Ngân hàng, tổ chức tài chính Việt Nam – lịch sử phát triển

Sự ra đời của ngân hàng (Tổ chức tín dụng):

Ngân hàng ra đời từ một công việc rất đơn giản của việc giữ tài sản có giá trị cho chủ sở hữu của mình nhằm tránh những  thiệt hại. Đổi lại, chủ sở hữu phải thanh toán cho người giữ. Khi nhiệm vụ này mang lại nhiều lợi ích cho người gửi, mọi thứ cần được phân phối nhiều hơn và nhiều hơn nữa. Dần dần, các ngân hàng là nơi để kiếm tiền cho người dân bằng tiền.

tài chính ngân hàng

Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu tiền tăng lên, điều đó có nghĩa là nhu cầu cho vay trong xã hội ngày càng tăng. Với số tiền trong tay, người có tiền cần phải vay tiền vì số tiền trong tay của họ không phải lúc nào cũng đòi hỏi, đó là sự khác biệt về số tiền. Phải gửi và số tiền thu hồi từ chủ sở hữu. Đó là hoạt động cơ bản đầu tiên của một ngân hàng, gọi chung, nó là gây quỹ và cho vay ( mà ngày nay phát triển ra với nhiều hình thức như vay tín chấp, vay thế chấp giấy tờ nhà, vay nóng, vay trả góp)

Ngân hàng Trung ương Việt Nam

Ngân hàng trung ương (đôi khi được gọi là ngân hàng dự trữ hoặc các tổ chức tài chính) là các cơ quan chuyên trách về quản lý tài chính của các quốc gia / nhóm / quốc gia và chịu trách nhiệm quản lý tài chính. Chính sách tiền tệ Mục đích của ngân hàng trung ương là ổn định các giá trị tiền tệ, ổn định cung tiền, kiểm soát lãi suất và giúp giảm nguy cơ sụp đổ của các ngân hàng thương mại. Hầu hết các ngân hàng trung ương thuộc về nhà nước. Nhưng vẫn còn một mức độ độc lập của chính phủ.

Ngân hàng thương mại cổ phần

Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính cho vay tiền từ người gửi và cho vay đối với các công ty, cá nhân nộp các tài sản, nợ phải trả cho các công ty, cá nhân vay, cũng như tiền gửi tại các ngân hàng khác và số lượng trái phiếu ngân hàng sở hữu có. Tài sản đó Chênh lệch giữa số tiền được huy động và số tiền mượn, gửi vào ngân hàng và mua được gọi là vốn. Tài sản lưu động đã được tổ chức để ngăn chặn tiền gửi được gọi là dự trữ ngân hàng. Tổng vốn của ngân hàng được chia thành hai loại: vốn cấp 1 và vốn cấp 2.

Các ngân hàng tiêu biểu ngày nay và lịch sử

Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Là Ngân hàng thương mại lớn, giữ vai trò quan trọng, trụ cột của ngành Ngân hàng Việt Nam. Có hệ thống mạng lưới trải rộng toàn quốc với 01 Sở giao dịch, 151 Chi nhánh và trên 1000 Phòng giao dịch/ quỹ tiết kiệm.

Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín – (hay còn được gọi là Sacombank) Trên 210 chi nhánh và phòng giao dịch tại 44 tỉnh thành trong cả nước. Được đánh giá và xếp loại A (loại cao nhất) trong bảng xếp loại của Ngân hàng Nhà nước cho năm 2006 và xếp thứ 4 trong ngành tài chính tại Việt Nam do chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP đánh giá cho năm 2007. Sáp nhập với ngân hàng Phương nam.

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – (tên giao dịch quốc tế là Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development, viết tắt là AGRIBANK) là ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam tính theo tổng khối lượng tài sản.

Ngân hàng Kỹ Thương Việt Nam – (hay còn được gọi là Techcombank) là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần lớn ở Việt Nam, được thành lập năm 1993.

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – (tên giao dịch quốc tế: Bank for Investment and Development of Vietnam; tên gọi tắt: BIDV) là ngân hàng thương mại lớn thứ nhì Việt Nam (sau Agribank) tính theo tổng khối lượng tài sản và là doanh nghiệp lớn thứ tư Việt Nam theo báo cáo của UNDP năm 2007.

Ngân hàng Á Châu- ACB – (tên giao dịch bằng tiếng Anh: Asia Comercial Bank) được thành lập vào ngày 24 tháng 4 năm 1993, và chính thức đi vào họat động kinh doanh sau ngày 4 tháng 6 năm 1993.

Ngân hàng Hàng hải – (hay còn được gọi là Maritime Bank) thành lập ngày 12/07/1991 tại TP Cảng Hải Phòng, là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên ở nước ta.

Tổng hợp từ nhiều nguồn

Chọi gà ở Bavet Campuchia

Đá gà cựa sắt là một trò chơi rất được ưa chuộng tại Bavet Campuchia. Nơi đây là một cửa khẩu giao giữa Việt Nam và Campuchia và được xem là xứ sở của đá gà cựa sắt. Nơi đây thường diễn ra các trận đá gà tre cựa sắt nảy lửa hấp dẫn người xem.


Các cuộc chọi gà thường được tổ chức vào các ngày cuối tuần và thường thay đổi địa điểm tổ chức luân phiên và không trùng lặp. Thế nhưng, người chơi đến xem đá gà cựa sắt lại không phải đi xa mà tất cả các trận đá gà chỉ trong khuôn viên của trường đấu nào đó xung quanh cửa khẩu.
Khuôn viên của một trường đấu thường khá rộng rãi hình tròn và các hàng ghế khán giả được xếp xung quanh để các người chơi có thể thưởng thức các trận đấu nảy lửa một cách rõ ràng nhất. Phía sau là một phòng nhỏ để các người choi có thể có không gian để chăm sóc cho những chú chiến kê của mình. Để có được sự công bằng thì ban tổ chức thường đưa ra những luật riêng cho từng cuộc đấu.
Ban đầu để thể hiện sự công bằng thì ban tổ chức sẽ tiến hành đo cân nặng của các chú gà tre đá cựa sắt này. Những chú gà có cùng cân nặng sẽ được tổ chức để thi đấu với nhau. Ban tổ chức sẽ sắp xếp lịch thi đấu và sau đó từng cặp chiến kê sẽ được đưa ra để thi đấu theo lịch của ban tổ chức. Mỗi trận đấu sẽ có một trọng tài đã được ban tổ chức sắp xếp để cử hành.
Trong các cuộc chọi gà cựa sắt này, các chú chiến kê sẽ được trang bị một cựa sắt và một giải màu để người chơi có thể phân biệt. Trước khi bắt đầu các trận đá gà cựa sắt này thì luôn có những người môi giới cá cược sẽ đưa ra các kèo hoặc làm người trung gian để những người chơi có thể dự đoán kết quả của các cuộc đá gà này và đặt một số tiền mà người chơi mong muốn. Nhiệm vụ của người môi giới khá đơn giản khi chỉ cần tìm một thế cân bằng giữa khoản tiền cược cho 2 chú chiến kê và giao tiền giữa người chơi thằng và người chơi thua. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà người chơi có thể trực tiếp bắt kèo với nhau mà phải thông qua người trung gian do luật của ban tổ chức đã quy định. Và ít nhất người trung gian cũng sẽ nhận được một khoản hoa hồng trong mỗi kèo mà người chơi đưa ra số tiền cược.
Các trận đá gà cựa sắt này thường diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn, khi một trong hai chú gà không còn khả năng chiến đấu nữa thì trận đấu sẽ kết thúc. Thông thường các trận đấu sẽ chỉ diễn ra trong khoảng thời gian là 3 đến 5 phút. Khi một chú gà mất khả năng chiến đầu ví dụ như bỏ chạy hoặc chết thì xem như là thua cuộc.
Trong mỗi trận đấu, mỗi chú gà sẽ được trang bị một cựa sắt buộc vào chân với một đoạn băng keo màu. Người ta lấy màu sắc của băng chân đó làm tên gọi cho “võ sĩ” gà. Gà được buộc băng keo đỏ là “gà đỏ”, gà được buộc băng keo xanh là “gà xanh”.
Đây là một môi trường hấp dẫn thế nên việc đá gà cựa sắt tại đây đang được rất nhiều người việt nam cũng như campuchia yêu thích. Với quy định không quá gắt gao nên người chơi có thể đưa ra những khoản tiền cược bắt đầu từ 3 triệu đồng và không giới hạn

7M, Casino và lịch sử phát triển ngành công nghiệp cờ bạc

7m là gì?

