Khởi Nghĩa Lam Sơn – Phần II

Khởi Nghĩa Lam Sơn

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt và sự thành lập nhà Hậu Lê.

Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn:

Hoạt động ở vùng núi Thanh Hoá(1418-1423)

Tiến vào phía nam (1424-1425)

Và chiếm lại Đông Quan (1426-1427).

Khởi nghĩa Lam Sơn – Phần I

Khởi Nghĩa Lam Sơn

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt và sự thành lập nhà Hậu Lê.

Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn:

Hoạt động ở vùng núi Thanh Hoá(1418-1423)

Tiến vào phía nam (1424-1425)

Và chiếm lại Đông Quan (1426-1427).

Chuyện Xóm Tôi

Jennifer qua chào để dọn nhà đi nơi khác. Cô nói, nhà chỉ để lên HAR.com có một hôm là bán được ngay. Cô nghĩ có lẽ vợ chồng cô đã không biết giá thị trường nên có thể bị hớ.  Người mua, trả hơn giá đòi, cả trước khi agent cắm biển bán nhà. Theo cô, có lẽ người mua đã tìm nhà trong khu này lâu rồi, nên thấy, là mua ngay. Tôi hỏi sao đang ở vui vẻ mà lại bán nhà gấp làm gì. Cô hỏi lại:

– Chị không biết gì thật sao ?

Tôi ngạc nhiên nhìn cô, lắc đầu:

– Chuyện gì vậy ?

Cô à một tiếng, rồi nói nhanh:

– À! Đúng rồi, từ khi anh về hưu, anh chị đi chơi nhiều quá nên không để ý chuyện trong xóm, phải không ?

Tôi lại giải bày:

– Chúng tôi dọn về đây 2 năm. Rất thích xóm này vì cảm thấy an toàn và gần khu Bellaire.  Lúc mới dọn vào đây, tôi cũng có tham dự những buổi họp hằng tháng của xóm, nhưng từ ngày ông xã về hưu thì tôi lại ít tham gia chuyện bên ngoài.  Có chuyện gì mà tôi chưa biết vậy ?

Cô xuống giọng:

– Mới đây, trong xóm đề nghị ông Mike lên làm “chủ xị”, chị có biết không ?

– Chuyện đó tôi có biết nhưng ai làm trưởng xóm thì tôi cũng không quan tâm lắm đâu.

– Vậy là chị không biết ông ấy nhiều rồi.

– Có phải ông Mike, “next door neighbor” của tôi không vậy?

– Đúng rồi.

– Chuyện ông Mike được đề nghị làm trưởng xóm có liên hệ đến việc cô bán nhà sao ?

– Đó là lý do chính tụi em bán nhà, đó chị à.

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

– Việc ông Mike được đề nghị làm trưởng xóm là lý do chính cô bán nhà dọn đi chỗ khác ? Tôi thật tình không hiểu.

Jennifer nhìn tôi với ánh mắt ái ngại, rồi hỏi lại:

– Khi biết có thằng ăn cắp ở ngay trong xóm, rồi thằng này lại được đề nghị làm trưởng xóm. Chị có thể không quan tâm hay dửng dưng được không ? Chị có cảm thấy an toàn nữa không ?

– Dĩ nhiên là không. Nhưng tôi vẫn chưa hiểu được ý của Jennifer.

Jennifer lắc đầu, nhìn tôi ngao ngán:

– Ý em là không chấp nhận sự kiện như vậy, nên em phải bán nhà, dọn ra khỏi xóm này.

Tôi đưa hai bàn tay lên ôm nguyên khuôn mặt của mình, che luôn đôi mắt trong vài giây, rồi bỏ tay xuống, mở mắt ra, nhìn Jennifer, hỏi:

– Rồi nơi khu nhà mới, nếu có người xấu, Jenni lại dọn nhà nữa sao ?

Cô lớn giọng trả lời:

– Tụi em ra thật xa thành phố, mỗi nóc gia có vài mẫu đất, không có ai làm chủ xóm cả, chị à.

– Jenni có điều kiện thì làm như vậy được chứ chúng tôi thì không, nên phải có cách khác.

– Cách gì vậy? Nói cho em nghe được không ?

Mời Jenni uống tiếp ly nước táo và chanh mới xay xong, tôi chậm rãi nói:

– Thì tránh họ ra thôi.

– Chị à, nó ở ngay bên cạnh, làm sao chị tránh được.

– Ở xứ này, nhà ai nấy ở, nếu tốt, gặp nhau thì mình chào, còn không thì làm lơ như mình không thấy.

– OK! Coi như chị tránh được đi, nhưng bây giờ một thằng không có tư cách như vậy lại làm chủ xị, thì chị nghĩ sao ?

Đưa tay lên vén những sợi tóc đang lòa xòa trước mắt, thay vì trả lời Jenni, tôi hỏi lại:

– Jenni có theo dõi cuộc bầu cử trong cộng đồng mình tháng trước không?

– Lúc đầu em cũng muốn theo dõi nhưng khi có ban bầu cử, mà trưởng ban lại là người bị tai tiếng trong cộng đồng nên em chán, không thèm để ý đến nữa.

– Jenni có biết kết quả cuộc bầu cử không ?

– Có.

– Jenni thấy sao ?

– It’s OK.

Tôi cười nhẹ, rồi chậm rãi nói:

– Ai cũng nói về người trưởng ban đó không tốt, có người còn phát cả tờ rơi, là bản copy những giấy tờ tội phạm của ông ta, nên rất nhiều người không tham gia cuộc bầu cử, vì vậy năm nay số người đi bầu ít hơn 3 năm trước cả 3 ngàn người. Dù vậy kết quả của cuộc bầu cử thì đa số đều vui mừng…

Không chờ tôi nói hết câu, Jenni nóng nảy cắt ngang:

– Chuyện bầu cử trong cộng đồng thì có dính dáng gì với chuyện trong xóm mình hả chị ?

– Tôi chỉ muốn đưa ra thí dụ để nói với Jenni rằng, biết đâu trong xóm mình có người đề nghị cho ông Mike làm trưởng xóm vì họ thấy kết qủa của cuộc bầu cử trong cộng đồng mình.

– Em không hiểu ý chị!

– Tôi nghe có người nói là người xấu, khi được làm việc tốt, thì họ sẽ làm tốt hơn người bình thường.

Cười lớn, cô lắc đầu lia lịa, rồi nói:

– Em không tin đâu chị.

– OK, cô không tin thì thôi nhưng ngoài lý do chính thì còn có lý do phụ nào nữa?

Yên lặng một lát, Jenni hỏi lại tôi:

– Chị có thấy trong xóm này “phe đảng” không ?

Không suy nghĩ, tôi lắc đầu đáp ngay:

– Không, tôi chẳng thấy ai phe đảng gì cả.

– Có lẽ chị ít để ý chuyện chung quanh. Thôi, vậy cũng tốt chị à.

Nói xong, Jenni đưa tay lên gãi đầu rồi tự dưng đổi đề tài:

–  Em muốn hỏi chị là chuyện cái bà cà chớn TV, mấy tháng trước, khi ra cộng đồng làm việc, lại dùng tên của chị, bị chị viết thư gửi đi khắp nơi, nên bà ấy bị người ta chê cười. Bây giờ ai gặp bà ấy cũng gọi là HV-China, đến đâu rồi?

– Tại sao lại gọi là HV-China?

– Thì China chuyên làm đồ giả đó mà chị.

Tôi phá ra cười:

– Thiệt tình! Tôi chưa biết chuyện này, đó nha. Còn cô hỏi chuyện đến đâu thì tôi cũng chịu, chẳng biết nó tới đâu nhưng dạo gần đây, tôi gặp bà ấy vài lần ngoài cộng đồng, tôi lờ bà ấy đi.

Jenni nhanh nhẩu:

– Em cũng có thấy bà ấy một lần trên chùa VN. Em chỉ cho chồng em, ảnh nói “Ối Giời! Kinh thật!”

Chạm nhẹ tay Jenni, tôi nói:

– Jenni biết không, khi bà ấy lấy tên tôi để ra cộng đồng sinh hoạt với cô DS trẻ kia thì lúc đầu tôi cũng khá ngạc nhiên vì bà ta tên là TV, tôi đã gặp bà ấy, đã liên lạc emails, đã phỏng vấn bà ta trong một phóng sự của chúng tôi. Bà đã tự giới thiệu tên là TV. Tôi lại quen biết với vài người bạn của bà ta, những người biết bà ấy từ lúc bà mới dọn đến đây …

Jenni ngắt lời tôi:

– Vậy mà chị không làm dữ thì em cũng thua chị luôn.

– Để làm gì hả Jenni?

– Vạch mặt ra cho mọi người biết, chứ chị.

Tôi lắc đầu:

– Đừng tưởng người ta không biết Jenni ạ. Phần đông người ta khinh cho đấy chứ. Nhiều người emailed, phoned, text cho tôi nói về bà ta không hay ho chút nào. Tôi chỉ giải thích là, khi người ta đã có ý gian thì mình có nói hay có làm gì đi nữa cũng không ngăn được họ đâu. Họ không còn biết ngượng ngùng nữa đâu. Nếu biết ngượng, là người có tư cách, đạo đức rồi, thì đã không “cầm nhầm” tên tuổi hay sản phảm của người khác.

Jenni không đồng ý, cãi lại:

– Chị à, không nói, những hạng người đó lại tưởng là không ai biết, không bao giờ bỏ thói ăn cắp.

– Có lẽ chẳng cần phải chờ đến mình nói đâu Jenni à.

– Là sao, chị ?

– Nếu là người ưa cầm nhầm thì chắc chắn họ cầm nhầm đồ đạc, sản phẩm của nhiều người, thì thế nào cũng có người không im lặng như mình đâu.

– Nhưng chị là người bị cầm nhầm cả cái tên mà không lên tiếng thì hơi lạ.

– Không lạ đâu, Jenni. Tôi cũng đã làm những gì cần làm rồi đó chứ. Nếu không, thì Jenni làm gì biết chuyện đó, phải không ?

– Không đâu chị, tại em thấy mấy đài truyền hình giới thiệu là HV, mà chiếu ra cái bà hắc ám gì đâu, không phải chị, nên em cũng thắc mắc và hỏi chị đó chứ.

