một ngày dân chủ và nhân quyền tốt đẹp cho người dân Việt Nam.

 

Nguyễn Phục Hưng, tường trình từ Houston, Texas.

Houston những ngày trước Tết

RFA_IMG_6164-305.jpg

Cùng với người Việt khắp nơi trên thế giới đang chờ đón Xuân Giáp Ngọ, Houston cũng rộn ràng trong những ngày cuối năm Quí Tỵ. Một hội chợ Tết do đài truyền hình BYN tổ chức vào ngày thứ Bảy, 25 tháng Giêng dương lịch, nhằm ngày 25 Tết, qui tụ hàng ngàn đồng hương và người bản xứ. Hội chợ này, có nhiều chương trình mang sắc thái văn hóa Việt. Ông Huỳnh Quốc Văn, trưởng ban điều hợp của Hội Chợ Tết cho biết:

“Chương trình này là chương trình nhịp cầu nối văn hóa giữa cộng đồng người Việt và cộng đồng người Mỹ cho nên có rất đông người bản xứ tham dự.”

Thị trưởng Houston, Bà  Annise Parker, đến thăm Hội Chợ Tết, cũng niềm nở “Chúc Mừng Măm Mới” với nhiều người.  Bà chia sẻ sự vui mừng khi năm nay có Hội Chợ Tết tại ngay Downtown của thành phố, trong công viên Discovery Green. Bà cho biết là rất hân hạnh được tiếp xúc với nhiều người Việt Nam đi dự hội chợ Tết.

Tham dự Hội Chợ, LS Phan Quốc Cường, chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston và Vùng Phụ Cận, nhận định rằng, qua hội chợ Têt, những nét đẹp của văn hóa Việt được giới thiệu trực tiếp đến người bản xứ:

“Đây là một cái dịp thật sự hiếm có mà cộng đồng người Mỹ gốc Việt lần đầu tiên xuyển dương cái văn hóa của chúng ta ngay tại khu downtown của thành phố Houston. Giới thiệu thẳng cái văn hóa Việt Nam vào dòng chính. Đây là cái dịp mà cộng đồng chúng ta không chỉ vui chơi, đưa cái văn hóa của chúng ta ra trong ngày lễ đặc biệt nhất của năm mà cũng là dịp chúng ta đến gần hơn với dòng chính Hoa Kỳ, để cho họ thấy cái nét đẹp của văn hóa Việt Nam. Rất là vui khi thấy có đủ mọi sắc dân tham dự.”

Chương trình này là chương trình nhịp cầu nối văn hóa giữa cộng đồng người Việt và cộng đồng người Mỹ cho nên có rất đông người bản xứ tham dự.
– Ông Huỳnh Quốc Văn

Trong mục đích giới thiệu Văn Hóa nước nhà với giới trẻ và người bản xứ, Hội chợ Tết có những chương trình rất phong phú. Nhiều người bản xứ thích thú với phần trình bày về “Văn Hóa ẩm thực” của Việt Nam. Có người lại thích xem những màn trình diễn thời trang hay múa hát cổ truyền, nhưng có lẽ, phần giới thiệu về lịch sử lập nước và giữ nước của dân tộc Việt là được nhiều người ưa thích nhất.

Những trang sử Việt, từ truyền thuyết “Con Rồng Cháu Tiên”, qua 18 đời vua Hùng lập quốc, rồi đến thời  Hai Bà Trưng và các cuộc chiến thắng ngoại xâm bảo vệ đất nước của Trần Hưng Đạo …,được diễn lại trong hoạt cảnh Dòng Máu Lạc Hồng. Hoạt cảnh này nêu cao tinh thần bất khuất của dân Việt trong nỗ lực đánh đuổi quân Tàu xâm lược, bảo vệ đất nước của những anh hùng kiệt xuất nước Việt:

Hoạt cảnh Dòng Máu Lạc Hồng, với đạo diễn Trần Quang Mỹ và Tuyết Hồng, khắc họa những giai thoại lịch sử từ thời khai sinh dòng giống Con Rồng Cháu Tiên, Lạc Long Quân và bà Âu Cơ, đến những chiến thắng hiển hách của Phù Đổng Thiên Vương, Hai Bà Trưng, Đức Thánh Trần Hưng Đạo…