7m vn
Vn 7m livescore,

Livescore 7M CN – 7M Sport là trang web chuyên tổng hợp các thông tin tỷ lệ ,Kết quả bóng đá 7m trực tuyến,trên trang này có rất nhiều thông tin hữu ích cho người muốn có dữ liệu bóng đá 7m dùng để làm các vấn đề liên quan tới nhận định ,cập nhật hay soi kèo tỷ số,xem các tỷ lệ cá cược bóng đá ,…7M CN Livescore – 7M Sport luôn luôn đưa đến những thông tin chính xác nhất.

7M, Casino và lịch sử phát triển ngành công nghiệp cờ bạc

Lasvegas , thành phố đông dân của tiểu bang Nevada, Hoa Kì được biết đến là chốn phồn hoa giải trí bậc nhất thế giới với hàng loạt các chuỗi nhà hàng, khách sạn, đặc biệt là những sòng bạc casino lộng lẫy và xa xỉ.

Lasvegas , thành phố đông dân của tiểu bang Nevada, Hoa Kì được biết đến là chốn phồn hoa giải trí bậc nhất thế giới với hàng loạt các chuỗi nhà hàng, khách sạn, đặc biệt là những sòng bạc casino lộng lẫy và xa xỉ. Đó là nơi những hội tụ sự may rủi, mánh khóe trong các trò chơi liên quan đến cờ bạc. Vậy nguồn gốc của những casino này bắt nguồn từ đâu? Con người biết đến đánh bạc, cá cược sự may rủi của mình để kiếm được những khoản tiền kếch xù từ lúc nào? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu một số thông tin về lịch sử phát triển của casino trên toàn thế giới.
Nguồn gốc của các sòng bạc casino tuy chưa được khẳng định rõ ràng, nhưng theo những tài liệu để lại cho thấy chúng xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc năm 2300 trước Công Nguyên. Ban đầu, người ta sử dụng những con xúc xắc lập phương với số điểm tương ứng trên mỗi mặt trong các cách thức chơi khác nhau. Ví dụ như người Hy Lạp và người La Mã, Pháp dưới thời Napoleon và nữ hoàng Anh ném xúc xắc để đánh bạc. Năm 1020, vua của 2 nước Na Uy và Thụy điển đã cá cược vùng lãnh thổ, tranh dành chủ quyền đất đai qua cặp xúc xắc. Vào khoảng năm 1387 ở Pháp đến năm 1440 ở Đức, việc dùng thẻ bài và các quân bài được ứng dụng phổ biến rộng rãi trong giới đánh bac.

Lịch sử casino phát triển theo từng năm

Lịch sử phát triển của casino thật sự mở rộng và phát triển bắt đầu từ năm 1994, tại quốc đảo phía đông Caribe là Antigua và Barbuda,họ đã xây dựng nên  ngành công nghiệp cờ bạc trực tuyến thông qua đạo luật thương mại cung cấp dịch vụ miễn phí và  tạo các sòng bạc ảo. Mô hình này còn được chính phủ cấp giấy phép hoạt động. Điều đó đã khiến cho nơi đây trở thành vị trí trung tâm trong ngành kinh doanh đánh bạc. Một trong những nhà sáng lập cung cấp phần mềm đánh bạc trực tuyến đứng hàng đầu thế giới là Micrograming.

Năm 1995 là năm đánh dấu cho sự bùng nổ cho ra đời các phần mềm đánh bạc trực tuyến, với mục tiêu tăng cường sự an toàn cho các hoạt động của sòng bạc, điển hình là phần mềm Cryptologic. Sau đó 1 năm, phần mềm Boss specialtidningar AB được phát triển để bổ trợ cho Cryptologic, và phần mềm eCash cũng được ứng dụng lần đầu tiên. Những phần mềm này mở ra cho người chơi những lợi ích tối ưu khi đánh bạc trực tuyến khiến cho họ có cảm giác thật sự như với những cảm xúc gay cấn trong đối đầu trực tiếp trong đời sống thực. Đến năm 1997, Antigua- Barbuda chuyển giao hệ thống Boss sang Media AB để hỗ trợ cho những hình phạt khi chơi cờ bạc trực tuyến.

Năm 1998, Micrograming đã mở ra 1 hệ thống Cash Splash với sự tiến bộ của hệ thống jackpot. Với chương trình mới này, ngành công nghiệp cờ bạc trực tuyến đã thu về 834,5 triệu đô ( theo thống kê của Frost và Sullivan).
Năm 1999, một số đạo luật ngăn cấm sự phát triển của ngành cờ bạc nhưng không thành công. Hãng phần mềm Micro đã khôn ngoan kí kết với công ty kiểm toán Big Five, Warterhouse- Coopers với cam kết báo cáo dữ liệu về tỉ lệ phần trăm thanh khoản tại sòng bạc. Trong năm này, một số sòng bạc trực tuyến tại Úc đã được cấp phép kinh doanh hoạt động. Năm 2000, các nước như Anh , Argentina đã mở cửa rộng rãi cho sự phát triển của lĩnh vực casino.
Ngày 22 tháng 3 năm 2001, PRNewswire mở cuộc khảo sát cho thấy có khoảng 8 triệu người đã tham gia đánh bạc.
Năm 2003, eCOGRA  quy chế thương mại điện tử và chơi game trực tuyến được thành lập với mục đích đảm bảo, quy chuẩn những khung công việc để  giúp cho việc điều hành đạt kết quả tốt nhất và những thử nghiệm đưa ra sẽ phù hợp cho ngành công nghiệp cờ bạc. Cũng trong năm này, poker đã thật sự bùng nổ với sự phát triển mạnh mẽ vượt bậc.
 
Năm 2004, Frost và Sulivan đã báo cáo rằng doanh thu của các sòng bạc trực tuyến trên thế giới đạt đến 8 tỉ đô, tăng từ 3 tỉ đô năm 2001. Tuy nhiên, google và yahoo , hai trang web lớn nhất đã không thông qua việc quảng cáo những vấn đề liên quan đến ngành công nghiệp cờ bạc. Tuy nhiên, năm 2005, Artigua Barbuda đã đưa ra những lập luận và phản chứng đối với  thông cáo của WTO tổ thức thương mại thế giới về các dịch vụ thỏa thuận.
Từ sau năm 2006, doanh thu của ngành công nghiệp cờ bạc không ngừng tăng lên một cách chóng mặt. Hàng triệu người trên thế giới đã coi đây là một thú giải trí không thể thiểu, đặc biệt là với tầng lớp thượng lưu. Vì thế, ngành công nghiệp cờ bạc đã có chỗ đừng không hề thấp kém thậm chí vượt mặt một số ngành kinh doanh thiết yếu khác.

Lời kết: Đối với ngành công nghiệp kinh doanh sòng bạc, đó là nơi có thể khiến cho con người giàu lên trong phút chốc hoặc khiến cho họ dễ dàng mất hết tất cả những gì đã tạo dựng. Không thể phủ nhận, sự đóng góp về mặt kinh tế của từ những casino lớn trên thế giới, Nhưng chúng ta đều nhận thấy đó cũng chính là nguồn gốc của tội phạm. Vì vậy, hiện nay việc kinh doanh sòng bạc vẫn chưa được hợp thức hóa tại một số nước. Thị trường cá cược tại Việt Nam trong những năm gần đây có một nét rất nổi trội với sự xuất hiện của https://ucw18.com/vn/index  với những trò chơi đặc sắc như chọi gà, casino online và nhiều trò chơi khác. Để biết thêm chi tiết những trò chơi thú vị này vui lòng truy cập https://ucw18.com/vn/da-ga-cua-sat

Tiền đề ra đời, phát triển của tài chính

Tài chính là một loại hình kinh tế – Lịch sử Sự tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của con người. Từ toàn bộ lịch sử phát triển tài chính xảy ra chúng ta thấy: sự ra đời của tài chính và sự hiện diện của các điều kiện lịch sử nhất định khi những hiện tượng kinh tế xã hội xuất hiện nhiều nhất. Đã xảy ra và sống sót Có thể xem các hiện tượng kinh tế xã hội, mục đích của nó là mục đích sống còn và phát triển tài chính.

Karl Marx trong Nghiên cứu Kinh tế Chính trị đã chỉ ra hai điều kiện tiên quyết cho tình trạng khẩn cấp, tình trạng khẩn cấp và sự tồn tại của các bang, sự xuất hiện và phát triển của các thị trường hàng hóa hàng hoá.