Tôi hạ thấp giọng một tí:

– Jennie thấy đó, cái tên mình còn bị người khác cầm nhầm thì sá gì mấy cái bài mình viết, bị thiên hạ cầm nhầm, phải không ?

– Thật ra em thấy bà ta cũng khôn quá trời đi chứ ?

– Khôn ?

– Chị không thấy hả, thì chỉ cần mượn một cái tên đã “thành danh” trong cộng đồng, đặt cho mình, thì sẽ có nhiều người nhầm tưởng mình là tác giả của những “sản phẩm đã có sẵn trên thị trường.”

Tôi cười muốn tắt thở với ý nghĩ lạ lùng của cô bạn nhỏ hàng xóm, rồi đính chính:

– Làm gì mà “thành danh” hả, Jennie.  Vài cái truyện ngắn, vài tấm hình, vài bài phóng sự, thì có gì đâu mà Jenni nói là “thành danh” ! Nói vậy, “chúng” chửi cho tắt bếp luôn đó cô à.

Jenni cũng cười theo và phụ họa:

– Còn những chương trình Sử, chương trình thiếu nhi trên LSR chị đã làm cả chục năm nữa chi ?

Tôi nghiêm trang đáp lời Jenni:

– Chỉ là những việc nhỏ xìu xiu thôi cô em à. Thích thì làm thôi chứ có gì mà Jenni cho nhiều credit vậy?

Tôi vừa dứt lời, Jenni đã nói nhanh:

– Chị nói credit, làm em nhớ vài năm trước, sau khi anh chị có bài phóng sự về chợ chồm hổm ở nhà thờ La Vang, thì ngay sau đó, mấy đài truyền hình ở đây cũng làm phóng sự đó, mà “tục” nhất là đài GLB-TV. Họ “cầm” nguyên  bài của đài VOA, thêm vài chi tiết khác rồi làm thành của họ mà không nhắc một tiếng là mượn bài của anh.

Tôi lại cười:

– Thì họ sập tiệm rồi đó! Xét cho cùng thì tại họ không có người viết bài thôi.

– Không có người viết, đi lấy bài nơi khác thì phải để “nguồn” chứ, chị.

Tôi trầm ngâm:

– Lúc đầu tôi cũng có ý phiền giận vì sự không trong sáng của họ.  Họ có thể lấy bài nhưng ít ra phải để xuất xứ. Sau này, tôi nghiệm ra một điều là họ cần những lời khen, nên để “tiện việc sổ sách” thì khỏi ghi gì cả để những ai không biết, sẽ tưởng họ viết, họ làm from scratch, rồi khen thưởng họ. Thôi, mình bỏ qua cho họ đi nha. Chuyện chôm chôm, cầm nhầm thì ở khắp nơi rồi, không chỉ ở Tầu, VN và những xứ chậm tiến, mà ngay cả người sống lâu năm tại Mỹ, tại Úc, cũng có không ít người mang chứng bệnh trầm kha này. Chừng nào Jenni dọn nhà?

– Cuối tuần này rồi chị.

– Tôi rất tiếc là vợ chồng Jenni dọn đi nơi khác. Nếu biết trước, tôi đã năn nỉ Jenni đừng bán nhà.

– Cám ơn chị, nhưng mọi việc đã xong rồi.

Đưa Jenni ra cửa, tôi nói trong tiếc nuối:

– Về đây được hai năm, tôi rất vui được quen biết với Jennie. Tôi mong rằng sau này sẽ có dịp ở gần với Jenni.

Cầm tay tôi, Jennie ngập ngừng:

– Em cũng mong có dịp ở gần chị. Biết đâu chừng, khi tụi em lớn tuổi, cũng sẽ dọn về lại gần đây cũng nên.

– Chúc Jenni vui với căn nhà mới và mong mọi điều tốt lành sẽ đến với gia đình cô./.

 

Xuân Trong Cửa Thiền

 

Sau hơn một tuần lễ làm việc với con số, kiểm tra sổ sách một công ty dầu, trong chuyến công tác đến thành phố nhỏ miền trung Mỹ, vào những tuần đầu tháng Hai của năm dương lịch, Thanh tìm được địa chỉ một ngôi chùa trong cuốn điện thoại niên giám. Không ngại cái lạnh triền miên của những ngày mùa đông, với cơn mưa tuyết vừa chấm dứt chiều hôm trước, Thanh quyết định lái xe đến đó để tìm không khí Tết trong lúc phải xa gia đình vào những ngày cuối năm âm lịch.

Trải qua những đoạn đường đông đá, cuối cùng thì cô cũng đến được ngôi chùa nhỏ, nằm khuất dưới những tàng cây không còn lá, trong khuôn đất rộng, với tấm biển nhỏ Tịnh Xá Thanh Lam bên ngoài hàng rào. Sáng sớm thứ Sáu, bãi đậu xe vắng vẻ, Thanh cẩn thận từng bước trên mặt sân còn trơn ướt. Mùi trầm hương thoang thoảng khi cô đến gần cửa. Định đưa tay gõ nhẹ cánh cửa bên góc trái, nhưng hàng chữ nhỏ đập vào mắt cô “Cửa mở, mời vào”.

Đẩy nhẹ cửa, hình ảnh một tu sĩ đang ngồi yên lặng trước bàn thờ Phật, quay lưng lại cửa ra vào, làm Thanh hơi khựng lại. Cô bỏ giày, khép nhẹ cửa, đi vào bên trong. Vị tu sĩ như không hề biết sự hiện diện của cô. Ngước nhìn tượng Phật màu trắng với khuôn mặt thanh thoát, Thanh cúi đầu, lễ ba lạy, rồi ngồi xuống phía cuối chánh điện.

Không biết Thanh đã ngồi đó bao lâu, nhưng khi cô bắt đầu xả thiền thì bắt gặp một ánh mắt trong sáng, hiền từ đang nhìn cô. Cô chắp tay chào, nhưng vị tu sĩ ra dấu, bảo cứ thong thả xả thiền. Chờ cô xả thiền xong, vị tu sĩ lên tiếng:

– Đạo hữu đến chùa sớm vậy có lạnh không ?

Thanh gật đầu:

– Vâng, trời ở đây lạnh quá!

– Đạo hữu từ đâu đến ?

– Dạ từ California.

Vị sư nhìn cô, hỏi:

– Đạo hữu mới dọn đến thành phố này ?

– Dạ không, con chỉ công tác ở đây vài tuần.

– Làm sao biết Chùa mà đến ?

Thanh bẽn lẽn:

– Dạ con coi trong cuốn điện thoại niên giám.

Với nụ cười thật hiền, vị sư hỏi tiếp:

– Sớm quá, có lẽ đạo hữu cũng chưa dùng điểm tâm, mời đạo hữu dùng sáng nhé?

Thấy Thanh có vẻ ngại ngùng, sư lên tiếng:

– Đừng ngại, tới chùa thì cứ tự nhiên.

Buổi điểm tâm với bánh tét nhân đậu xanh và dưa món chay làm Thanh chạnh nhớ những ngày Tết ở quê nhà. Nơi xứ lạ, dù khí hậu lạnh lẽo những ngày trước Tết, nhưng trong lòng Thanh rộn ràng ấm áp khi được biết Thanh Lam là chùa sư nữ.

Với nét mặt dịu hiền nhưng trong sáng, cùng với làn da trắng mịn màng, sư Diệu Hiền nhìn như chưa tới bốn mươi. Thanh không nhớ là mình đã gặp khuôn mặt thanh tú này ở đâu, chỉ biết là nhìn rất quen thuộc. Trí nhớ của Thanh không giúp nàng nhận diện được người trước mặt. Có lẽ vì giọng nói hiền hòa từ tốn của sư Diệu Hiền nên dù mới gặp, Thanh không ngần ngại chia sẻ vài chuyện rất riêng tư để rồi biết ra sư Diệu Hiền là cô Thục Hiền, em của cha Thanh, đã trốn gia đình, xuất gia gần 40 năm trước.

***

Những ngày cận Tết Quý Sửu (1973), Sàigòn có những cơn gió mát nhẹ làm Thục Hiền thêm hồi hộp trong sự đợi chờ. Mới ngày nào, tiễn Hoàng đi du học mà giờ đây chàng sắp về thăm gia đình. Hoàng là bạn của anh kế Thục Hiền, hay đến nhà học thi với anh nàng. Hoàng bày tỏ tình cảm qua những cử chỉ ân cần săn sóc, qua những ánh mắt tình tứ. Rồi khi xa nhà, những lá thư xuyên đại dương trong ba năm trời, gói trọn mối tình đầu của Thục Hiền. Những dòng chữ yêu thương, hứa hẹn, giúp nàng thoát được sự mai mối của người thân quen. Trước khi lên máy bay đi Đức, Hoàng đã nắm tay nàng nói nhỏ “Chờ anh nhé!” Chỉ ba chữ đó thôi mà Thục Hiền coi như lời hứa hôn và nàng đã hạnh phúc gật đầu với nước mắt rưng rưng.

Là con út trong một gia đình đông anh em, Thục Hiền lớn lên cùng các con của anh chị nàng. Có cháu còn ra đời trước cả Thục Hiền vài năm. Các cháu giỏi giang hơn dì út. Cô cháu gái Thục Vi, con bà chị cả, xinh đẹp thi đâu đậu đó, mới vào trường Dược được hai năm và đang có bạn trai là con của một luật sư nổi tiếng trong thành phố. Lúc Hoàng rời nước, Thục Vi chỉ 17 tuổi,  học lớp đệ nhị trung học (lớp 11). Thục Vi thương và rất gần gũi dì út Thục Hiền.

Lòng rộn ràng, Thục Hiền nôn nao chờ đợi. Nàng đếm từng ngày, từng phút, từng giây để ra phi trường đón người yêu. Tháng ngày chờ đợi dài vô tận nhưng nàng sống trong niềm hạnh phúc không cùng.  Ngày Hoàng về thăm nhà, Thục Hiền lại không được ra Tân Sơn Nhất đón người yêu vì mẹ Thục Vi nói xe không đủ chỗ ngồi, nhưng Thục Vi thì được theo mẹ ra phi trường.