Với trên một trăm người diễn xuất, mà đa phần là giới trẻ, hoạt cảnh này đã gây xúc động cho nhiều người. Anh Bộ chia sẻ:

Tiết mục này rất là phong phú, có nhiều người hợp tác. Em qua đây hồi nhỏ nên em không biết. Nhờ mấy tiết mục này thì em mới hiểu biết về lịch sử Việt Nam nhiều hơn. Trước tới giờ nghe Hai Bà Trưng, nhưng cũng không biết cái gì nhưng hôm nay thì có thể hiểu rõ hơn chút xíu. Em thấy mấy cái màn diễn này khiến cho mình suy nghĩ về nước Việt Nam, về tổ tiên, về nòi giống nhiều hơn.

Còn cô Lisa Nguyễn nói là cô rất hãnh diện là người Việt Nam và hãnh diện cho những người đã trình diễn hoạt cảnh Dòng Máu Lạc Hồng. Cô cho biết cô đến Hoa Kỳ lúc mới 3 tuổi, sinh sống ở tiểu bang Ohio nên chỉ biết Việt Nam qua phim ảnh. Từ lúc dọn về Houston vài năm nay, cô được học hỏi nhiều hơn về văn hóa Việt Nam.

Tưởng niệm hải chiến Hoàng Sa

 

RFA_IMG_6214-250.jpg
Một tiết mục văn nghệ tại hội chợ Tết. Photo by Hiền Vy

 

Trước ngày Hội Chợ Tết chưa được một tuần, rất đông đồng hương cũng đã tham dự buổi lễ tưởng niệm 40 năm cuộc hải chiến Hoàng Sa, tại khu tượng đài chiến sĩ vùng tây nam thành phố. Sự chiến đấu của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa, chống lại cuộc xâm lăng của Trung quốc năm 1974, đã được nhắc lại trong buổi tưởng niệm này. Nhiều đồng hương đã không dấu được sự xúc động khi nhớ lại 74 chiến sĩ hải quân đã hy sinh 40 năm trước, ngoài biển Đông. Ông Châu Huỳnh chia sẻ:

Rất là buồn, rất là xúc động mỗi lần nhắc đến quê hương. Mình ra ngoại quốc ở là mình biết mình sung sướng hơn ở quê hương mình nhưng không bao giờ có thể quên được quê hương hết. Chúng tôi rất là bực tức, nhất là những ngày tưởng niệm các anh chiến sĩ trận Hoàng Sa. Cái đó là ghi nhớ luôn luôn rồi. Tôi là người đạo Phật, tôi luôn luôn cầu nguyện xin cho tất cả vong linh của các vị anh hùng của dân tộc sớm an hưởng trên niết bàn.

Tôi nghĩ, cái tinh thần độc lập, cái tinh thần tranh đấu của người Việt Nam để giữ vững đất nước là không bao giờ bị mai một cả.
– Ông Lưu Hữu Phúc

Mặc dù xa quê hương đã lâu, nhiều người Việt vẫn quan tâm về đất nước trong dịp Xuân về. Lịch sử đã chứng minh nước Việt có nhiều trận chiến khốc liệt trong dịp Tết như, trận Đống Đa, Tết Mậu Thân, cuộc hải chiến Hoàng Sa… nhưng thời nào thì cũng có những anh hùng kiệt xuất đánh đuổi quân Tàu xâm lược.

Tết đến, Xuân về là dịp cho mọi người hoài niệm về quê hương và cũng là một dịp hướng về tương lai cho chính bản thân, gia đình và đất nước.  Với những người Việt tha hương, dù ở phương trời nào hay dù xa quê mẹ bao nhiêu năm đi nữa, nhưng niềm tin vào một ý chí quật cường của dân Việt vẫn vững bền.  Lời tâm sự của ông Lưu Hữu Phúc có lẽ phản ánh tâm tư của hầu hết những người Việt tha hương lúc Xuân về:

Tôi nghĩ, cái tinh thần độc lập, cái tinh thần tranh đấu của người Việt Nam để giữ vững đất nước là không bao giờ bị mai một cả.