Giả định đầu tiên: Sự tồn tại của nhà nước

Ở dạng nhà nước xã hội chủ nghĩa, tài chính tồn tại như là một công cụ trong tay nhà nước để phân phối thu nhập xã hội và thu nhập quốc gia để đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. Nhà nước đầu tiên trong xã hội con người là nhà nước nô lệ, cùng với Sự nổi lên và sự tồn tại của các hình thức tài chính ban đầu, như thuế, bắt đầu nổi lên.

F. Enghen viết rằng: “Để bảo vệ quyền lực công cộng, đòi hỏi sự đóng góp của một công dân nhà nước phải đóng thuế. Với sự tiến bộ của nền văn minh, bản thân thuế không còn nữa; Chính phủ cũng ban hành một dự thảo trái phiếu, sẽ phát hành trái phiếu ”
Trong các hệ thống xã hội phát triển, các quốc gia có trách nhiệm xã hội trong mọi lĩnh vực, bao gồm kinh tế, văn hoá, giáo dục, bảo vệ … tất cả sẽ tăng cường tài chính của họ.
Như vậy có thể nói, trong những điều kiện lịch sử nhất định, khi xuất hiện, sự tồn tại và hoạt động của nhà nước, bản chất, sự tồn tại và hoạt động của tài chính.

Giả thuyết thứ hai: sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hoá.

Lịch sử phát triển tài chính cho thấy rằng khi mô hình tài chính đầu tiên xuất hiện trong tình trạng của nền kinh tế (thuế), sự nổi lên và sự tồn tại của sản xuất hàng hoá – tiền tệ và các mô hình tiền tệ. Việc sử dụng các mối quan hệ tài chính là cần thiết.

Trong chế độ nô lệ, các biện pháp tài chính đã được thiết lập. (Ví dụ, thuế quan, thuế, thuế gián tiếp, thuế thị trường, thuế tài sản, vv) trong hệ thống phong kiến, phù hợp với sự mở rộng quan hệ thị trường, sản xuất hàng hoá và tài chính, các lĩnh vực tài chính đã mở rộng và lan rộng hơn. (Chẳng hạn như đánh thuế gián tiếp về đất đai). Thu mua hàng tiêu dùng, thuế hộ gia đình, vv).

Với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế hàng hoá – thu nhập tài chính thông qua tiền và thuế đã trở thành nguồn thu nhập chính cho nhà nước. Bằng cách kiếm tiền, việc chi tiêu tiền đã làm tăng mẫu chi tiêu và linh hoạt trong khi sử dụng các khoản tiền. Vào thời kỳ phát triển kinh tế tư bản, một trong những ngân sách nhà nước tập trung của hệ thống tài chính tập trung là có hệ thống hơn và quan trọng hơn trong việc phân phối của cải xã hội. Về mặt giá trị

Phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều hơn, giá trị tiền tệ sẽ trở thành hình thức chính của doanh thu và chi tiêu của chính phủ. Sản phẩm kinh tế – Tiền đã mở rộng phạm vi của các mối quan hệ tài chính. Chủ nghĩa tư bản được sinh ra và phát triển. Giá trị tiền tệ của các mối quan hệ tài chính là một yếu tố trong bản chất của tài chính.

Vì vậy, sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hoá là điều kiện tiên quyết cho sự nổi lên và phát triển của tài chính.

Khi nói đến vị trí của tài chính, một số nhà lý luận kinh tế nhấn mạnh đến tiền đề đầu tiên đó là tập trung vào sự tồn tại của nhà nước. Nhưng một số nhà kinh tế không đồng ý. Các nhà kinh tế này cung cấp các ví dụ về các quốc gia Khmer không ý thức được nền kinh tế hàng hoá, vì vậy không có cơ sở tài chính. Nhiều nhà kinh tế tập trung vào điểm dị thường thứ hai. Những nhà kinh tế này nhấn mạnh sự nổi lên và sự tồn tại của đồng tiền và lập luận rằng đây là điều kiện tiên quyết cho sự nổi lên và sự tồn tại của vốn. Những lý thuyết này đề cập đến nền kinh tế xã hội chủ nghĩa khi các xã hội không chấp nhận hàng hóa. Nhưng tiền tệ đã tồn tại, vì vậy nó vẫn có cơ sở tài chính.

_ Tài chính Hana sưu tầm_

Khởi Nghĩa Lam Sơn – Phần II

Khởi Nghĩa Lam Sơn

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt và sự thành lập nhà Hậu Lê.

Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn:

Hoạt động ở vùng núi Thanh Hoá(1418-1423)

Tiến vào phía nam (1424-1425)

Và chiếm lại Đông Quan (1426-1427).

Khởi nghĩa Lam Sơn – Phần I

Khởi Nghĩa Lam Sơn

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt và sự thành lập nhà Hậu Lê.

Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn:

Hoạt động ở vùng núi Thanh Hoá(1418-1423)

Tiến vào phía nam (1424-1425)

Và chiếm lại Đông Quan (1426-1427).

Chuyện Xóm Tôi

Jennifer qua chào để dọn nhà đi nơi khác. Cô nói, nhà chỉ để lên HAR.com có một hôm là bán được ngay. Cô nghĩ có lẽ vợ chồng cô đã không biết giá thị trường nên có thể bị hớ.  Người mua, trả hơn giá đòi, cả trước khi agent cắm biển bán nhà. Theo cô, có lẽ người mua đã tìm nhà trong khu này lâu rồi, nên thấy, là mua ngay. Tôi hỏi sao đang ở vui vẻ mà lại bán nhà gấp làm gì. Cô hỏi lại:

– Chị không biết gì thật sao ?

Tôi ngạc nhiên nhìn cô, lắc đầu:

– Chuyện gì vậy ?

Cô à một tiếng, rồi nói nhanh:

– À! Đúng rồi, từ khi anh về hưu, anh chị đi chơi nhiều quá nên không để ý chuyện trong xóm, phải không ?

Tôi lại giải bày:

– Chúng tôi dọn về đây 2 năm. Rất thích xóm này vì cảm thấy an toàn và gần khu Bellaire.  Lúc mới dọn vào đây, tôi cũng có tham dự những buổi họp hằng tháng của xóm, nhưng từ ngày ông xã về hưu thì tôi lại ít tham gia chuyện bên ngoài.  Có chuyện gì mà tôi chưa biết vậy ?

Cô xuống giọng:

– Mới đây, trong xóm đề nghị ông Mike lên làm “chủ xị”, chị có biết không ?

– Chuyện đó tôi có biết nhưng ai làm trưởng xóm thì tôi cũng không quan tâm lắm đâu.

– Vậy là chị không biết ông ấy nhiều rồi.

– Có phải ông Mike, “next door neighbor” của tôi không vậy?

– Đúng rồi.

– Chuyện ông Mike được đề nghị làm trưởng xóm có liên hệ đến việc cô bán nhà sao ?

– Đó là lý do chính tụi em bán nhà, đó chị à.

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

– Việc ông Mike được đề nghị làm trưởng xóm là lý do chính cô bán nhà dọn đi chỗ khác ? Tôi thật tình không hiểu.

Jennifer nhìn tôi với ánh mắt ái ngại, rồi hỏi lại:

– Khi biết có thằng ăn cắp ở ngay trong xóm, rồi thằng này lại được đề nghị làm trưởng xóm. Chị có thể không quan tâm hay dửng dưng được không ? Chị có cảm thấy an toàn nữa không ?

– Dĩ nhiên là không. Nhưng tôi vẫn chưa hiểu được ý của Jennifer.

Jennifer lắc đầu, nhìn tôi ngao ngán:

– Ý em là không chấp nhận sự kiện như vậy, nên em phải bán nhà, dọn ra khỏi xóm này.

Tôi đưa hai bàn tay lên ôm nguyên khuôn mặt của mình, che luôn đôi mắt trong vài giây, rồi bỏ tay xuống, mở mắt ra, nhìn Jennifer, hỏi:

– Rồi nơi khu nhà mới, nếu có người xấu, Jenni lại dọn nhà nữa sao ?

Cô lớn giọng trả lời:

– Tụi em ra thật xa thành phố, mỗi nóc gia có vài mẫu đất, không có ai làm chủ xóm cả, chị à.

– Jenni có điều kiện thì làm như vậy được chứ chúng tôi thì không, nên phải có cách khác.

– Cách gì vậy? Nói cho em nghe được không ?

Mời Jenni uống tiếp ly nước táo và chanh mới xay xong, tôi chậm rãi nói:

– Thì tránh họ ra thôi.