Không ai biết được chuyện gì xảy ra trên chuyến xe từ Tân Sơn Nhất về nhà Hoàng, trong Chợ Lớn, ngày hôm đó, mà chỉ một tuần lễ sau là đám hỏi của Thục Vi và Hoàng. Đám cưới cử hành hai tuần sau đám hỏi. Và Hoàng trở lại Đức sau đám cưới một tuần. Bà con họ hàng thân hữu, bàn tán không dứt về cuộc hôn nhân lạ lùng này. Người thì cho rằng cưới như chạy tang, dù trong gia đình không có người chết. Người thì nói “chị giật chồng sắp cưới của em út cho con gái”. Có người chê Thục Vi cướp người yêu của dì út, nhưng có kẻ lại chê Hoàng ham vợ trẻ và giàu mà phụ người yêu. Người khách quan hơn thì cho rằng thời buổi loạn ly, ai lại không muốn tìm cách cho con đi ngoại quốc …

Không biết có phải là để tránh những bàn tán xôn xao về mình, hay là quá thất vọng vì sự thay đổi của người yêu, mà một ngày, sau khi Hoàng trở lại Đức, Thục Hiền cũng bỏ nhà ra đi. Trong bức thư để lại cho gia đình, Thục Hiền chỉ xin đừng tìm kiếm nàng, và hứa sẽ không làm tổn hại bản thân để khỏi phụ công ơn sinh thành dưỡng dục của song thân…

***

Trong lúc sư Diệu Hiền châm thêm trà vào tách cho Thanh, cô chậm rãi hỏi:

– Sao lúc đó Sư Cô lại bỏ nhà ra đi ?

Cười nhẹ, sư lắc đầu, rồi nói:

– Lúc đó bà con họ hàng bàn tán dữ quá, mẹ của Thục Vi thì bị bà con xỉ vả. Ai gặp, cũng đem chuyện đó ra hỏi, mà Cô thì không muốn thấy Thục Vi buồn. Bác Thiềm, mẹ của Vi, lại là chị cả trong nhà, nên cô chỉ muốn tránh mặt một thời gian.

– Cô vào Chùa từ lúc đó ?

– Chuyện khá dài dòng, cháu ạ. Lúc đó cháu còn nhỏ quá mà.

– Vâng, cháu mới 6 tuổi. Cô có buồn khi anh Hoàng cưới chị Thục Vi không ?

– Có chứ! Không những buồn mà còn thất vọng, hụt hẫng nữa. Từ lâu lắm rồi, Cô đã theo Bà đến Chùa lễ Phật.  Sau khi chú Hoàng đi Đức học, cô lại đến chùa nhiều hơn. Lúc đó, cô chưa biết gì về đạo Phật, chỉ đến lễ Phật và cầu nguyện mà thôi. Đến khi chú Hoàng về thăm nhà và cưới Thục Vi, rồi trở lại Đức để hoàn tất việc học, thì bác Thiềm thấy cô buồn quá nên lại làm mai, làm mối nhiều người khác cho cô …

– Ủa, sao lạ vậy ? Bác Thiềm có giải thích với cô vì sao anh Hoàng lại cưới chị Vi không ?

– Không, cháu ạ.

– Cô có hỏi anh Hoàng hay chị Vi không ?

– Cô không hỏi, nhưng Vi có nói với cô là “Me dàn xếp mọi chuyện”. Chú Hoàng thì tránh gặp mặt cô.

– Lúc đó cháu nhỏ quá, không biết gì hết. Đám cưới chị Vi xong thì cũng chẳng thấy cô đâu. Mãi sau này lớn lên, cháu nghe Bố Mẹ nói cô đi tu ngoài Đà Nẵng. Họ hàng nói cháu giống cô nhất nhà.

– Ừ, cháu giống cô lúc trẻ.

– Có lẽ vì vậy mà lúc nãy cháu cứ thấy cô quen quen.

– Cô cũng nghi là có liên hệ, khi mới thấy cháu.

– Cô đến Mỹ từ bao giờ ?

– Cũng hơn hai mươi năm rồi, cháu.

– Trong nhà, ai cũng tưởng cô vẫn còn ở Việt Nam.

Sư Diệu Hiền nhìn Thanh, chậm rãi nói:

– Cô nào có định đi khỏi Việt Nam đâu. Thời đó người Việt mình vượt biên chết nhiều quá nên Phật tử trong chùa năn nỉ cô đi với họ. Họ tin là có cô thì mọi việc sẽ hanh thông.

– Cô có biết Bố chết không ?

– Cô có nghe là Bố mất trong tù.

– Vâng, bị đi “trại cải tạo” đó cô.

– Mẹ cháu bây giờ ra sao ?

– Mẹ cháu cũng mất rồi cô.

– Mẹ cháu mất lúc nào ?

– Dạ qua đây mới mất.

– Mẹ cháu hiền, chị dâu mà thương cô hơn cả chị ruột.

– Cháu nghe mẹ kể là hồi đó mẹ đi kiếm cô quá chừng.

– Cô có biết, nhưng cô tránh gặp.

Nhìn sư Diệu Hiền thật lâu, Thanh ngập ngừng hỏi:

– Cô còn nhớ hay buồn chuyện ngày xưa không, cô ?

Lắc đầu, sư Diệu Hiền chậm rãi trả lời Thanh:

– Nếu nói quên chuyện xưa là không nói thật, nhưng buồn thì không, cháu ạ. Cô cho rằng cô có duyên đi tu nên mới xui đẩy những chuyện như thế.

– Là sao, cô ?

Sư Diệu Hiền trầm ngâm một lúc rồi thong thả nói:

– Cô phải thú thật là lúc đầu Cô đi tu vì thất vọng nhưng về sau cô hiểu ra và cảm ơn những người đã mang lại sự khổ đau ban đầu đó, bởi vì những bất hạnh đó mở ra một cuộc đời mới cho cô. Sự tu hành làm cô giảm đi Ái Nghiệp và hiểu được lý Nhân Duyên. Cô nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc đời, của tình yêu. Bây giờ trong sự thanh thản, cô đang cố theo gương Đức Phật, mang tâm Từ Bi trải cho mọi người và mọi loài. Có lẽ cháu không tin đâu, cô cũng không muốn nói nhiều về lý thuyết nhưng cháu cứ thử đi, ráng tu tập và cầu nguyện đức Phật Tự Tâm, cháu sẽ hiểu cô và có được sự nhẹ nhàng và hạnh phúc khi mình mang Tâm Từ trải rộng cho muôn loài, chứ không khép kín trong sự yêu thương đôi lứa hay trong họ hàng thân thuộc.

Thanh vẫn nghi ngờ, hỏi thêm:

– Tết đến rồi ở chùa Cô không buồn sao?

Ni sư Diệu Hiền mỉm cười, dịu dàng trả lời:

– Với người tu, thời gian và không gian không còn ảnh hưởng. Ngày xưa thiền sư Chân Không đời Lý có câu thơ này mà cô rất tâm đắc, cô đọc lại cho cháu nghe này:

“Xuân đến Xuân đi ngờ Xuân hết

Hoa nở Hoa tàn chỉ là Xuân”

Thành thử ra tất cả là tùy Tâm mình. Xuân, thu, ở Mỹ hay Việt Nam, nếu Tâm an thì lúc nào, ở đâu cũng là mùa xuân trên quê hương mình cả.

Thanh nhìn Sư Cô Diệu Hiền mà lòng cảm thấy an tịnh lạ thường. Nàng cảm thấy Mùa Xuân đang thực sự trở về dù thời tiết đang là những ngày cuối đông lạnh giá./.

 

Please! Be My Valentine!

Sáng sớm cuối Đông, trời còn hơi lạnh, mới hơn 5 giờ, Hoàng Uyên đã ngồi đọc báo trong lúc uống coffee. Nghe như có tiếng chân ai rón rén đến gần, nhưng cô vẫn không ngẩng đầu lên.
– Good Morning! – Chào Buổi sáng –

Tiếng chào quen thuộc làm Hoàng Uyên ngạc nhiên. Ngừng đọc báo, cô ngước lên nhìn, mỉm cười với người vừa chào mình, rồi đáp:
– Good Morning! Alex. Sao dậy sớm vậy ?

Alex với dáng rụt rè, hai tay giấu sau lưng, ngập ngừng:
– I don’t know. – Không biết! –

Hoàng Uyên hỏi:
– Alex có gì sau lưng đó ?

Lắc đầu nguầy nguậy, Alex nói thật nhanh:
– Nothing ! – Đâu có gì đâu!

Hoàng Uyên cười:
– OK! Không có gì !

Alex tiến đến gần Hoàng Uyên, rồi bất ngờ đưa hai tay đang giấu sau lưng, ra trước mặt Hoàng Uyên, nói nhanh:
– Happy Valentine!

Hoàng Uyên ngạc nhiên nhìn Alex, rồi nhìn vào nhánh hoa dại, và tấm thiệp trong tay Alex. Tấm thiệp tự làm với tờ giấy trắng, xé từ một cuốn tập nào đó, vẫn còn vết răng cưa, được xếp làm tư.

Xúc động, Hoàng Uyên đưa tay nhận, rồi từ từ mở tấm thiệp. Hình trái tim vẽ vụng dại, với hàng chữ viết nguệch ngoặc bằng Crayon …. “Please! Be My Valentine!”

Nước mắt dàn dụa trên má, Hoàng Uyên cúi xuống, bế Alex lên, nghẹn ngào chưa nói được gì, thì Alex đã lên tiếng:

– Pl…e…a…s…e…! Mommy … Please! Be my Valentine!

Hôn con liên tiếp mấy cái, Hoàng Uyên chậm rãi nói:

– Thank you so much, Alex! You are My Valentine!