Trước thềm năm mới, Hiền Vy xin kính chúc quí thính giả một năm Giáp Ngọ an khang thịnh vượng và giữ vững niềm tin vào một tương lại tốt đẹp cho đất nước Việt Nam.

Hội Chợ Tết Giáp Ngọ tại Houston

Phóng sự của VOA – Nguyễn Phục Hưng thực hiện

Phát thanh Thứ Tư, 29-01-2014, nhằm ngày 29 Tết Giáp Ngọ

Mặc dù sống tha hương, người Việt Houston vẫn luôn hướng về quê mẹ, nhất là trong những dịp Xuân về. Nối tiếp truyền thống trong nhiều năm qua, năm nay  cộng đồng người Việt Houston tổ chức hội chợ Tết quy mô vào ngày 25 tháng 1, 2014 để đón mừng năm mới Giáp Ngọ tại công viên Discovery Green, nằm ngay tại Trung tâm thành phố, với hàng ngàn người tham dự.

Hội Tết năm nay, do sự chủ xướng của đài truyền hình Việt ngữ BYN- TV với sự hợp tác của nhiều hội đoàn văn hóa và cơ sở thương mại Việt Mỹ. Ban tổ chức đã sử dụng những kỹ thuật quảng bá internet tân tiến nhất như mạng lưới xã hội Facebook, Twitter, ngoài các phương pháp truyền thông thường lệ như truyền thanh và truyền hình, nên đã gây được sự hưởng ứng nồng nhiệt của giới trẻ Việt Mỹ.

Ông Quốc Văn, Trưởng Ban Điều Hợp Hội Chợ Tết, giải thích là đặc điểm của Hội chợ Tết Giáp Ngọ năm nay là, ngoài việc biểu dương văn hóa truyền thống Việt, Hội Tết còn là nhịp cầu nối liền văn hóa Đông Tây cho giới trẻ sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ.

“Chương trình này là chương trình nhịp cầu nối văn hóa giữa cộng đồng người Việt của chúng ta và cộng đồng Mỹ. Năm nay mình không biến nó thành một đại nhạc hội mà mình đi nhiều về trưng bày và triển lãm về văn hóa.”

 

Hiện diện trong ngày hội Tết có hầu hết quí vị lãnh đạo tinh thần tôn giáo và chính giới Việt Mỹ tại Houston. Hội Chợ Tết được khai mạc với đoàn lân của gia đình phật tử Huyền Quang trong tiếng pháo tưng bừng.

Ngỏ lời cùng quan khách khi khai mạc hội Tết, bà Thị trưởng Houston Annise Parker đã ca ngợi sự đóng góp của cộng đồng người Việt về văn hóa và kinh tế cho Houston. Bà nói rằng năm nay sẽ là năm Houston phát triển thành một trong những thành phố phồn thịnh nhất của Hoa Kỳ và bà cảm ơn sự góp phần của cộng đồng người Việt.

Trong dịp này, dân biểu tiểu bang Hubert Võ nói rằng ông hãnh diện chia sẻ sự thành công của người Việt trong sự hội nhập vào cộng đồng Houston.

Luật sư Phan Quốc Cường, tân chủ tịch Hội Đồng Đại Diện Người Việt Quốc Gia Houston và vùng Phụ Cận cũng tỏ bày niềm hân hoan của ông trước sự hòa đồng  của cộng đồng người Việt Houston và các cộng đồng khác trong ngày Tết Việt Nam:

“Đây là dịp mà có thể nói cộng đồng chúng ta không chỉ là có dịp vui chơi, đưa cái văn hóa của chúng ta ra trong ngày lễ đặc biệt nhất của năm mà cũng là dịp chúng ta đền gần hơn với dòng chính Hoa kỳ để cho họ thấy cái nét đẹp trong văn hóa chúng ta. Rất là vui khi thấy hôm nay có đủ mọi sắc dân đến đây tham dự”