– Chị à, nó ở ngay bên cạnh, làm sao chị tránh được.

– Ở xứ này, nhà ai nấy ở, nếu tốt, gặp nhau thì mình chào, còn không thì làm lơ như mình không thấy.

– OK! Coi như chị tránh được đi, nhưng bây giờ một thằng không có tư cách như vậy lại làm chủ xị, thì chị nghĩ sao ?

Đưa tay lên vén những sợi tóc đang lòa xòa trước mắt, thay vì trả lời Jenni, tôi hỏi lại:

– Jenni có theo dõi cuộc bầu cử trong cộng đồng mình tháng trước không?

– Lúc đầu em cũng muốn theo dõi nhưng khi có ban bầu cử, mà trưởng ban lại là người bị tai tiếng trong cộng đồng nên em chán, không thèm để ý đến nữa.

– Jenni có biết kết quả cuộc bầu cử không ?

– Có.

– Jenni thấy sao ?

– It’s OK.

Tôi cười nhẹ, rồi chậm rãi nói:

– Ai cũng nói về người trưởng ban đó không tốt, có người còn phát cả tờ rơi, là bản copy những giấy tờ tội phạm của ông ta, nên rất nhiều người không tham gia cuộc bầu cử, vì vậy năm nay số người đi bầu ít hơn 3 năm trước cả 3 ngàn người. Dù vậy kết quả của cuộc bầu cử thì đa số đều vui mừng…

Không chờ tôi nói hết câu, Jenni nóng nảy cắt ngang:

– Chuyện bầu cử trong cộng đồng thì có dính dáng gì với chuyện trong xóm mình hả chị ?

– Tôi chỉ muốn đưa ra thí dụ để nói với Jenni rằng, biết đâu trong xóm mình có người đề nghị cho ông Mike làm trưởng xóm vì họ thấy kết qủa của cuộc bầu cử trong cộng đồng mình.

– Em không hiểu ý chị!

– Tôi nghe có người nói là người xấu, khi được làm việc tốt, thì họ sẽ làm tốt hơn người bình thường.

Cười lớn, cô lắc đầu lia lịa, rồi nói:

– Em không tin đâu chị.

– OK, cô không tin thì thôi nhưng ngoài lý do chính thì còn có lý do phụ nào nữa?

Yên lặng một lát, Jenni hỏi lại tôi:

– Chị có thấy trong xóm này “phe đảng” không ?

Không suy nghĩ, tôi lắc đầu đáp ngay:

– Không, tôi chẳng thấy ai phe đảng gì cả.

– Có lẽ chị ít để ý chuyện chung quanh. Thôi, vậy cũng tốt chị à.

Nói xong, Jenni đưa tay lên gãi đầu rồi tự dưng đổi đề tài:

–  Em muốn hỏi chị là chuyện cái bà cà chớn TV, mấy tháng trước, khi ra cộng đồng làm việc, lại dùng tên của chị, bị chị viết thư gửi đi khắp nơi, nên bà ấy bị người ta chê cười. Bây giờ ai gặp bà ấy cũng gọi là HV-China, đến đâu rồi?

– Tại sao lại gọi là HV-China?

– Thì China chuyên làm đồ giả đó mà chị.

Tôi phá ra cười:

– Thiệt tình! Tôi chưa biết chuyện này, đó nha. Còn cô hỏi chuyện đến đâu thì tôi cũng chịu, chẳng biết nó tới đâu nhưng dạo gần đây, tôi gặp bà ấy vài lần ngoài cộng đồng, tôi lờ bà ấy đi.

Jenni nhanh nhẩu:

– Em cũng có thấy bà ấy một lần trên chùa VN. Em chỉ cho chồng em, ảnh nói “Ối Giời! Kinh thật!”

Chạm nhẹ tay Jenni, tôi nói:

– Jenni biết không, khi bà ấy lấy tên tôi để ra cộng đồng sinh hoạt với cô DS trẻ kia thì lúc đầu tôi cũng khá ngạc nhiên vì bà ta tên là TV, tôi đã gặp bà ấy, đã liên lạc emails, đã phỏng vấn bà ta trong một phóng sự của chúng tôi. Bà đã tự giới thiệu tên là TV. Tôi lại quen biết với vài người bạn của bà ta, những người biết bà ấy từ lúc bà mới dọn đến đây …

Jenni ngắt lời tôi:

– Vậy mà chị không làm dữ thì em cũng thua chị luôn.

– Để làm gì hả Jenni?

– Vạch mặt ra cho mọi người biết, chứ chị.

Tôi lắc đầu:

– Đừng tưởng người ta không biết Jenni ạ. Phần đông người ta khinh cho đấy chứ. Nhiều người emailed, phoned, text cho tôi nói về bà ta không hay ho chút nào. Tôi chỉ giải thích là, khi người ta đã có ý gian thì mình có nói hay có làm gì đi nữa cũng không ngăn được họ đâu. Họ không còn biết ngượng ngùng nữa đâu. Nếu biết ngượng, là người có tư cách, đạo đức rồi, thì đã không “cầm nhầm” tên tuổi hay sản phảm của người khác.

Jenni không đồng ý, cãi lại:

– Chị à, không nói, những hạng người đó lại tưởng là không ai biết, không bao giờ bỏ thói ăn cắp.

– Có lẽ chẳng cần phải chờ đến mình nói đâu Jenni à.

– Là sao, chị ?

– Nếu là người ưa cầm nhầm thì chắc chắn họ cầm nhầm đồ đạc, sản phẩm của nhiều người, thì thế nào cũng có người không im lặng như mình đâu.

– Nhưng chị là người bị cầm nhầm cả cái tên mà không lên tiếng thì hơi lạ.

– Không lạ đâu, Jenni. Tôi cũng đã làm những gì cần làm rồi đó chứ. Nếu không, thì Jenni làm gì biết chuyện đó, phải không ?

– Không đâu chị, tại em thấy mấy đài truyền hình giới thiệu là HV, mà chiếu ra cái bà hắc ám gì đâu, không phải chị, nên em cũng thắc mắc và hỏi chị đó chứ.

Tôi hạ thấp giọng một tí:

– Jennie thấy đó, cái tên mình còn bị người khác cầm nhầm thì sá gì mấy cái bài mình viết, bị thiên hạ cầm nhầm, phải không ?

– Thật ra em thấy bà ta cũng khôn quá trời đi chứ ?

– Khôn ?

– Chị không thấy hả, thì chỉ cần mượn một cái tên đã “thành danh” trong cộng đồng, đặt cho mình, thì sẽ có nhiều người nhầm tưởng mình là tác giả của những “sản phẩm đã có sẵn trên thị trường.”

Tôi cười muốn tắt thở với ý nghĩ lạ lùng của cô bạn nhỏ hàng xóm, rồi đính chính:

– Làm gì mà “thành danh” hả, Jennie.  Vài cái truyện ngắn, vài tấm hình, vài bài phóng sự, thì có gì đâu mà Jenni nói là “thành danh” ! Nói vậy, “chúng” chửi cho tắt bếp luôn đó cô à.

Jenni cũng cười theo và phụ họa:

– Còn những chương trình Sử, chương trình thiếu nhi trên LSR chị đã làm cả chục năm nữa chi ?

Tôi nghiêm trang đáp lời Jenni:

– Chỉ là những việc nhỏ xìu xiu thôi cô em à. Thích thì làm thôi chứ có gì mà Jenni cho nhiều credit vậy?

Tôi vừa dứt lời, Jenni đã nói nhanh:

– Chị nói credit, làm em nhớ vài năm trước, sau khi anh chị có bài phóng sự về chợ chồm hổm ở nhà thờ La Vang, thì ngay sau đó, mấy đài truyền hình ở đây cũng làm phóng sự đó, mà “tục” nhất là đài GLB-TV. Họ “cầm” nguyên  bài của đài VOA, thêm vài chi tiết khác rồi làm thành của họ mà không nhắc một tiếng là mượn bài của anh.

Tôi lại cười:

– Thì họ sập tiệm rồi đó! Xét cho cùng thì tại họ không có người viết bài thôi.

– Không có người viết, đi lấy bài nơi khác thì phải để “nguồn” chứ, chị.