Xuân Lẻ Loi

– Thục Uyên! Thục Uyên!…
Tiếng gọi ngạc nhiên chen lẫn ngỡ ngàng làm Thục Uyên ngơ ngác nhìn quanh. Wallee cũng rộn ràng chạy loay hoay dưới chân nàng như tìm kiếm. Đứng trong đoàn người hối hả vừa từ Caltrain Station túa ra để đến sở làm vào sáng sớm mùa đông của San Francisco, Thục Uyên nghe âm thanh của tên mình thật xa lạ với chính nàng. Ai mà biết mình giữa thành phố chưa quen vào buổi sáng tinh sương này ? Ý nghĩ đến nhanh trong đầu nàng, rồi tưởng mình đang mơ, Thục Uyên chăm chú nhìn vào đèn đường. Khi thấy dấu hiệu “đi” sáng lên trên cột đèn giao thông, Thục Uyên cúi xuống, lắc nhẹ chiếc dây trong tay, nối liền với cái vòng trên cổ của Wallee, nói:
– Wallee, ngoan nào, đi …
Thục Uyên chưa dứt lời, thì nghe một giọng nói thật ấm ngay sau lưng:
– Phải Thục Uyên không ?
Nàng hốt hoảng xoay nhanh người lại để bắt gặp một khuôn mặt đàn ông đang đối diện với mình. Người đàn ông nhìn nàng rồi đưa một tay ra như muốn choàng qua vai Thục Uyên. Nàng mừng rỡ reo lên:
– Ô! Anh Hoàng! Anh Hoàng hả ?
Người đàn ông xiết nhẹ vai nàng, gật đầu, rồi dồn dập hỏi nhanh:
– Sao Thục Uyên lại ở đây ? Qua đây lâu chưa ? Ở với ai ở đây ? Sáng sớm còn lạnh như vậy mà đi đâu đây ? …
Vừa hỏi Hoàng vừa kéo nàng đi nhanh theo đoàn người băng qua đường trong khi Wallee ngoan ngoãn chạy theo.
Vẫn nắm tay Thục Uyên khi đã đứng nép vào gần thân cây cherry bên góc đường, để nhường lối cho khách bộ hành, Hoàng nhìn xuống chú chó nhỏ lẩn quẩn dưới chân nàng, hỏi tiếp:
– Thục Uyên có chú chó đẹp quá!
– Thanks, nhưng Wallee là của Quang.
Hoàng ngạc nhiên:
– Cháu Quang ở San Francisco à ?
– Vâng, cháu ở đây từ lúc ra trường.
– Gần đây không ?
– Dạ 2 blocks.
Nhìn Thục Uyên, Hoàng tiếp lời:
– Thục Uyên chưa trả lời mấy câu hỏi của anh.
– Anh hỏi nhiều và nhanh quá, lại phải băng qua đường …
Hoàng cười:
– OK! OK! Xin lỗi! Tại bất ngờ quá!
Thục Uyên hỏi lại:
– Anh đi đâu mà lại thấy và nhận ra Uyên ?
– Đi làm. Vừa xuống train, đang đi vội để đến văn phòng thì chợt thấy có dáng ai quen quen. Tưởng là một cô Tàu nào, nhưng khi thấy gió làm bay nón của cái áo, rồi tóc dài bị gió thổi, anh ngờ ngợ là Uyên. Bèn gọi thử thì thấy “cô Tàu” nhìn quanh nên biết là Thục Uyên. Còn Uyên đi đâu với Wallee sớm vậy ?
Thục Uyên cười bẽn lẽn:
– Sáng nào Uyên cũng dắt Wallee đi một vòng…
– Ủa bao lâu rồi? Sao hôm nay anh mới thấy ? Anh vẫn đi con đường này từ mấy năm nay rồi mà.
Thục Uyên lắc đầu:
– Cũng mới đây thôi, nhưng mọi lần thì đi về hướng đường số 5. Sáng nay Quang text khi vừa đến sở, nói đừng đi hướng đó vì có tai nạn bắn nhau gì đó, nên Uyên đi ngược lại hướng đường số 3…
Hoàng reo lên:
– Ô! Hên quá, nhờ vậy anh mới gặp được Uyên.
Thục Uyên nhìn vội xuống chiếc đồng hồ trên tay mình, hỏi:
– Anh nói chuyện có trễ giờ làm không? Văn phòng gần đây không?
Hoàng đáp nhanh:
– Cách đây 10 blocks. Sáng nay anh có một buổi họp quan trọng rất sớm nên bây giờ phải xin Uyên địa chỉ của cháu Quang, và số phone của Uyên, khi họp xong, anh sẽ gọi và đến nhà cháu Quang, gặp Uyên nhé.
Ghi số phone và địa chỉ xong, Hoàng đưa tay ra nắm lấy bàn tay Thục Uyên bóp nhẹ, nói:
– OK, anh phải chạy, lát nữa anh gọi.
Nhìn theo Hoàng nhập vào đám đông trên đại lộ Brannan, đi về hướng Downtown, Thục Uyên vẫn không tin được những gì vừa xảy ra. Nàng chậm rãi cúi xuống bế Wallee lên, vỗ nhẹ vào đầu nó, rồi quay người lại, đi về hướng nhà Quang.

*

Suốt buổi họp, tâm trí Hoàng bị chi phối vì cuộc gặp gỡ tình cờ với Thục Uyên. Hơn mười năm trời không gặp mà nàng không hề thay đổi và chàng thì vẫn xúc động dạt dào khi gặp lại. Hình ảnh Thục Uyên những ngày còn là sinh viên của trường UT hiện ra như những thước phim quay chậm trong đầu Hoàng. Cô sinh viên nhỏ nhắn, tóc dài nhưng luôn cột cao, làm cho khuôn mặt càng thêm thanh tú, đã khiến chàng giáo sư rung động mỗi lần cô hỏi bài. Dù ái mộ nàng đến đâu thì Hoàng cũng không thể bày tỏ cảm tình của mình vì chàng đã có gia đình. Suốt 4 năm học tại Austin, Thục Uyên vẫn một mình chăm chỉ học, không tham dự những cuộc vui của bạn cùng lứa. Có nhiều lần, Hoàng đã cố gợi chuyện để tìm hiểu về nàng, nhưng Thục Uyên khá kín đáo nên Hoàng không biết nhiều về cô. Chỉ có một lần, vì không hiểu nhiều chữ Anh ngữ, cô mới tâm sự là chỉ mới đến Mỹ vài năm trước đó. Và rồi do một tình cờ, chàng đã biết được là trên đường vượt biển tìm tự do, tàu của Thục Uyên đã gặp hải tặc. Học xong, Thục Uyên có việc làm ở Houston rồi lập gia đình. Hoàng vẫn theo dõi cuộc sống của nàng và biết nàng không hạnh phúc với chồng dù họ có một con trai. Rồi họ chia tay cách đây ba năm, trước khi Quang học xong.
Những giòng tư tưởng chạy lung tung trong đầu Hoàng cho đến khi xong buổi họp, chàng vội ra ngoài để gọi cho Thục Uyên. Cuối cùng thì hẹn được với nàng tại nhà hàng Freshroll, ngay trên đường số 4, chỉ cách nhà Quang vài blocks đường.

*

Thục Uyên nghiêng bên phải, nhìn qua trái trước tấm gương, rồi thêm chút phấn hồng, tí môi son, tí bút chì trên đường viền mắt, trên hàng lông mày… cho tới khi bằng lòng với những gì nàng thấy, mới bước ra khỏi phòng tắm. Nàng tự hỏi tại sao mình lại “điệu” đến thế. Lâu lắm rồi nàng không dùng tới những hộp mỹ phẩm này, nhất là từ lúc dọn đến San Francisco vì nàng chẳng đi đâu ngoài việc dắt Wallee ngày hai lần ra đường và đi mua thực phẩm cho mẹ con nàng. Thục Uyên không có người quen biết nào ở đây, ngoài Quang. Nàng quyết định về hưu ở tuổi 50 để theo con qua thành phố Cựu Kim Sơn sống.
Thục Uyên nghe mình tự hỏi, là đi gặp và ăn trưa với một người quen ngày xưa thì tại sao phải rộn ràng, cuống quít như vậy. Nàng mỉm cười khi nghĩ tới người giảng sư của đại học Austin năm nào đã chiếm nhiều cảm tình của nàng thuở ấy nhưng chưa hề có một hẹn hò giữa hai người. Cuộc hành trình kinh hoàng trên biển cả để tìm tự do, đã mang lại tâm trạng sợ hãi cho nàng khi gặp những người khác phái. Nàng nhớ lại những ngày đến trường trong cô đơn ở thủ phủ Austin của tiểu bang Texas đã làm nàng suýt bỏ học mấy lần, nhưng rồi nàng cũng qua được những lúc buồn chán để quyết chí học hành. Với sự giúp đỡ không ít của người giáo sư tốt bụng tên Hoàng, cuối cùng thì nàng cũng học xong. Thục Uyên biết Hoàng có gia đình và tình cảm giữa hai người cũng rất chừng mực, tuy nhiên, những lần ngồi nghe Hoàng kiên nhẫn giảng bài cho mình, Thục Uyên không khỏi xúc động.
Với mảnh bằng cử nhân của UT- Austin, Thục Uyên có việc làm ở Houston. Tại đây nàng gặp và kết hôn với một đồng nghiệp. Dù Thục Uyên đã không dấu diếm chồng về tai họa khủng khiếp nàng gặp trên biển cả, nhưng cuộc hôn nhân cũng bị ảnh hưởng nặng nề vì chuyện đó. Có lẽ những cơn ác mộng thỉnh thoảng đến với nàng ban đêm đã làm phiền lòng người phối ngẫu. Nhưng làm sao nàng có thể bảo lòng đừng nhớ đến những tai họa kinh hoàng đó! Rồi cuối cùng họ phải chia tay khi Quang vẫn còn chưa học xong cử nhân…