Chương trình hội chợ Tết rất phong phú và đa dạng. Hoạt cảnh Dòng Máu Lạc Hồng với khoảng 100 diễn viên, khơi lại tinh thần bất khuất của dân tộc Việt trong hơn 4000 năm lịch sử chống xâm lăng của bắc phương đã được khen ngợi nhiệt liệt.  Bà Chiêu dẫn các con đi dự hội Tết chia sẻ sự xúc động của bà khi xem nhạc cảnh Dòng Máu Lạc Hồng:

“Nhìn sự trình diễn Dòng Máu Lạc Hồng đó, Chiêu rất là cảm động, rưng rưng nước mắt và Chiêu rất là hãnh diện mình là người Việt Nam vì mình có một truyền thống rất là hào hùng, do đó Chiêu cũng mong rằng những thế hệ trong tương lai, những thế hệ trẻ, nên biết về lịch sử của nước mình để dòng màu hào hùng đó vẫn tiếp tục chảy trong từng con tim của người Việt nam ở hải ngoại.”

Một vị cao niên là bà Trần thị Đức cũng nói lên sự phấn khởi của bà :

“Tôi rất vui mừng được tham dự hội Tết này. Tôi thì lớn tuổi rồi không làm gì được để giúp cho quê hương dân tộc nhưng tôi rất vui khi các em trẻ mà có tinh thần hăng say để giữ gìn văn hóa của dân tộc Việt Nam mình”

Một khán giả Hoa Kỳ là Anh Todd thì nói đây là một nền văn hóa mới lạ với anh nhưng anh thấy rất đẹp:

“ It’s very nice, it’s a new culture for me but very beautiful”

Chương trình có những phần nói lên sự hội nhập sinh hoạt văn hóa Đông Tây, với trích đoạn vở kịch “Bound”, xin tạm dịch là “Ràng Buộc”, một tác phẩm dựa trên bối cảnh văn hóa Việt, do Houston Grand Opera trình diễn.  Được biết vở Opera “Bound” do nhà biên kịch trẻ gốc Việt, Chu Bảo Long và nhà soạn nhạc Hoang Rou thực hiện, sẽ được Houston Grand Opera trình diễn toàn bộ cho công chúng.

Các màn trình diễn thời trang cũng được nhiều người chú ý. Bên cạnh các màn trình diễn quốc phục còn có màn trình diễn thời trang mới do hai nhà vẽ kiểu gốc Việt là Diane Trần và Việt Nguyễn trình bày.

Văn hóa ẩm thực là một tiết mục được giới trẻ Việt Mỹ tham dự nhiệt thành. Buổi thuyết trình về nghệ thuật ăn và nấu ăn của người Việt được nhiều người chú ý.  Cuộc thi Ăn Phở Nhanh với sự tham dự của các khuôn mặt nổi tiếng trong cộng đồng Việt Mỹ tại Houston là một tiết mục thú vị và thu hút rất nhiều khán giả Việt Mỹ, nhất là các bạn trẻ. Tiết mục này được cổ võ như một cuộc tranh tài thể thao.  Cuối cùng người thắng cuộc thi ăn phở nhanh là ông Trí La, giám đốc hệ thống nhà hàng Kim Sơn, đại diện cho đội East (Đông Phương) sau khi ăn hết 2 tô phở xe lửa, đánh bại ông Stevenson, xướng ngôn nhân của đội bóng rổ Houston Rocket, đại diện cho đội West (Tây Phương).

SB

Ngoài các cuộc trình diễn trên sân khấu, hội chợ còn có nhiều gian hàng bán các đồ kỷ niệm, các món ăn Tết như bánh mứt, hoa Tết và các trò chơi. Phở, gỏi cuốn, bánh mì và chả giò là các cửa hàng được nhiều người chiếu cố nhất.