Tôi trầm ngâm:

– Lúc đầu tôi cũng có ý phiền giận vì sự không trong sáng của họ.  Họ có thể lấy bài nhưng ít ra phải để xuất xứ. Sau này, tôi nghiệm ra một điều là họ cần những lời khen, nên để “tiện việc sổ sách” thì khỏi ghi gì cả để những ai không biết, sẽ tưởng họ viết, họ làm from scratch, rồi khen thưởng họ. Thôi, mình bỏ qua cho họ đi nha. Chuyện chôm chôm, cầm nhầm thì ở khắp nơi rồi, không chỉ ở Tầu, VN và những xứ chậm tiến, mà ngay cả người sống lâu năm tại Mỹ, tại Úc, cũng có không ít người mang chứng bệnh trầm kha này. Chừng nào Jenni dọn nhà?

– Cuối tuần này rồi chị.

– Tôi rất tiếc là vợ chồng Jenni dọn đi nơi khác. Nếu biết trước, tôi đã năn nỉ Jenni đừng bán nhà.

– Cám ơn chị, nhưng mọi việc đã xong rồi.

Đưa Jenni ra cửa, tôi nói trong tiếc nuối:

– Về đây được hai năm, tôi rất vui được quen biết với Jennie. Tôi mong rằng sau này sẽ có dịp ở gần với Jenni.

Cầm tay tôi, Jennie ngập ngừng:

– Em cũng mong có dịp ở gần chị. Biết đâu chừng, khi tụi em lớn tuổi, cũng sẽ dọn về lại gần đây cũng nên.

– Chúc Jenni vui với căn nhà mới và mong mọi điều tốt lành sẽ đến với gia đình cô./.

 

Xuân Trong Cửa Thiền

 

Sau hơn một tuần lễ làm việc với con số, kiểm tra sổ sách một công ty dầu, trong chuyến công tác đến thành phố nhỏ miền trung Mỹ, vào những tuần đầu tháng Hai của năm dương lịch, Thanh tìm được địa chỉ một ngôi chùa trong cuốn điện thoại niên giám. Không ngại cái lạnh triền miên của những ngày mùa đông, với cơn mưa tuyết vừa chấm dứt chiều hôm trước, Thanh quyết định lái xe đến đó để tìm không khí Tết trong lúc phải xa gia đình vào những ngày cuối năm âm lịch.

Trải qua những đoạn đường đông đá, cuối cùng thì cô cũng đến được ngôi chùa nhỏ, nằm khuất dưới những tàng cây không còn lá, trong khuôn đất rộng, với tấm biển nhỏ Tịnh Xá Thanh Lam bên ngoài hàng rào. Sáng sớm thứ Sáu, bãi đậu xe vắng vẻ, Thanh cẩn thận từng bước trên mặt sân còn trơn ướt. Mùi trầm hương thoang thoảng khi cô đến gần cửa. Định đưa tay gõ nhẹ cánh cửa bên góc trái, nhưng hàng chữ nhỏ đập vào mắt cô “Cửa mở, mời vào”.

Đẩy nhẹ cửa, hình ảnh một tu sĩ đang ngồi yên lặng trước bàn thờ Phật, quay lưng lại cửa ra vào, làm Thanh hơi khựng lại. Cô bỏ giày, khép nhẹ cửa, đi vào bên trong. Vị tu sĩ như không hề biết sự hiện diện của cô. Ngước nhìn tượng Phật màu trắng với khuôn mặt thanh thoát, Thanh cúi đầu, lễ ba lạy, rồi ngồi xuống phía cuối chánh điện.

Không biết Thanh đã ngồi đó bao lâu, nhưng khi cô bắt đầu xả thiền thì bắt gặp một ánh mắt trong sáng, hiền từ đang nhìn cô. Cô chắp tay chào, nhưng vị tu sĩ ra dấu, bảo cứ thong thả xả thiền. Chờ cô xả thiền xong, vị tu sĩ lên tiếng:

– Đạo hữu đến chùa sớm vậy có lạnh không ?

Thanh gật đầu:

– Vâng, trời ở đây lạnh quá!

– Đạo hữu từ đâu đến ?

– Dạ từ California.

Vị sư nhìn cô, hỏi:

– Đạo hữu mới dọn đến thành phố này ?

– Dạ không, con chỉ công tác ở đây vài tuần.

– Làm sao biết Chùa mà đến ?

Thanh bẽn lẽn:

– Dạ con coi trong cuốn điện thoại niên giám.

Với nụ cười thật hiền, vị sư hỏi tiếp:

– Sớm quá, có lẽ đạo hữu cũng chưa dùng điểm tâm, mời đạo hữu dùng sáng nhé?

Thấy Thanh có vẻ ngại ngùng, sư lên tiếng:

– Đừng ngại, tới chùa thì cứ tự nhiên.

Buổi điểm tâm với bánh tét nhân đậu xanh và dưa món chay làm Thanh chạnh nhớ những ngày Tết ở quê nhà. Nơi xứ lạ, dù khí hậu lạnh lẽo những ngày trước Tết, nhưng trong lòng Thanh rộn ràng ấm áp khi được biết Thanh Lam là chùa sư nữ.

Với nét mặt dịu hiền nhưng trong sáng, cùng với làn da trắng mịn màng, sư Diệu Hiền nhìn như chưa tới bốn mươi. Thanh không nhớ là mình đã gặp khuôn mặt thanh tú này ở đâu, chỉ biết là nhìn rất quen thuộc. Trí nhớ của Thanh không giúp nàng nhận diện được người trước mặt. Có lẽ vì giọng nói hiền hòa từ tốn của sư Diệu Hiền nên dù mới gặp, Thanh không ngần ngại chia sẻ vài chuyện rất riêng tư để rồi biết ra sư Diệu Hiền là cô Thục Hiền, em của cha Thanh, đã trốn gia đình, xuất gia gần 40 năm trước.

***

Những ngày cận Tết Quý Sửu (1973), Sàigòn có những cơn gió mát nhẹ làm Thục Hiền thêm hồi hộp trong sự đợi chờ. Mới ngày nào, tiễn Hoàng đi du học mà giờ đây chàng sắp về thăm gia đình. Hoàng là bạn của anh kế Thục Hiền, hay đến nhà học thi với anh nàng. Hoàng bày tỏ tình cảm qua những cử chỉ ân cần săn sóc, qua những ánh mắt tình tứ. Rồi khi xa nhà, những lá thư xuyên đại dương trong ba năm trời, gói trọn mối tình đầu của Thục Hiền. Những dòng chữ yêu thương, hứa hẹn, giúp nàng thoát được sự mai mối của người thân quen. Trước khi lên máy bay đi Đức, Hoàng đã nắm tay nàng nói nhỏ “Chờ anh nhé!” Chỉ ba chữ đó thôi mà Thục Hiền coi như lời hứa hôn và nàng đã hạnh phúc gật đầu với nước mắt rưng rưng.

Là con út trong một gia đình đông anh em, Thục Hiền lớn lên cùng các con của anh chị nàng. Có cháu còn ra đời trước cả Thục Hiền vài năm. Các cháu giỏi giang hơn dì út. Cô cháu gái Thục Vi, con bà chị cả, xinh đẹp thi đâu đậu đó, mới vào trường Dược được hai năm và đang có bạn trai là con của một luật sư nổi tiếng trong thành phố. Lúc Hoàng rời nước, Thục Vi chỉ 17 tuổi,  học lớp đệ nhị trung học (lớp 11). Thục Vi thương và rất gần gũi dì út Thục Hiền.

Lòng rộn ràng, Thục Hiền nôn nao chờ đợi. Nàng đếm từng ngày, từng phút, từng giây để ra phi trường đón người yêu. Tháng ngày chờ đợi dài vô tận nhưng nàng sống trong niềm hạnh phúc không cùng.  Ngày Hoàng về thăm nhà, Thục Hiền lại không được ra Tân Sơn Nhất đón người yêu vì mẹ Thục Vi nói xe không đủ chỗ ngồi, nhưng Thục Vi thì được theo mẹ ra phi trường.