*

Từ ngã tư đường Howard, Thục Uyên đã thấy Hoàng đứng chờ trước tiệm Freshroll, không dưng tim nàng đập nhanh hơn bình thường. Hơi bối rối, nàng chợt mỉm cười một mình. “Lạ thật! Sao mình giống người say vậy nè?”, Thục Uyên lẩm bẩm, rồi đi nhanh hơn.
Đón nàng với nụ cười thật tươi, Hoàng ân cần hỏi:
– Đi bộ mệt không ?
Thục Uyên lắc đầu:
– Không đâu, ngày nào Uyên cũng đi vài miles mà.
– Thục Uyên có thường ăn ở đây không ?
– Không thường lắm ạ. Còn anh thì sao ?
Hoàng cười:
– Mỗi tuần vài lần thôi.
– Vậy là anh ăn hết các món ở Freshroll rồi hả ?
Hoàng nheo mắt:
– Còn phải hỏi!
Rồi tinh nghịch nói tiếp:
– Thục Uyên có muốn hỏi món nào ngon không ?
– Không cần hỏi đâu. Nhờ anh order giùm luôn.
Hoàng cười lớn:
– Ấy! Không nên! Không nên! Dù tôi vẫn nhớ Uyên thích món gỏi cuốn.
Thục Uyên ngạc nhiên:
– Trí nhớ của anh hay thiệt! Được đi ăn với anh có 2 lần ở Austin mà anh vẫn nhớ Uyên thích gỏi cuốn.
– Nhớ chứ, vì từ đó đến giờ tôi cũng thích món này luôn.
Mở mắt lớn nhìn Hoàng, Uyên hỏi:
– Thật vậy hả ?
Hoàng trêu:
– Không thật! Hơi nói dối đấy.
Thục Uyên cười theo:
– Anh vẫn không thay đổi gì cả sau bao nhiêu năm …
Hoàng vờ nghiêm mặt:
– Làm sao thay đổi được khi mình không muốn thay đổi.
Đánh nhẹ vào tay Hoàng, Uyên nói:
– Thiệt tình! Nghiêm chỉnh đi ông thầy.
– OK, nghiêm chỉnh đây. Thục Uyên muốn ăn gì ?
– Tiệm Freshroll thì có lẽ ăn spring roll là hợp lý, phải không ạ.

*

Ăn trưa xong, Hoàng rủ Thục Uyên ra công viên ngay sau lưng tiệm. Ngồi dưới bóng của một cây cổ thụ, hai người nhắc đến những ngày ở Austin. Rồi Hoàng cho biết là hiện đang ở tận San Jose, mỗi sáng đón train vào San Francisco làm việc, chiều lại đi train về. Chàng còn nói là chỉ làm thêm vài năm nữa thì về hưu. Thục Uyên thắc mắc:
– Gia đình anh thì sao ?
– Bây giờ anh ở một mình.
– Ủa! Sao vậy ?
– Tụi anh đang ly thân.
– Oh! Sorry, anh Hoàng.
– Không sao đâu, Thục Uyên!
– Em có thể hỏi tại sao không ?
Nhìn Thục Uyên, Hoàng ngần ngại, nói chậm :
– Có quá nhiều khác biệt giữa hai người.
– Sorry! …
Hoàng để tay lên vai Uyên, rồi lắc đầu:
– Chịu đựng nhau lâu quá và nhiều quá cũng không tốt, đâu Uyên.
– Vâng…
Thấy Hoàng im lặng hơi lâu, Thục Uyên nhắc:
– Anh cần trở lại sở chưa ?
– Không cần đâu. Anh đã nói với bà thư ký là anh nghỉ luôn chiều nay.
– Vậy sao ?
– Gặp lại Uyên anh mừng quá. Có nhiều chuyện cần nói với Uyên.
– Vâng.
Hoàng ngập ngừng:
– Có lẽ Uyên cũng biết cảm tình anh dành cho Uyên từ dạo còn ở Austin ?
Uyên lắc đầu:
– Em không hiểu rõ lắm đâu.
– Anh tưởng Uyên biết.
– Sao hồi đó anh không nói ?
– Anh thì có gia đình. Uyên thì luôn luôn khép kín. Rồi Uyên lập gia đình, anh tôn trọng Uyên nên phải giữ tình cảm trong lòng…
Thục Uyên nhìn Hoàng, chậm rãi nói:
– Có lẽ cứ để yên như vậy mà tốt đó, anh Hoàng.
Hoàng lắc đầu:
– Tới lúc mình cần phải sống cho chính mình Uyên ạ.

*

Tiễn Hoàng ở trạm xe lửa để về nhà chiều đó, Thục Uyên hứa sẽ gặp lại Hoàng cuối tuần tới ở San Jose để cùng lên tu Viện Kim Sơn đón Tết. Câu nói của Hoàng làm Thục Uyên suy nghĩ mấy ngày liền. Muốn lắm chứ, có một người bên cạnh trong tuổi xế chiều. Thèm lắm chứ, một vòng tay ôm khi trời trở lạnh. Nhưng những cơn ác mộng lại đến với nàng trong đêm vắng. Nỗi sợ hãi kinh hoàng khi thức dậy sau những cơn mơ hãi hùng làm nàng ngần ngại khi suy nghĩ về câu nói của Hoàng. Thục Uyên biết mình sẽ không thể sống hạnh phúc bên một người đàn ông nào cả, cũng như sẽ không mang lại hạnh phúc cho ai.
Ba năm nay, nàng đã thấy yên ổn hơn khi chia tay với chồng. Những cơn ác mộng thưa dần với thời gian. Nhưng gặp lại Hoàng rồi nghe lời đề nghị của chàng lại làm nàng nhớ lại những chuyện hãi hùng trên đại dương cách đây đã 30 năm. Những chuyện mà nàng đã cố gắng không nghĩ tới, những chuyện mà nàng không dám nhớ tới. Nước mắt lăn dài trên má, Thục Uyên biết cuối cuộc đời nàng sẽ chỉ là một người cô độc, lẻ loi mà thôi. Nàng không muốn thêm một người nào nữa phải chịu chung những khổ đau của nàng. Mùa Xuân đã thật sự từ giã nàng trên chuyến vượt biển tìm tự do năm xưa. Dưới chân nàng Wallee đang nằm ngủ ngon lành. Thân nhiệt của nó như đang sưởi ấm đôi chân lạnh ngắt của Thục Uyên. Có lẽ chỉ có Wallee là bạn đồng hành với nàng trong cuộc đời còn lại mà thôi.

Một Chuyến Đi

San Francisco và…
Những Người Đàn Ông… Của Tôi

Cánh cửa vừa khép lại sau lưng, cơn gió lạnh làm tôi rùng mình, chợt thấy như tiếc nuối không khí ấm áp, thân mật với ánh sáng mờ mờ ảo ảo tỏa ra từ những ngọn nến hồng, được chưng trên mỗi bàn của tiệm ăn Asha. Bữa cơm tối với món canh chua Thái cay và nóng chỉ còn là “dư âm”.

Tôi quay qua nhìn ba người đàn ông đang vui vẻ chuyện trò. Họ bận cười, bận nói, bận trêu nhau, không ai thấy tôi đang co ro vì lạnh. Tôi lên tiếng:
– Lạnh quá!
Người đàn ông thứ nhất nheo mắt:
– Có lạnh gì đâu!
Tôi cãi lại
– Lạnh mà !
Ông cười, hỏi:
– Có cần ôm không?
Tôi lắc đầu nguầy nguậy:
– Vớ vẩn!
Người đàn ông thứ hai nhìn tôi như thương hại:
– Chắc là… ốm rồi, mát như vậy mà kêu lạnh!
Người đàn ông thứ ba, nói nhanh:
– Chỉ vài blocks là đến trạm BART, sẽ ấm liền đó mà.
Nói xong, cầm tay tôi, kéo đi, rồi tiếp:
– Lạnh thì phải đi nhanh, cho ấm, biết chưa?

Hồi chiều, lúc chưa lạnh lắm, người đàn ông thứ ba đưa cho tôi cái áo jacket vì: “cầm mỏi tay quá”, nhưng trước khi ra khỏi tiệm ăn, đã không nhờ tôi cầm giúp nữa vì sợ tôi… mỏi tay. Người đàn ông thứ nhất thấy tôi bị kéo, lên tiếng can thiệp:
– Đừng kéo mạnh quá, cô ấy (she) ngã đấy.
Người đàn ông thứ hai trêu:
– Có cần bế không?
Sợ bị bế giữa đường phố đông người, tôi hét lên:
– KHÔNG!
Ba người đàn ông cười lớn. Người đàn ông thứ hai quay qua nhìn người thứ ba, hỏi:
– Có biết chuyện ngày xưa cô ấy (she) bị bế không?
– Có nghe nhưng lâu quá, quên mất rồi, kể cho nghe lại được không?
Người đàn ông thứ nhất lại chen vào:
– Khổ quá! Lại trêu cô ấy nữa rồi…
– Không sao đâu, nghe này:

“… Khi Tùng đến, Thằng Ròm vẫn còn trùm chăn kín mít, Tùng kéo mạnh cái chăn ra, bảo:
– Em dặn chị rồi, dậy bận ấm, em chở đi ăn Donuts, sao vẫn còn nằm co ro thế kia?
– Đi mà chết cóng ấy à, tuyết rơi cả 5 inches thế kia…
– Thì đã bảo đi xem tuyết mà!
– Không đi đâu!
– Chị dậy không nào?
– Không!
Chữ “Không” vừa được thốt ra, Tùng cúi người xuống, bế cô ấy lên, H.T. và MiMi chạy theo phụ họa, tiếng bà Cả la với theo:
– Bỏ cô ấy xuống, cô ấy mà té thì khốn…”

Tôi cười đến chảy nước mắt, khi nghe “người đàn ông thứ hai” kể chuyện, giọng nói làm ra vẻ nghiêm trọng, nhưng lại rất dí dỏm. Mới ngày nào… “ông ấy” thẩy tôi xuống sân sau đầy tuyết, của căn nhà nhỏ bằng đá, nằm trên đường số 4, thành phố Tulsa, tiểu bang Oklahoma. Me tôi và Má đã chạy theo ngăn cản. Hai đứa em nhỏ thì vỗ tay, reo hò vui thích.

“Người đàn ông thứ ba” lên tiếng:
– Lúc đó Mình đang ở trong bụng Mẹ, phải không?
“Người đàn ông thứ hai” cười lớn:
– Chứ còn gì nữa!
– Mấy bà bầu nặng như vậy mà Cậu bế được sao?
Ông ta nhìn tôi, nháy mắt, rồi đáp:
– Dù có bầu, nhưng lúc đó Mẹ cũng chưa được 100 lbs mà.
Quay qua nhìn người đàn ông thứ nhất, người đàn ông thứ ba lại hỏi:
– Thế Bố ở đâu lúc đó?
“Người đàn ông thứ nhất” cười tủm tỉm:
– Có Bố cũng chả làm gì được vì cậu Tùng bự con thế kia!
Tôi phụng phịu:
– Chứ không phải Bố cũng hùa theo mấy đứa nhỏ để trêu em à?