Một điểm đáng chú ý là trong ngày hội chợ Tết Houston thời tiết nắng đẹp dịu dàng dù ngày hôm trước cơn bão mùa đông đã làm tê liệt Houston. Trong nắng vàng rực rỡ, số người bản xứ tham dự có lẽ còn đông hơn số người gốc Việt và ngày hội Tết không chỉ là ngày hội của người Việt mà là ngày hội của cả thành phố Houston.  Sự thành công của hội chợ Tết Houston năm nay đánh dấu một hướng đi mới trong sinh hoạt cộng đồng, đó là nỗ lực hòa đồng văn hóa Đông Tây và mang giới trẻ trở về tìm hiểu văn hóa cổ truyền một cách hài hòa. Sự cộng tác nhiệt thành của các doanh nhân Việt Mỹ và các chính khách nổi tiếng tại Houston trong ngày hội Tết cũng còn là một dịp cho thấy sự lớn mạnh của cộng đồng người Việt quốc gia tại Houston về mọi mặt để cùng thực hiện giấc mơ của những người yêu chuộng tự do tại Hoa Kỳ.

Nguyễn Phục Hưng, tường trình từ Houston, Texas.

Người Việt Houston mừng Xuân Giáp Ngọ

Người Việt Houston mừng Xuân Giáp Ngọ
VOA’s Report

Phóng sự của VOA – Nguyễn Phục Hưng thực hiện

Phát thanh thứ Tư, Feb 5th 2014

Sau những ngày lạnh giá, mùa Xuân đã thực sự đến với Houston và trong lòng những người Việt nơi đây.  Hầu hết các chùa lớn tại Houston đều có đốt pháo múa lân đón mừng năm mới với hàng ngàn người đến dự lễ Giao Thừa.  Lễ Giao thừa tai Trung tâm Phật Giáo Chùa Việt Nam được trực tiếp truyền hình trên đài BYN –TV.  Đài VieTV lúc giao thừa đã có lời chúc Tết của Bà Annise Parker, Thị Trưởng Houston, gởi đến cộng đồng người Việt:

“Chúc mừng Năm mới- Happy New Year…”

Nhiều Phật tử vẫn giữ truyền thống đi hành hương nhiều chùa trong ngày đầu năm để cầu nguyện cho gia đình, đất nước hay để hái lộc đầu năm, hoặc nhớ lại Tết năm xưa ở quê nhà.  Tại chùa Tịnh Luật, phía tây bắc Houston, pháp đàn dược sư được cử hành trọng thể, với 2014 ngọn đèn tượng trưng cho năm 2014, đã thu hút nhiều Phật tử. Trung tâm Phật giáo chùa Việt Nam vùng tây nam Houston, có lẽ là nơi có nhiều Phật tử và đồng hương trong những ngày đầu năm hơn cả. Trong chánh điện, người lễ Phật đông đúc.  Bàn xin xâm cũng được nhiều người chiếu cố, kể cả các cô cậu trẻ tuổi. Em Danny dẫn bạn gái đi chùa, giải thích:

“Tết là ngày truyền thống Việt Nam thì mình phải tới chùa. Mình ở đây xa quê hương thì mình phải tới chùa để mình biết.”

Một Phật tử  khác tên Danh đi chùa cùng vợ thì chia sẻ:

“Cũng không ước gì cho bản thân mình, chỉ mong thế giới này hòa bình, không có thiên tai, mọi người sống vui vẻ.”

Trong khi đó cô Nguyên vừa xin xâm xong, nói về ước nguyện đầu năm của cô:

“Cầu chúc cho gia đình với lại ông bà mình sức khỏe dồi dào, còn mình thì được  học hành tốt.”

Tại Chùa Hương Lâm, gần Chùa Việt Nam, sư cô Hạnh Tuệ chia sẻ niềm hoan hỉ trong ngày đầu xuân:

“Rất là vui. Một ngày Xuân trời rất đẹp, Phật tử đến lễ Phật rất đông, trong lòng ai cũng vui vẻ.”