Không ai biết được chuyện gì xảy ra trên chuyến xe từ Tân Sơn Nhất về nhà Hoàng, trong Chợ Lớn, ngày hôm đó, mà chỉ một tuần lễ sau là đám hỏi của Thục Vi và Hoàng. Đám cưới cử hành hai tuần sau đám hỏi. Và Hoàng trở lại Đức sau đám cưới một tuần. Bà con họ hàng thân hữu, bàn tán không dứt về cuộc hôn nhân lạ lùng này. Người thì cho rằng cưới như chạy tang, dù trong gia đình không có người chết. Người thì nói “chị giật chồng sắp cưới của em út cho con gái”. Có người chê Thục Vi cướp người yêu của dì út, nhưng có kẻ lại chê Hoàng ham vợ trẻ và giàu mà phụ người yêu. Người khách quan hơn thì cho rằng thời buổi loạn ly, ai lại không muốn tìm cách cho con đi ngoại quốc …

Không biết có phải là để tránh những bàn tán xôn xao về mình, hay là quá thất vọng vì sự thay đổi của người yêu, mà một ngày, sau khi Hoàng trở lại Đức, Thục Hiền cũng bỏ nhà ra đi. Trong bức thư để lại cho gia đình, Thục Hiền chỉ xin đừng tìm kiếm nàng, và hứa sẽ không làm tổn hại bản thân để khỏi phụ công ơn sinh thành dưỡng dục của song thân…

***

Trong lúc sư Diệu Hiền châm thêm trà vào tách cho Thanh, cô chậm rãi hỏi:

– Sao lúc đó Sư Cô lại bỏ nhà ra đi ?

Cười nhẹ, sư lắc đầu, rồi nói:

– Lúc đó bà con họ hàng bàn tán dữ quá, mẹ của Thục Vi thì bị bà con xỉ vả. Ai gặp, cũng đem chuyện đó ra hỏi, mà Cô thì không muốn thấy Thục Vi buồn. Bác Thiềm, mẹ của Vi, lại là chị cả trong nhà, nên cô chỉ muốn tránh mặt một thời gian.

– Cô vào Chùa từ lúc đó ?

– Chuyện khá dài dòng, cháu ạ. Lúc đó cháu còn nhỏ quá mà.

– Vâng, cháu mới 6 tuổi. Cô có buồn khi anh Hoàng cưới chị Thục Vi không ?

– Có chứ! Không những buồn mà còn thất vọng, hụt hẫng nữa. Từ lâu lắm rồi, Cô đã theo Bà đến Chùa lễ Phật.  Sau khi chú Hoàng đi Đức học, cô lại đến chùa nhiều hơn. Lúc đó, cô chưa biết gì về đạo Phật, chỉ đến lễ Phật và cầu nguyện mà thôi. Đến khi chú Hoàng về thăm nhà và cưới Thục Vi, rồi trở lại Đức để hoàn tất việc học, thì bác Thiềm thấy cô buồn quá nên lại làm mai, làm mối nhiều người khác cho cô …

– Ủa, sao lạ vậy ? Bác Thiềm có giải thích với cô vì sao anh Hoàng lại cưới chị Vi không ?

– Không, cháu ạ.

– Cô có hỏi anh Hoàng hay chị Vi không ?

– Cô không hỏi, nhưng Vi có nói với cô là “Me dàn xếp mọi chuyện”. Chú Hoàng thì tránh gặp mặt cô.

– Lúc đó cháu nhỏ quá, không biết gì hết. Đám cưới chị Vi xong thì cũng chẳng thấy cô đâu. Mãi sau này lớn lên, cháu nghe Bố Mẹ nói cô đi tu ngoài Đà Nẵng. Họ hàng nói cháu giống cô nhất nhà.

– Ừ, cháu giống cô lúc trẻ.

– Có lẽ vì vậy mà lúc nãy cháu cứ thấy cô quen quen.

– Cô cũng nghi là có liên hệ, khi mới thấy cháu.

– Cô đến Mỹ từ bao giờ ?

– Cũng hơn hai mươi năm rồi, cháu.

– Trong nhà, ai cũng tưởng cô vẫn còn ở Việt Nam.

Sư Diệu Hiền nhìn Thanh, chậm rãi nói:

– Cô nào có định đi khỏi Việt Nam đâu. Thời đó người Việt mình vượt biên chết nhiều quá nên Phật tử trong chùa năn nỉ cô đi với họ. Họ tin là có cô thì mọi việc sẽ hanh thông.

– Cô có biết Bố chết không ?

– Cô có nghe là Bố mất trong tù.

– Vâng, bị đi “trại cải tạo” đó cô.

– Mẹ cháu bây giờ ra sao ?

– Mẹ cháu cũng mất rồi cô.

– Mẹ cháu mất lúc nào ?

– Dạ qua đây mới mất.

– Mẹ cháu hiền, chị dâu mà thương cô hơn cả chị ruột.

– Cháu nghe mẹ kể là hồi đó mẹ đi kiếm cô quá chừng.

– Cô có biết, nhưng cô tránh gặp.

Nhìn sư Diệu Hiền thật lâu, Thanh ngập ngừng hỏi:

– Cô còn nhớ hay buồn chuyện ngày xưa không, cô ?

Lắc đầu, sư Diệu Hiền chậm rãi trả lời Thanh:

– Nếu nói quên chuyện xưa là không nói thật, nhưng buồn thì không, cháu ạ. Cô cho rằng cô có duyên đi tu nên mới xui đẩy những chuyện như thế.

– Là sao, cô ?

Sư Diệu Hiền trầm ngâm một lúc rồi thong thả nói:

– Cô phải thú thật là lúc đầu Cô đi tu vì thất vọng nhưng về sau cô hiểu ra và cảm ơn những người đã mang lại sự khổ đau ban đầu đó, bởi vì những bất hạnh đó mở ra một cuộc đời mới cho cô. Sự tu hành làm cô giảm đi Ái Nghiệp và hiểu được lý Nhân Duyên. Cô nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc đời, của tình yêu. Bây giờ trong sự thanh thản, cô đang cố theo gương Đức Phật, mang tâm Từ Bi trải cho mọi người và mọi loài. Có lẽ cháu không tin đâu, cô cũng không muốn nói nhiều về lý thuyết nhưng cháu cứ thử đi, ráng tu tập và cầu nguyện đức Phật Tự Tâm, cháu sẽ hiểu cô và có được sự nhẹ nhàng và hạnh phúc khi mình mang Tâm Từ trải rộng cho muôn loài, chứ không khép kín trong sự yêu thương đôi lứa hay trong họ hàng thân thuộc.

Thanh vẫn nghi ngờ, hỏi thêm:

– Tết đến rồi ở chùa Cô không buồn sao?

Ni sư Diệu Hiền mỉm cười, dịu dàng trả lời:

– Với người tu, thời gian và không gian không còn ảnh hưởng. Ngày xưa thiền sư Chân Không đời Lý có câu thơ này mà cô rất tâm đắc, cô đọc lại cho cháu nghe này:

“Xuân đến Xuân đi ngờ Xuân hết

Hoa nở Hoa tàn chỉ là Xuân”

Thành thử ra tất cả là tùy Tâm mình. Xuân, thu, ở Mỹ hay Việt Nam, nếu Tâm an thì lúc nào, ở đâu cũng là mùa xuân trên quê hương mình cả.

Thanh nhìn Sư Cô Diệu Hiền mà lòng cảm thấy an tịnh lạ thường. Nàng cảm thấy Mùa Xuân đang thực sự trở về dù thời tiết đang là những ngày cuối đông lạnh giá./.

 

Please! Be My Valentine!

Sáng sớm cuối Đông, trời còn hơi lạnh, mới hơn 5 giờ, Hoàng Uyên đã ngồi đọc báo trong lúc uống coffee. Nghe như có tiếng chân ai rón rén đến gần, nhưng cô vẫn không ngẩng đầu lên.
– Good Morning! – Chào Buổi sáng –

Tiếng chào quen thuộc làm Hoàng Uyên ngạc nhiên. Ngừng đọc báo, cô ngước lên nhìn, mỉm cười với người vừa chào mình, rồi đáp:
– Good Morning! Alex. Sao dậy sớm vậy ?

Alex với dáng rụt rè, hai tay giấu sau lưng, ngập ngừng:
– I don’t know. – Không biết! –

Hoàng Uyên hỏi:
– Alex có gì sau lưng đó ?

Lắc đầu nguầy nguậy, Alex nói thật nhanh:
– Nothing ! – Đâu có gì đâu!

Hoàng Uyên cười:
– OK! Không có gì !

Alex tiến đến gần Hoàng Uyên, rồi bất ngờ đưa hai tay đang giấu sau lưng, ra trước mặt Hoàng Uyên, nói nhanh:
– Happy Valentine!

Hoàng Uyên ngạc nhiên nhìn Alex, rồi nhìn vào nhánh hoa dại, và tấm thiệp trong tay Alex. Tấm thiệp tự làm với tờ giấy trắng, xé từ một cuốn tập nào đó, vẫn còn vết răng cưa, được xếp làm tư.