Ngồi gọn trên chiếc ghế nhỏ trong toa xe BART đang từ từ lăn bánh, tôi nhìn ba người đàn ông thân thương của mình, cả ba đang cùng đứng nhìn tôi chế diễu. Tôi chợt nghĩ đến “người đàn ông thứ tư” ở tận Munich. Có lẽ giờ này “ông ấy” mới vào tới sở, đang ngồi uống cafe và đọc email …

San Francisco…
Vườn Dill Trên Con Đường Mang Tên California…

Theo lời Alex, “người đàn ông thứ ba”, tôi dậy thật sớm, đi bộ ra đường California, coi sức mình còn leo dốc cao được nữa không. “Người S.F vẫn chạy lên, chạy xuống đường California để tập thể dục đó, mommy thử đi nhé …”

Đầu tháng Bảy, mới hơn 5 giờ, trời đã rạng sáng. Những ngọn gió lùa làm tôi ớn lạnh. Kéo cao cổ áo xong, cho hai tay vào túi, tôi bắt đầu chạy. Hết dốc này, sang dốc khác, xuống dốc dường như khó chạy hơn khi lên dốc. Thấm mệt, tôi đi chậm lại, ngắm những bụi hoa bên đường.

Đưa tay ngắt một cành lá xanh nho nhỏ, mùi Thì Là làm tôi ngỡ ngàng đứng lại. “Ngay Downtown SF mà có cả một “vườn” Dill như thế này sao! “Chả Cá Thăng Long”… món ăn mà hầu như người Bắc nào cũng thích…” Tôi thầm nghĩ, và cảm nhận một niềm vui khó tả đang xen nhẹ vào hồn…

Tối hôm trước, Alex dẫn chúng tôi la cà trên những đường phố đông người, rồi cuối cùng ngồi uống cafe trong khuôn viên của Union Square. Nhìn và nghe những “ca nhạc sĩ tự do” trình diễn “live” ngòai trời, tôi nhớ lại những lần đi uống cafe cũng với “những người đàn ông của tôi” ở Rome.

Vài năm trước, trên một chuyến bay từ Newark đi Rome, tình cờ đọc một bài báo rất hay và lạ về Quán Cafe Sant Eustachio, nên khi đến Rome, tôi nhất định phải tìm cho ra, để thưởng thức cafe của họ. Tiệm nằm trên con đường cùng tên Sant Eustachio, nhưng phải qua nhiều khó khăn chúng tôi mới kiếm được vì đường phố tại Rome nhỏ xíu và xem chừng như hơi rắc rối. Cafe vừa ngon vừa rẻ lại rất đặc biệt nên năm nào tôi cũng tìm dịp ghé Rome vài lần để uống cafe, có lẽ là do “ảnh hưởng” của một câu trong bài báo:
“…thật là không phí gì cả khi mua một vé máy bay khứ hồi New York – Rome, đến nơi, kêu taxi chở đến Sant Eustachio uống vài ly cafe rồi kêu taxi chở ra lại phi trường, bay về…”
Tiền phải trả cho tách cafe “ngồi uống”, khác với giá của cùng một tách nhưng “đứng uống.” Lần nào chúng tôi cũng chỉ mua “cafe-đứng-uống” mà thôi. Tháng Hai hay tháng Mười Một, thời tiết của Rome mát lạnh, có muốn mua “cafe-ngồi-uống” cũng không có chỗ vì tiệm nhỏ, chỉ có vài bàn bên trong và bên ngòai.

San Francisco thì khác, đường phố sạch sẽ, gọn gàng hơn nhiều. Với diện tích không lớn, nhưng Downtown của SF lại có rất nhiều quán Cafe Starbucks. Góc nào cũng có, quay qua quay lại là thấy Starbucks, khỏi phải tìm kiếm khi muốn uống cà phê. Tôi thích Frappuchino với một hay 2 Espresso Shot. Mỗi ngày uống 3 ly “tall” (ly nhỏ nhất) là không cần ăn gì thêm nữa cũng dư calories rồi.

Vài năm nay, tôi vẫn “cố tình” không chịu hiểu tại sao Alex không muốn về lại Houston, ngay cả lúc không có việc làm. Nhà cửa đắt đỏ, giá sinh hoạt cao, nhưng “người đàn ông thứ ba của tôi” vẫn nhất định “bám” San Francisco.
“Chỉ có người già như… Thằng Ròm… mới ở Houston được thôi…, người trẻ như Mình thì phải ở S.F…” 
Alex vẫn trêu Mẹ, mỗi lần tôi hỏi bao giờ dọn về lại Houston.

Căn apt nhỏ xíu, với hai phòng ngủ, một phòng tắm cũ và tối tăm, trên lầu ba của một chung cư rất tầm thường, Alex ở chung với bạn. Mỗi người trả 1,000 Mỹ Kim một tháng. Tôi giật mình khựng lại khi mới bước vào thăm “nhà” của Alex, vì không dè con trai tôi lại sống khổ như vậy. Thấy tôi ngập ngừng, Alex đã cười lớn, đẩy sau lưng tôi, rồi trêu:
“Đây là SF, không phải Houston của mommy đâu, nhà nhỏ và cũ nhưng bảo đảm không có… rắn…, đừng sợ chứ!” 

Những ngày rong chơi trên đường phố, ghé vào “quán sách bên đường”, những đêm la cà đi uống cafe sau bữa cơm tối, rồi đi nghe nhạc ngoài trời với Alex, những sáng đi Chợ Tàu ăn điểm sấm, mua trái cây, … tôi mới hiểu được lý do tại sao Alex không muốn dọn về Houston.
“San Francisco của Alex” khác “Houston của tôi” xa chừng…

Nhìn đám Thì Là vẫn còn ướt đẫm sương, San Francisco không dưng trở nên thân thuộc. Tôi cảm thấy như gần gũi với S. F. hơn, như San Francisco chính là quê hương của tôi vậy.
Cái thân thương gần gũi này tôi đã không có, khi đi uống Cafe Sant Eustachio ở Rome, hay khi tay trong tay đi bộ với Anh bên bờ Hồ Hoàn Kiếm cách đây vài năm.

Visalia 

Những dãy Trúc Đào đủ màu nối tiếp nhau trên xa lộ 99 dẫn vào Visalia cho biết vùng này cũng “Nắng Ấm” không thua gì Houston. Houston còn được thêm hai chữ “Tình Nồng”, có lẽ tại đông người Việt hơn chăng?

Gần tới thị xã Visalia, vẫn trên xa lộ 99, bên tay trái của tôi, còn có thêm những cây Khuynh Diệp thật cao. Tôi thích lá Khuynh Diệp, không chỉ vì mùi khuynh diệp mà còn vì hình dáng của chiếc lá nữa. Trong góc vườn của căn nhà cũ ở Katy, tôi cũng đã có 1 cây, rất lớn. Mỗi lần ra vườn, tôi hay hái vài lá, gập lại vài lần để mùi khuynh diệp tỏa ra, rồi đưa lên mũi, hít vài hơi. Mùi khuynh diệp làm lòng tôi dịu lại, không biết tại mùi của lá hay tại ngày xưa Mẹ tôi rất yêu thích mùi khuynh diệp. Mùi thơm của Khuynh Diệp cho tôi cảm giác như có Mẹ bên cạnh, và lúc nào cũng làm tôi ấm lòng.

Đứng trước nhà anh PST, gọi cell cho anh, tiếng anh hỏi:
– HV đi tới đâu rồi?
– Dạ em đang đứng ngay trước nhà anh chị đây?
– Sao giỏi vậy, chờ tí nha, anh chạy xuống ngay.
Tay bắt mặt mừng, anh em chào hỏi nhau. Anh không khác trong hình nhưng không giống anh PAD hay chị BH. Giọng nói, qua phone, tôi đã nghe có nét phảng phất của chị BH.

Rời SF lúc 6 giờ sáng, chúng tôi bỏ buổi ăn điểm tâm với Alex vì cái hẹn ăn lunch với anh chị PST lúc 11 giờ trưa.
Được lưu ý nạn kẹt xe của SF trên xa lộ 101, chúng tôi dùng xa lộ 5, hướng Oakland, qua 152 để vào 99. Dù có xa hơn, nhưng lại không bị kẹt xe, nên đến sớm 30 phút, trước giờ hẹn.

Tiệm ăn Thái nằm trong vùng Downtown của Visalia sang và yên bình, Chị PST “đi chợ” rất tài tình. Tôi được những 2 món chay. May mà chỉ ghé lại có vài giờ, chứ nếu không thì có lẽ chiếc áo dài mang theo cho buổi RMS ngày Chủ Nhật của nhóm Văn Học Thời Nay đành đem về lại và phải đi kiếm mua áo khác mất. Nhìn Anh và anh Dễ Thương vừa ăn vừa khen ngon, tôi cũng đoán được là chị Trung rất “sành” món Thái.
Nghe chị kể chuyện tôi rất nể phục. Chị chạy bộ mỗi ngày, từ sáng tinh mơ, với đầy đủ “vật dụng phòng thân”. Chị làm việc không biết mệt, ngày nghỉ thì lo vườn tược. Chị đã bỏ một cái hẹn để đi ăn trưa với chúng tôi. Ăn xong chị phải trở lại văn phòng vì cái hẹn kế tiếp lúc 1 giờ 30. Chúng tôi theo anh PST về lại nhà, trước khi lên đường đi tiếp.

Ngôi nhà xinh xắn với hàng rào trắng, sân cỏ xanh, trước cửa có Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, bên cạnh Cờ Mỹ. Anh PST cho biết đã treo lên từ Ngày 30 Tháng Tư và để luôn cho qua Lễ Độc Lập. Vườn sau, ngăn nắp, gọn gàng. Cây Quất ngọt đầy trái, mấy khóm hồng, hoa nở thơm ngát, bên cạnh fountain nước chảy réo rắt. Thảo nào anh Dễ Thương không Thơ đầy túi. “Chỉ cần ngồi trên xích đu là làm thơ phải không anh?” Tôi trêu anh.