Xuân Giáp Ngọ dường như mang nhiều khí sắc mới cho người Việt Houston. Lần đầu tiên trong lịch sử của cộng đồng người Việt tại Houston, Tết năm nay có một buổi diễn hành trọng thể với hơn 60 xe hoa vào ngày mồng hai Tết của các hội đoàn chính trị, cựu quân nhân và thương mại Việt Mỹ. Cuộc diễn hành kéo dài hơn 2 giờ đồng hồ trên quãng đường khoảng 5 cây số trên đại lộ Bellaire, vùng tây nam thành phố Houston, là khu thương mại chính của cộng đồng Á Châu Houston mà đa số là người gốc Việt.

Hàng ngàn người gốc Việt và bản xứ đứng dọc hai bên đại lộ Bellaire để coi cuộc diễn hành mừng năm mới Giáp Ngọ. Theo ban tổ chức, mục đích của cuộc diễn hành là để biểu dương văn hóa cũng như sự đoàn kết, lớn mạnh của cộng đồng Việt tại Houston.  Trong đoàn xe diễn hành có cả xe hoa của các vị dân cử Việt Mỹ địa hạt Houston, như dân biểu liên bang Al Green, dân biểu tiểu bang Hubert Võ, v.v.

Xe hoa của Hội đồng đại diện Người Việt Quốc Gia được nhiều người khen ngợi. Tuy nhiên xe hoa và cuộc biểu diễn của khoảng 200 đoàn sinh Vovinam và xe hoa có Hai Bà Trưng cưỡi voi có lẽ được nhiều người tán thưởng nhất.

Một người đi xem cuộc diễn hành là ông Nguyễn Đình Trang diễn tả niềm hãnh diện của ông về cộng đồng người Việt Houston:

“Chỉ có Việt nam mình mới có thể đóng đường Bellaire như thế này, các dân tộc thiểu số khác tôi nghĩ không có. Chỉ có Việt nam mình mới có thể làm được như thế này, rất là hãnh diện.”

Ông Ngô Đình Đoan đang coi diễn hành cũng đồng ý:

“Vui mừng khi thấy năm nay cộng đoàn Houston có tổ chức một buối diễn hành như thế này, thứ nhất để thể hiện tinh thần văn hóa của dân tộc Việt Nam về ngày Tết và thứ hai nữa để tỏ ra cái sự đoàn kết của người Việt ở hải ngoại này. Chúng ta sống xa quê nhưng vẫn luôn luôn nhớ ngày Tết của dân tộc mình.”

Bà Vân Anh từ tiểu bang Oregon đến Houston, nhân dịp Tết, chia sẻ niềm vui của Bà:

“Vui, Đông vui. Đây là lần đầu tiên em mới thấy như vậy tại em từ tiểu bang khác đến chơi.”

Anh Danny Trần, sinh ra và lớn lên tại Houston, có vợ là người bản xứ, thì nói thật là tuyệt vì đây là lần đầu tiên anh thấy cộng đồng người Việt tổ chức cuộc diễn hành chung.

Năm mới còn là thời điểm mọi người hướng về tương lai. Bên cạnh những sự cầu nguyện tôn giáo, những diễn hành chào mừng năm mới, nhiều người Việt Houston, tuy sống tha hương nhưng vẫn ưu tư về tình hình tại quê nhà.

Sư Cô Hạnh Tuệ chia sẻ ước muốn khi nhắc đến quê nhà Việt nam:

“Theo quan điểm của sư cô thì muốn dân tộc của mình được sớm hòa bình và luôn luôn có cuộc sống hạnh phúc an bình”

Ông Lê Phát Minh, một nhà bình luận chánh trị tại Houston, thì hy vọng năm Giáp Ngọ sẽ có sự đổi mới tốt đẹp cho tự do và nhân quyền lại Việt Nam:

“Nhiều hy vọng. Cái Hy vọng không phải nhà cầm quyền tự nguyện làm chuyện đó mà giờ mình thấy người dân càng ngày càng ý thức cái quyền lợi và bổn phận của họ, nhờ thông tin điện tử thì người dân đã hiểu được nhiều, nên họ không sợ nữa”

Một phật tử đi chùa Việt Nam là anh Quý thì hy vọng sẽ có sự tiến bộ về nhân quyền tại Việt Nam trong năm Giáp Ngọ. Anh nói:

“Hy vọng là Việt Nam sẽ thấy được là sự tiến bộ của con người cần phải được tăng trưởng chứ không phải là sự kiềm chế như những năm về trước.”