Xúc động, Hoàng Uyên đưa tay nhận, rồi từ từ mở tấm thiệp. Hình trái tim vẽ vụng dại, với hàng chữ viết nguệch ngoặc bằng Crayon …. “Please! Be My Valentine!”

Nước mắt dàn dụa trên má, Hoàng Uyên cúi xuống, bế Alex lên, nghẹn ngào chưa nói được gì, thì Alex đã lên tiếng:

– Pl…e…a…s…e…! Mommy … Please! Be my Valentine!

Hôn con liên tiếp mấy cái, Hoàng Uyên chậm rãi nói:

– Thank you so much, Alex! You are My Valentine!

Xuân Lẻ Loi

– Thục Uyên! Thục Uyên!…
Tiếng gọi ngạc nhiên chen lẫn ngỡ ngàng làm Thục Uyên ngơ ngác nhìn quanh. Wallee cũng rộn ràng chạy loay hoay dưới chân nàng như tìm kiếm. Đứng trong đoàn người hối hả vừa từ Caltrain Station túa ra để đến sở làm vào sáng sớm mùa đông của San Francisco, Thục Uyên nghe âm thanh của tên mình thật xa lạ với chính nàng. Ai mà biết mình giữa thành phố chưa quen vào buổi sáng tinh sương này ? Ý nghĩ đến nhanh trong đầu nàng, rồi tưởng mình đang mơ, Thục Uyên chăm chú nhìn vào đèn đường. Khi thấy dấu hiệu “đi” sáng lên trên cột đèn giao thông, Thục Uyên cúi xuống, lắc nhẹ chiếc dây trong tay, nối liền với cái vòng trên cổ của Wallee, nói:
– Wallee, ngoan nào, đi …
Thục Uyên chưa dứt lời, thì nghe một giọng nói thật ấm ngay sau lưng:
– Phải Thục Uyên không ?
Nàng hốt hoảng xoay nhanh người lại để bắt gặp một khuôn mặt đàn ông đang đối diện với mình. Người đàn ông nhìn nàng rồi đưa một tay ra như muốn choàng qua vai Thục Uyên. Nàng mừng rỡ reo lên:
– Ô! Anh Hoàng! Anh Hoàng hả ?
Người đàn ông xiết nhẹ vai nàng, gật đầu, rồi dồn dập hỏi nhanh:
– Sao Thục Uyên lại ở đây ? Qua đây lâu chưa ? Ở với ai ở đây ? Sáng sớm còn lạnh như vậy mà đi đâu đây ? …
Vừa hỏi Hoàng vừa kéo nàng đi nhanh theo đoàn người băng qua đường trong khi Wallee ngoan ngoãn chạy theo.
Vẫn nắm tay Thục Uyên khi đã đứng nép vào gần thân cây cherry bên góc đường, để nhường lối cho khách bộ hành, Hoàng nhìn xuống chú chó nhỏ lẩn quẩn dưới chân nàng, hỏi tiếp:
– Thục Uyên có chú chó đẹp quá!
– Thanks, nhưng Wallee là của Quang.
Hoàng ngạc nhiên:
– Cháu Quang ở San Francisco à ?
– Vâng, cháu ở đây từ lúc ra trường.
– Gần đây không ?
– Dạ 2 blocks.
Nhìn Thục Uyên, Hoàng tiếp lời:
– Thục Uyên chưa trả lời mấy câu hỏi của anh.
– Anh hỏi nhiều và nhanh quá, lại phải băng qua đường …
Hoàng cười:
– OK! OK! Xin lỗi! Tại bất ngờ quá!
Thục Uyên hỏi lại:
– Anh đi đâu mà lại thấy và nhận ra Uyên ?
– Đi làm. Vừa xuống train, đang đi vội để đến văn phòng thì chợt thấy có dáng ai quen quen. Tưởng là một cô Tàu nào, nhưng khi thấy gió làm bay nón của cái áo, rồi tóc dài bị gió thổi, anh ngờ ngợ là Uyên. Bèn gọi thử thì thấy “cô Tàu” nhìn quanh nên biết là Thục Uyên. Còn Uyên đi đâu với Wallee sớm vậy ?
Thục Uyên cười bẽn lẽn:
– Sáng nào Uyên cũng dắt Wallee đi một vòng…
– Ủa bao lâu rồi? Sao hôm nay anh mới thấy ? Anh vẫn đi con đường này từ mấy năm nay rồi mà.
Thục Uyên lắc đầu:
– Cũng mới đây thôi, nhưng mọi lần thì đi về hướng đường số 5. Sáng nay Quang text khi vừa đến sở, nói đừng đi hướng đó vì có tai nạn bắn nhau gì đó, nên Uyên đi ngược lại hướng đường số 3…
Hoàng reo lên:
– Ô! Hên quá, nhờ vậy anh mới gặp được Uyên.
Thục Uyên nhìn vội xuống chiếc đồng hồ trên tay mình, hỏi:
– Anh nói chuyện có trễ giờ làm không? Văn phòng gần đây không?
Hoàng đáp nhanh:
– Cách đây 10 blocks. Sáng nay anh có một buổi họp quan trọng rất sớm nên bây giờ phải xin Uyên địa chỉ của cháu Quang, và số phone của Uyên, khi họp xong, anh sẽ gọi và đến nhà cháu Quang, gặp Uyên nhé.
Ghi số phone và địa chỉ xong, Hoàng đưa tay ra nắm lấy bàn tay Thục Uyên bóp nhẹ, nói:
– OK, anh phải chạy, lát nữa anh gọi.
Nhìn theo Hoàng nhập vào đám đông trên đại lộ Brannan, đi về hướng Downtown, Thục Uyên vẫn không tin được những gì vừa xảy ra. Nàng chậm rãi cúi xuống bế Wallee lên, vỗ nhẹ vào đầu nó, rồi quay người lại, đi về hướng nhà Quang.

*

Suốt buổi họp, tâm trí Hoàng bị chi phối vì cuộc gặp gỡ tình cờ với Thục Uyên. Hơn mười năm trời không gặp mà nàng không hề thay đổi và chàng thì vẫn xúc động dạt dào khi gặp lại. Hình ảnh Thục Uyên những ngày còn là sinh viên của trường UT hiện ra như những thước phim quay chậm trong đầu Hoàng. Cô sinh viên nhỏ nhắn, tóc dài nhưng luôn cột cao, làm cho khuôn mặt càng thêm thanh tú, đã khiến chàng giáo sư rung động mỗi lần cô hỏi bài. Dù ái mộ nàng đến đâu thì Hoàng cũng không thể bày tỏ cảm tình của mình vì chàng đã có gia đình. Suốt 4 năm học tại Austin, Thục Uyên vẫn một mình chăm chỉ học, không tham dự những cuộc vui của bạn cùng lứa. Có nhiều lần, Hoàng đã cố gợi chuyện để tìm hiểu về nàng, nhưng Thục Uyên khá kín đáo nên Hoàng không biết nhiều về cô. Chỉ có một lần, vì không hiểu nhiều chữ Anh ngữ, cô mới tâm sự là chỉ mới đến Mỹ vài năm trước đó. Và rồi do một tình cờ, chàng đã biết được là trên đường vượt biển tìm tự do, tàu của Thục Uyên đã gặp hải tặc. Học xong, Thục Uyên có việc làm ở Houston rồi lập gia đình. Hoàng vẫn theo dõi cuộc sống của nàng và biết nàng không hạnh phúc với chồng dù họ có một con trai. Rồi họ chia tay cách đây ba năm, trước khi Quang học xong.
Những giòng tư tưởng chạy lung tung trong đầu Hoàng cho đến khi xong buổi họp, chàng vội ra ngoài để gọi cho Thục Uyên. Cuối cùng thì hẹn được với nàng tại nhà hàng Freshroll, ngay trên đường số 4, chỉ cách nhà Quang vài blocks đường.