Giã từ Visalia với lòng tiếc nuối. Visalia cũng Nắng Ấm, cũng Tình Nồng. Chân tình này, làm sao đền đáp?
Những dãy Trúc Đào rực rỡ trên xa lộ 99, tiễn đưa chúng tôi ra lại xa lộ 5, để về LA.

Cám ơn anh chị đã cho chúng em biết Visalia, một thành phố nhỏ có nắng ấm, có tình nồng, dù chỉ có vài gia đình người Việt, giữa đường từ SF đến LA.

Cafe… Huyền

Chị Bích Huyền đón chúng tôi với nụ cười thật tươi. Chưa kịp khen những bậc tam cấp đẹp, rất mỹ thuật, từ ngoài đường dẫn vào nhà, mùi sả ớt của món Bún Huế thơm phứt, làm tôi phải tấm tắc:
“Chị ơi! Thơm quá, chị nấu hở?”
Vào tới bếp, chị cười cười, đưa cho tôi một thìa nhỏ nước dùng:
“Nếm thử đi, hv”
Tôi ngạc nhiên vì vị đậm đà, cay cay, ngọt ngào…
“Chị hay nấu món chay lắm hở chị? Ngon quá chị ơi!”
Chưa trả lời tôi, chị lại mở nắp một cái chảo lớn bên cạnh:
“Miến xào nữa nè, hv”
Rồi nhìn qua anh NPH đứng bên cạnh, chị tiếp:
“Hôm nay, mọi người sẽ cùng ăn chay với HV. Hôm Chủ Nhật, hv ngồi nhìn chúng mình ăn…Tội quá!”
Tôi cười, giải thích với chị là trước khi đi dự tiệc, lúc nào tôi cũng “dằn bụng” trước, trừ khi được biết là có món chay. Chị trấn an anh NPH:
“Chị có ướp sẵn steaks cho Hưng, nếu Hưng không muốn ăn chay.”

Vườn sau nhà chị đầy hoa trái. Những bụi hoa mầu tím thật xinh xắn, bốn gốc Đào, hai cây Quất, lại có một cây Liễu trong chậu. Chị đặt tên cho từng cây. Gốc ớt mới nhìn đã thấy cay, chị cho 2 quả khô làm giống khi biết tôi cũng thích ăn cay.
Chị kể chuyện anh SK đến thăm, khi chị hỏi anh chụp hình chưa, anh đã trêu:
“Nhà chị toàn Đào và Liễu, làm sao em dám chụp hình…”

Những khung hình mỹ miều, duyên dáng, với nụ cười xinh xắn của Uyển Diễm, hóa trang từ cô gái Bắc, đến cô gái Trung, rồi cô gái Nam treo trên tường, làm căn nhà đã đẹp, lại càng thêm lộng lẫy, nhưng không kém phần ấm cúng. Trên tường còn có những bức tranh do Anh Tú vẽ. Tôi biết tài làm thơ của AnhTú trên diễn đàn Việt Báo, nhưng chưa hề biết, ngoài nghề Y Sĩ, Anh Tú còn là Họa Sĩ và kiêm Thi Sĩ nữa.

Bi và Ben được Mẹ Uyển cho mỗi chú một dĩa Spagetti thơm ngon. Trước khi ăn, hai chú bé mời “Ông Bà Trẻ” H&HV. Uyển Diễm hỏi: “Chú H có muốn ăn spagetti không, cháu làm cho.” Dĩ nhiên là dù có muốn thì chú H cũng đành lắc đầu…

Quỳnh Hương đến với sữa đậu nành và tofu còn nóng. Cô lấy nửa ngày vacation để được uống Cafe Huyền với chúng tôi. Nghe danh Cafe Huyền từ lâu, nên lần này, tôi nhất định phải xin được thử. Khi chị BH mời ăn ngoài tiệm, tôi đã không ngại ngùng xin chị cho được uống cafe Huyền.
“Coffee time” trở thành dinner với nhiều món rất hấp dẫn. Bún Huế, Miến xào, Đậu hũ sả ớt, đậu hũ chiên, bánh rán, xoài, sữa đậu nành…

Cafe Huyền không hổ danh truyền từ bấy lâu nay. Sữa được đun nóng cho từng tách. Mùi cafe thơm ngát. Chị cẩn thận pha mỗi lần một tách, tôi được tách đầu tiên. Ngồi nhìn chị làm cafe cho mọi người, tôi cảm nhận được lòng thương mến của chị dành cho các em. Chân tình đầy ắp.

Được hàn huyên với chị, nghe chị kể lại công việc làm với đài VOA, với Radio Bolsa, với đài Việt bên Úc,… tôi càng thêm nể phục chị. Vài năm nữa, khi chị hưu trí, tôi tin chắc sẽ khó có người thay thế được chị.

Bích Huyền, của Chương Trình Thơ Nhạc trên đài Tiếng Nói Hoa Kỳ đã đi vào lòng người Việt khắp nơi trên thế giới.

Cám ơn chị Bích Huyền đã chia sẻ với chúng em những tâm tình ngọt ngào, những kinh nghiệm sống quí báu, với tình cảm hiếm quí…

Cafe Huyền không những chỉ thơm ngon mà còn vô giá nữa, chị ơi!

HV Thật vs HV Dỏm

Con bé chồm người qua ôm tôi, mi lên má, rồi thì thầm bên tai tôi:
– Me, I love you.
Xiết nhẹ nó, mi lại, tôi cũng nói thì thầm:
– I love you, too. Athena.
Nó buông tôi ra, ngồi thẳng lên, rồi lại nhìn tôi, nhún vai, ngập ngừng hỏi:
– Me, Is your name Hiền Vy? – Me à, tên của Me là Hiền Vy hả?
– Yes, Athena.
Nó lại ngập ngừng:
– I thought your name is Me. Con tưởng tên của me là Me chứ !
Tôi chỉ biết cười, nó hỏi tiếp:
– Do you have a Mom? – Me có Mẹ không vậy?
– Có chứ. Ai mà không có Mẹ!
Con bé lên giọng:
– Does your mom call you… Hiền Vy, Hiền Vy, Hiền Vy, Hiền Vy, Hiền…
Tôi đang ngạc nhiên không biết nó định làm trò gì, thì tiếng cô em tôi, từ ghế tài xế quay lại, quát:
– Athena ! Stop it!
Đã không ngừng, con bé lại cao giọng hơn:
– H.H.H.. i. i. i. ề. ề. ề. n.n.n. V.V.V…Y.Y.Y… all day long?

Tôi bật cười, vì không dè chỉ mới 6 tuổi, con bé đã liếng thoắng đến vậy. Nó nhìn tôi như đang chờ câu trả lời. Kéo nhẹ nó vào người, tôi hôn lên tóc nó, chưa biết nói gì, đã nghe nó hỏi tiếp:
– Do we have the same name, Me? Chúng mình có tên giống nhau hở Me?
Mẹ nó lại quay xuống, cao giọng:
– Your name is Athena, OK? Tên của con là Athena, biết chưa?
– No, I like to be called Hiền Vy – Không, con thích tên Hiền Vy cơ.
Mẹ nó lại nói lớn:
– Lâu nay, con chỉ thích gọi là Athena thôi mà. Sao hôm nay lại đổi ý thế?
Con bé phụng phịu:
– I don’t know! Con không biết!

Vuốt nhẹ mái tóc mượt mà của nó, tôi giảng hòa:
– OK, OK, để Me giải thích.
Con bé ngả đầu vào người tôi, chờ đợi. Tôi từ tốn giải thích:
– Mẹ của con mượn chữ Hiền trong tên của Me, và thêm chữ Vy để đặt tên cho con.
Con bé lại thắc mắc:
– Nhưng sao ai cũng gọi Me là Hiền Vy?
– Tại Me mượn tên con để làm Radio.
Con bé ngập ngừng:
– Sao Me không mượn tên chị Dĩ An?
Rồi gật gật cái đầu, hỏi tiếp:
– Vậy là tên con hay lắm hả?
– Dĩ nhiên rồi, không hay, me đâu có mượn.
– Tên chị Dĩ An không hay hả?

Tôi không biết nói sao, chỉ cười, nhớ lại những ngày đầu mới chập chững vào làm Chương Trình Tuổi Thơ cho LSR. Dĩ An đã dỗi hờn khi thấy tôi dùng tên Hiền Vy. “Vậy là Mẹ thương Athena hơn thương mình rồi, Mẹ dùng tên của con đỡ đầu, mà không thèm dùng tên của con ruột…” 
Đã phải giải thích với Dĩ An là “Hiền Vy” dễ cho các em bé nghe chương trình gọi hơn và cũng dễ cho tôi hơn khi xưng là “Cô Hiền”…

Sau khi nghe tôi giải thích, Athena chúm chím cười:
– OK! Me, I allow you to borrow MY NAME – OK Me, con cho phép Me mượn tên con đó.
– Thanks, Athena!
Con bé xích ra một tí, dùng hai bàn tay bé xíu, ôm lấy mặt tôi, giọng như chững chạc ra:
– Không! Con không muốn gọi là Athena nữa. Từ đây, Me nghe không,…
Nó ngừng lại, như để lấy hơi, rồi gằn giọng, chậm rãi tiếp:
-… từ đây, con chỉ muốn được gọi là Hiền Vy thôi.”
Tôi ôm khuôn mặt nhỏ bé xinh xắn của nó trong hai tay mình, cười lớn, rồi nói:
– Yes, Hiền Vy! Và con là Hiền Vy Thật, còn Me chỉ là Hiền Vy Dỏm thôi./.

Thuở bơ vơ mới về …

Tôi biết  ngay từ những ngày đầu mới “chân ướt chân ráo” về nhà Anh.  là sui gia với Má nhưng có họ ngoại với Anh nên khi Anh trở về nước sau những năm du học ngoại quốc, hai gia đình lại muốn kết thân thêm một lần nữa mà không thành.  có 4 người con gái. Người thứ ba là chị dâu của Anh. Cô Út và chị Cả kẹt lại VN sau 75. Chị thứ hai lập gia đình với một người NaUy nên ở tận Oslo. Biến Cố Tháng Tư 75 đã tách rời  khỏi những người con để rồi  di tản cùng với gia đình chị chồng tôi. Giữa mùa Thu năm đó  sum họp với gia đình người con thứ ba tại Tulsa.