Trong khi đó thì Thượng tọa Thích Minh Tánh tại chùa Tịnh Luật, mong mỏi nhà nước phải thay đổi để làm lợi chung cho đất nước trong tình thương nhân loại:

“Mình không thể chấp thủ cái, gọi là không giống ai, cho nên phải mở rộng cái tầm nhìn để có lợi chung cho đất nước, dẹp bỏ cái hận thù cá nhân cũng như đặt lại vấn đề, như Đức Phật đã dạy, rằng chỉ có lấy tình thươngmới xóa bỏ được hận thù.”

Giáp Ngọ, thường được nhắc đến là năm có nhiều sự thay đổi lớn trong lịch sử Việt Nam.  Vui Xuân Giáp Ngọ năm nay, nhiều người Việt Houston đang hy vọng và cầu nguyện sẽ có những biến chuyển tốt đẹp cho quê hương Việt Nam, đặc biệt về tự do dân chủ và nhân quyền.

Nguyễn Phục Hưng, tường trình từ Houston, Texas.

NDLS: Hồ Nguyên Trừng và Nguyễn An

Súng Thần Công - Hinh tu NET
NDLS: Hồ Nguyên Trừng và Nguyễn An

Chân thành cảm tạ Bác Lê Thu và anh Triển Chiêu đã khích lệ và cho info để chúng tôi thực hiện chương trình này

 

Hồ Nguyên Trừng (1374-1446) tự Mạnh Nguyên, hiệu Nam Ông, là con trai cả của Hồ Quý Ly, anh của Hồ Hán Thương.

Hồ Nguyên Trừng là một tướng tài có công trình quân sự lỗi lạc và là người phát minh Thần cơ hỏa sang, một loại súng trường lúc bấy giờ. Khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, Hồ Nguyên Trừng giữ chức Tả tướng quốc, thời nhà Hồ.

Sau thất bại trong cuộc chiến chống quân nhà Minh, ông cùng cha bị bắt ở Hà Tĩnh rồi bị mang về Tầu năm 1407. Hồ Quý Ly bị làm lính còn Hồ Nguyên Trừng vì có tài đúc súng nên được cho làm quan trong triều đình Trung Hoa.

***********

Nguyễn An (1381-1453), người Tầu còn gọi ông là A Lưu, một  kiến trúc sư thời Hồ Quy Ly. Ông chỉ huy chương trình xây cất  Tử Cấm Thành Bắc Kinh cùng với Cai Xin, người Tầu.   Ông cũng tham gia trị thủy hệ thống sông Hoàng Hà.

Nguyễn An sinh năm Tân Dậu, quê ở vùng Hà Đông  nay thuộc địa phận thành phố Hà Nội. Khi gần 16 tuổi (khoảng năm 1397), thời vua Trần Thuận Tông nhà Trần, ông đã tham gia các hiệp thợ xây dựng cung điện ở kinh thành Thăng Long nhà Trần. Năm 1407, nhà Minh bên Tầu sang đánh bại nhà Hồ, nước ta, vàchiếm được Việt Nam. Tướng nhà Minh là Trương Phụ, ngoài việc bắt cha con Hồ Quý Ly cùng toàn bộ triều đình nhà Hồ đem về Tầu, còn lùng bắt các thanh thiếu niên trai trẻ tuấn tú của Việt Nam mang về chọn để hoạn làm Thái giám phục vụ trong cung vua nhà Minh. Trong số này có nhiều người sau trở nên nổi tiếng vì tài giỏi như: Nguyễn An, Vương Cần,…