*

Thục Uyên nghiêng bên phải, nhìn qua trái trước tấm gương, rồi thêm chút phấn hồng, tí môi son, tí bút chì trên đường viền mắt, trên hàng lông mày… cho tới khi bằng lòng với những gì nàng thấy, mới bước ra khỏi phòng tắm. Nàng tự hỏi tại sao mình lại “điệu” đến thế. Lâu lắm rồi nàng không dùng tới những hộp mỹ phẩm này, nhất là từ lúc dọn đến San Francisco vì nàng chẳng đi đâu ngoài việc dắt Wallee ngày hai lần ra đường và đi mua thực phẩm cho mẹ con nàng. Thục Uyên không có người quen biết nào ở đây, ngoài Quang. Nàng quyết định về hưu ở tuổi 50 để theo con qua thành phố Cựu Kim Sơn sống.
Thục Uyên nghe mình tự hỏi, là đi gặp và ăn trưa với một người quen ngày xưa thì tại sao phải rộn ràng, cuống quít như vậy. Nàng mỉm cười khi nghĩ tới người giảng sư của đại học Austin năm nào đã chiếm nhiều cảm tình của nàng thuở ấy nhưng chưa hề có một hẹn hò giữa hai người. Cuộc hành trình kinh hoàng trên biển cả để tìm tự do, đã mang lại tâm trạng sợ hãi cho nàng khi gặp những người khác phái. Nàng nhớ lại những ngày đến trường trong cô đơn ở thủ phủ Austin của tiểu bang Texas đã làm nàng suýt bỏ học mấy lần, nhưng rồi nàng cũng qua được những lúc buồn chán để quyết chí học hành. Với sự giúp đỡ không ít của người giáo sư tốt bụng tên Hoàng, cuối cùng thì nàng cũng học xong. Thục Uyên biết Hoàng có gia đình và tình cảm giữa hai người cũng rất chừng mực, tuy nhiên, những lần ngồi nghe Hoàng kiên nhẫn giảng bài cho mình, Thục Uyên không khỏi xúc động.
Với mảnh bằng cử nhân của UT- Austin, Thục Uyên có việc làm ở Houston. Tại đây nàng gặp và kết hôn với một đồng nghiệp. Dù Thục Uyên đã không dấu diếm chồng về tai họa khủng khiếp nàng gặp trên biển cả, nhưng cuộc hôn nhân cũng bị ảnh hưởng nặng nề vì chuyện đó. Có lẽ những cơn ác mộng thỉnh thoảng đến với nàng ban đêm đã làm phiền lòng người phối ngẫu. Nhưng làm sao nàng có thể bảo lòng đừng nhớ đến những tai họa kinh hoàng đó! Rồi cuối cùng họ phải chia tay khi Quang vẫn còn chưa học xong cử nhân…

*

Từ ngã tư đường Howard, Thục Uyên đã thấy Hoàng đứng chờ trước tiệm Freshroll, không dưng tim nàng đập nhanh hơn bình thường. Hơi bối rối, nàng chợt mỉm cười một mình. “Lạ thật! Sao mình giống người say vậy nè?”, Thục Uyên lẩm bẩm, rồi đi nhanh hơn.
Đón nàng với nụ cười thật tươi, Hoàng ân cần hỏi:
– Đi bộ mệt không ?
Thục Uyên lắc đầu:
– Không đâu, ngày nào Uyên cũng đi vài miles mà.
– Thục Uyên có thường ăn ở đây không ?
– Không thường lắm ạ. Còn anh thì sao ?
Hoàng cười:
– Mỗi tuần vài lần thôi.
– Vậy là anh ăn hết các món ở Freshroll rồi hả ?
Hoàng nheo mắt:
– Còn phải hỏi!
Rồi tinh nghịch nói tiếp:
– Thục Uyên có muốn hỏi món nào ngon không ?
– Không cần hỏi đâu. Nhờ anh order giùm luôn.
Hoàng cười lớn:
– Ấy! Không nên! Không nên! Dù tôi vẫn nhớ Uyên thích món gỏi cuốn.
Thục Uyên ngạc nhiên:
– Trí nhớ của anh hay thiệt! Được đi ăn với anh có 2 lần ở Austin mà anh vẫn nhớ Uyên thích gỏi cuốn.
– Nhớ chứ, vì từ đó đến giờ tôi cũng thích món này luôn.
Mở mắt lớn nhìn Hoàng, Uyên hỏi:
– Thật vậy hả ?
Hoàng trêu:
– Không thật! Hơi nói dối đấy.
Thục Uyên cười theo:
– Anh vẫn không thay đổi gì cả sau bao nhiêu năm …
Hoàng vờ nghiêm mặt:
– Làm sao thay đổi được khi mình không muốn thay đổi.
Đánh nhẹ vào tay Hoàng, Uyên nói:
– Thiệt tình! Nghiêm chỉnh đi ông thầy.
– OK, nghiêm chỉnh đây. Thục Uyên muốn ăn gì ?
– Tiệm Freshroll thì có lẽ ăn spring roll là hợp lý, phải không ạ.

*

Ăn trưa xong, Hoàng rủ Thục Uyên ra công viên ngay sau lưng tiệm. Ngồi dưới bóng của một cây cổ thụ, hai người nhắc đến những ngày ở Austin. Rồi Hoàng cho biết là hiện đang ở tận San Jose, mỗi sáng đón train vào San Francisco làm việc, chiều lại đi train về. Chàng còn nói là chỉ làm thêm vài năm nữa thì về hưu. Thục Uyên thắc mắc:
– Gia đình anh thì sao ?
– Bây giờ anh ở một mình.
– Ủa! Sao vậy ?
– Tụi anh đang ly thân.
– Oh! Sorry, anh Hoàng.
– Không sao đâu, Thục Uyên!
– Em có thể hỏi tại sao không ?
Nhìn Thục Uyên, Hoàng ngần ngại, nói chậm :
– Có quá nhiều khác biệt giữa hai người.
– Sorry! …
Hoàng để tay lên vai Uyên, rồi lắc đầu:
– Chịu đựng nhau lâu quá và nhiều quá cũng không tốt, đâu Uyên.
– Vâng…
Thấy Hoàng im lặng hơi lâu, Thục Uyên nhắc:
– Anh cần trở lại sở chưa ?
– Không cần đâu. Anh đã nói với bà thư ký là anh nghỉ luôn chiều nay.
– Vậy sao ?
– Gặp lại Uyên anh mừng quá. Có nhiều chuyện cần nói với Uyên.
– Vâng.
Hoàng ngập ngừng:
– Có lẽ Uyên cũng biết cảm tình anh dành cho Uyên từ dạo còn ở Austin ?
Uyên lắc đầu:
– Em không hiểu rõ lắm đâu.
– Anh tưởng Uyên biết.
– Sao hồi đó anh không nói ?
– Anh thì có gia đình. Uyên thì luôn luôn khép kín. Rồi Uyên lập gia đình, anh tôn trọng Uyên nên phải giữ tình cảm trong lòng…
Thục Uyên nhìn Hoàng, chậm rãi nói:
– Có lẽ cứ để yên như vậy mà tốt đó, anh Hoàng.
Hoàng lắc đầu:
– Tới lúc mình cần phải sống cho chính mình Uyên ạ.

*

Tiễn Hoàng ở trạm xe lửa để về nhà chiều đó, Thục Uyên hứa sẽ gặp lại Hoàng cuối tuần tới ở San Jose để cùng lên tu Viện Kim Sơn đón Tết. Câu nói của Hoàng làm Thục Uyên suy nghĩ mấy ngày liền. Muốn lắm chứ, có một người bên cạnh trong tuổi xế chiều. Thèm lắm chứ, một vòng tay ôm khi trời trở lạnh. Nhưng những cơn ác mộng lại đến với nàng trong đêm vắng. Nỗi sợ hãi kinh hoàng khi thức dậy sau những cơn mơ hãi hùng làm nàng ngần ngại khi suy nghĩ về câu nói của Hoàng. Thục Uyên biết mình sẽ không thể sống hạnh phúc bên một người đàn ông nào cả, cũng như sẽ không mang lại hạnh phúc cho ai.
Ba năm nay, nàng đã thấy yên ổn hơn khi chia tay với chồng. Những cơn ác mộng thưa dần với thời gian. Nhưng gặp lại Hoàng rồi nghe lời đề nghị của chàng lại làm nàng nhớ lại những chuyện hãi hùng trên đại dương cách đây đã 30 năm. Những chuyện mà nàng đã cố gắng không nghĩ tới, những chuyện mà nàng không dám nhớ tới. Nước mắt lăn dài trên má, Thục Uyên biết cuối cuộc đời nàng sẽ chỉ là một người cô độc, lẻ loi mà thôi. Nàng không muốn thêm một người nào nữa phải chịu chung những khổ đau của nàng. Mùa Xuân đã thật sự từ giã nàng trên chuyến vượt biển tìm tự do năm xưa. Dưới chân nàng Wallee đang nằm ngủ ngon lành. Thân nhiệt của nó như đang sưởi ấm đôi chân lạnh ngắt của Thục Uyên. Có lẽ chỉ có Wallee là bạn đồng hành với nàng trong cuộc đời còn lại mà thôi.