Houston: Những chàng Công hoang dã trên đại lộ Kirkwood

Ở phía Tây Houston,  song song với xa lộ I-10 (hay Katy Freeway) là đại lộ Memorial, quanh co theo dòng Bufalo Bayou với cây cao bóng mát quanh năm.  Vùng này là một vùng nhà cửa đắt giá của Houston, có lẽ vì phong cảnh rất hữu tình, và không xa Downtown Houston.  Đại lộ Kirkwood là con đường chạy theo hướng Bắc Nam, băng qua khu Memorial.  Lái xe trên đường Kirkwood, từ xa lộ I-10 đi về hướng Nam, thỉnh thoảng xe kẹt cứng lúc đến gần hay sau khi qua khỏi đại lộ Memorial, không phải trong giờ cao điểm hay giờ tan trường mà vì những chàng Công hoang dã (wild peacock) đứng xòe lông khoe sắc bên đường.  Những chàng Công này có lẽ đi lạc, vì “giang sơn” của loài Công hoang dã này trên đường cụt River Forest Drive. Đây là con đường thứ nhất bên tay phải, từ đại lộ Memorial và là ngõ cụt thứ hai từ Terry Hershey Park, sau đường Heatherfield Drive.

Không biết từ bao giờ, loài Công đã “chọn nơi này làm quê hương”. Có người cho rằng khoảng từ vài thập niên trước, có người lại bảo những chú Công hoang dã này đến nơi đây khoảng hơn 20 năm nay. Dù không biết chính xác thời gian hiện hữu của chúng, nhưng hầu như ai ở vùng này cũng đều biết là vào năm 2008, một vài cư dân trong khu vực đã gọi Cơ quan Kiểm soát Thú vật của Houston (Animal Control) để than phiền, khi loài Công sinh sản quá nhiều và trở nên rất “an nhiên tự tại”, gần như xâm lấn gia cư của họ . Không những không e ngại loài người, chúng còn “tấn công” những chiếc xe chạy chậm, hay những người hiếu kỳ bước ra khỏi xe để chụp ảnh. Khi có quá nhiều người ngừng lại để quan sát hay chụp ảnh, chúng kêu gào như vỡ chợ, rồi bay lên đậu trên những nóc nhà trong vùng. Có lúc chúng đứng xòe bộ lông mỹ miều trước lối vào các căn nhà trên đường River Forest, che hết cả lối đi. Không biết để làm phận sự của người trông nhà hay là đang khoe bộ vó để hấp dẫn các nàng Công.

Mặc dù có người than phiền và khó chịu vì sự tăng trưởng quá nhanh cũng như sự bạo dạn, gần như ” háo thắng” của chúng, nhưng không ít người ái mộ loài Công hoang dã này. Họ đã làm kiến nghị yêu cầu giữ lại chúng, sau khi Cơ Quan Kiểm Soát Thú Vật bắt đi ít nhất là 8 con vào năm 2008.  Nhiều cư dân ở đây cho biết một trong những lý do họ mua nhà trong khu vực này là vì sự hiện diện của những chàng Công hoang dã.  Chúng thản nhiên rảo bộ trên đường, hay nằm nghỉ dưới những tàng cây lớn trong sân trước của các căn nhà vùng này, làm tăng thêm vẻ đẹp thiên nhiên hiếm quý cho cả khu phố, vốn có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, thêm phần sang trọng.

Không biết có phải vì những chàng Công hoang dã làm cho giá nhà trong khu vực này cao ngất ngưỡng không. Không biết những người ghét Công đã dọn ra khỏi nơi đây chưa, nhưng bây giờ chiều chiều chúng còn được cho ăn trên vài sân cỏ xanh hay trên những lối ra vào garage và chúng có vẻ thân thiện với mọi người.  Nếu có dịp lái xe trên đại lộ Kirkwood, bạn đừng quên rẽ vào River Forest Drive để ngắm những chàng Công hoang dã rất đẹp này.  Chúng sẵn sàng làm mẫu cho những nhiếp ảnh gia dù là tài tử hay chuyên nghiệp.  Chúng chẳng nề hà gì cả và chắc chắn khách có thể ra về với những tấm ảnh hiếm có mà có lẽ ít người nghĩ rằng hình chụp ngay tại một khu gia cư ở Houston./.