Trong căn nhà nhỏ bằng gỗ 3 phòng ngủ trên đường số 4 gần Tulsa University,  và Má một phòng, anh chị DD và cháu L một phòng, phòng còn lại là của Anh. Đám cưới xong, tôi về ở chung phòng với Anh.  Căn phòng của chúng tôi có cửa sổ nhìn ra vườn sau.  Phòng của anh chị DD thì cửa sổ nhìn ra đường và phòng của  và Má ngay cạnh phòng tắm, cửa sổ nhìn ra nhà anh chị C, chị gái của Anh. Không biết 2 phòng ngủ kia có khóa không chứ phòng của chúng tôi không có khóa từ bên trong.

Những ngày mới về nhà Anh, tôi không chỉ bị Má “chiếu cố” mà còn bị anh D đối xử rất là “không văn minh”. Những buổi trưa từ lớp học Anh ngữ về nhà ăn cơm, tôi vừa bưng chén cơm là Má nói ngay:

Cô ăn lẹ đi rồi lo kiếm áo quần dơ của câu H đem đi giặt để chiều cậu ấy đi làm về cậu ấy nghỉ ngơi”.

Nước mắt dàn dụa vì tủi thân, tôi buông đũa trong khi  lên tiếng:

“Bà để cho cô Ti ăn xong rồi nói có được không ?”

Má điềm nhiên:

“Tôi có biểu cô ấy làm ngay đâu, bảo ăn xong mới làm cơ mà” 

Anh D lúc đó làm ban đêm trong một tiệm McDonald. Trưa ngồi ăn cùng chúng tôi cũng lên tiếng:

“Ai đánh đập gì cô mà khóc cơ chứ”

Rồi “bồi” thêm:

“Mẹ thằng L đi làm, bà tham già yếu, cô ăn xong lo dọn nhà cửa cho sạch sẽ”

Tôi nghẹn ngào không nuốt nổi nên xin phép không ăn nữa, rút lui vào phòng ngồi khóc thầm.  theo vào an ủi:

“Cô ra ăn cơm đi chứ sao lại vào đây ngồi khóc ?”

Tủi thân, tôi khóc lớn và  kể cho tôi nghe chuyện ngày xưa  mới lấy chồng …

Khó Khăn – Trở Ngại

Càng ngày anh D đối xử với tôi càng không công bằng. Tôi tránh gặp mặt anh D tối đa dù ở chung nhà.  biết điều đó nên hay tìm cách nói chuyện vui cho không khí nhẹ đi. Tôi vẫn không kể lại với chồng những việc xảy ra khi Anh đi làm. Một người anh lớn hơn của chồng tôi, tên T, ở cạnh nhà ba mẹ tôi, đến thăm Má, hỏi tôi:

“Sao không về thăm 2 bác vậy cô Ti ? Mê chồng quá quên cả cha mẹ em út sao ?”

Tôi chỉ biết ứa nước mắt lắc đầu không nói. Vài tuần trước, khi mới về làm dâu nhà Anh, chiều chiều cơm nước xong Anh hay đưa tôi đi bộ về thăm ba mẹ tôi. Tôi rất hạnh phúc có Anh đi cùng. Nhà ba mẹ và các em tôi ở đường số 7, phía mặt trước của ĐH Tulsa. Nhà tôi ở, sau đám cưới, là phía sau của trường. Đi bộ nhanh mất khoảng 20 phút, đi chầm chậm và ngừng lại xem cây cỏ thì mất khoảng nửa giờ. Nhưng chỉ đi được vài lần là Má kêu tôi vào phòng, phán:

“Cô có về thăm ông bà thì đi học rồi ghé thăm được rồi, sao phải chờ cậu H đi làm về bắt cậu ấy đưa đi? Cậu ấy yếu lắm, đi như vậy rồi bệnh, chết thì ai nuôi tôi ?”

Tôi lại khóc nhưng không hề giận vì biết Má thương người con trai út của bà.  Má lại cùng tuổi với bà ngoại tôi và  thua Má một giáp nên mặc dù là sui gia, mẹ tôi vẫn gọi Má và  là Cụ, xưng Con.  Mẹ dạy tôi phải lễ phép và thương Má vì Má sinh ra chồng tôi. Không có Má thì làm sao có Anh cho tôi lấy. Dù vậy, có lần Mẹ cũng cười nói với tôi “Sao con không chọn ai có cha mẹ trẻ trẻ như ba mẹ cho dễ dàng xưng hô.”

Một buổi tối, không biết ăn nhằm cái gì mà tôi bị đau bụng suốt đêm nên phải ra vào phòng tắm nhiều lần thì sáng hôm sau, ngay sau khi Anh rời nhà đi làm, tôi đang sửa soạn đi học thì Má vào phòng tôi, đóng cửa lại rồi quắt mắt nhìn tôi, hỏi:

“Cô làm gì mà lục đục suốt đêm trong phòng tắm ? Tôi nói cho cô biết là cậu H không khỏe mạnh gì đâu. Phải để cho cậu ấy ngủ để còn đi làm nuôi tôi nữa. Cô phải biết điều một tí”

Tôi ngạc nhiên:

“Con bị đau bụng cả đêm mà Má!”

Tối đó tôi kể lại cho chồng nghe chuyện Má la tôi ban sáng vì tôi không hiểu tại sao đau bụng phải dùng restroom lại bị rầy. Chồng tôi nghe xong, đi qua phòng Má nói gì hơi lớn tiếng. Khi tôi hỏi thì anh bảo là anh cự Má và nói với Má là “Khổ quá Má ơi, từ lúc cưới tới giờ đã làm ăn gì được đâu mà Má cứ suy nghĩ tào lao vậy”.

(Tôi phải mở ngoặc để nói một tí về chuyện này. Trước đám cưới khoảng 3 tuần, trên đường từ trạm xe Bus đi bộ về nhà với một bao giấy lớn đầy thực phẩm vừa mua từ chợ Safeway cho mẹ tôi, tôi bị một gã đàn ông Mỹ trắng tấn công ngay trên đường vắng vào buổi trưa.  Tôi đã quăng bao thực phẩm xuống đường để chạy thoát thân sau khi kêu cứu mà không có một người nào xuất hiện.  Vừa chạy tôi vừa la lớn “Help! Help!” mà không có ai nghe,  may là chỉ cách nhà tôi  có hai blocks. Mẹ ra mở cửa khi nghe tiếng đấm cửa liên hồi của tôi.  Vào nhà tôi chỉ biết khóc vì ngực tôi bị đau khinh khủng do sự tấn công và làm bậy của gã đàn ông đó. Vì sự việc này tôi muốn hủy cái đám cưới đang được những người trong nhà Thờ lo giúp.  Tôi gọi cho “bà mẹ nuôi” nói ý định này. Các bà trong nhà Thờ bảo trợ gia đình tôi, cùng ông mục sư đến thăm và nói họ sẽ làm theo ý tôi.  Chiều đó Anh đến thẳng nhà tôi sau khi tan sở và năn nỉ tôi đừng hủy đám cưới.  Anh hứa với ông mục sư, với ba mẹ tôi là Anh sẽ không làm gì để tôi sợ.)

Đúng sáu tuần sau ngày cưới thì tôi mới thật sự trở thành đàn bà. Sau đó tôi mới hiểu ra lý do Má la tôi khi tôi bị đau bụng phải dùng phòng tắm nhiều lần trong đêm hôm. Chuyện Má rầy rà tôi chịu được vì Má là mẹ Anh nhưng việc anh D cứ bắt lỗi tôi đủ điều và sai khiến tôi làm việc như người giúp việc thì tôi không chịu được.

Lúc đó tôi không hiểu lý do gì mà anh D lại “pick-on” tôi hoài như vậy. Sau này tôi mới biết được là sau khi làm “ông mai” để mai mối chồng tôi với cô Út nhà vợ anh không thành, anh D lại “làm mai” ông em cho em gái của vợ bạn cũng không thành.  Tôi nghe kể lại là trước năm 75 ở Việt Nam, những người du học trở về nước thường được nhiều gia đình khá giả “ngắm nghía”. (Cô chú bác và các anh chị họ của tôi đi du học về tôi không biết có được nhiều nơi “ngắm nghía” không vì tôi còn quá nhỏ để được biết chuyện trong gia tộc, nhưng trong gia đình nhỏ của ba mẹ tôi thì anh Ba của tôi lúc đó vẫn còn học ở Tây Đức chưa về nước nên tôi không kiểm chứng được điều này). H không tránh được những mai mối từ cô, chú, bác, dì, anh, chị và cả cháu trong nhà, sau khi về nước cuối năm 71. Bao nhiêu người mai mối cũng không thành cho đến năm 74 thì gặp tôi trong một lớp Anh ngữ, anh dạy thêm buổi tối của London School.

Có lẽ  biết tôi không vui nên những lúc cùng làm bếp với tôi,  kể cho tôi nghe chuyện ngày xưa ở Việt Nam, chuyện Quan Âm Thị Kính, chuyện tiền kiếp của đức Phật…  cũng coi tuổi, coi tướng và chỉ tay của tôi và nói rằng số tôi rồi sẽ rất sung sướng sau này. Tôi thương và rất quí trọng . Nhiều lần  cũng kể cho tôi nghe chuyện hai người con bị kẹt lại Sàigon. Tôi rất phục cái tính chịu đựng của .  Trong lúc mẹ tôi khóc lên khóc xuống vì gia đình anh Hai của tôi kẹt lại ViệtNam thì tôi chưa từng thấy  khóc khi nhắc đến hai người con của  cũng đang ở Saigon. Cô Út hơn tôi hai tuổi, nhưng trong nhà ai cũng gọi là Cô Út nên tôi cũng gọi theo luôn. Dù chưa hề gặp cô Út nhưng qua lời kể của , tôi rất có cảm tình với Cô.

Chữ Hiếu …

Ở chung được một thời gian, không khí trong nhà ngày càng ngột ngạt, tôi thì ngày càng gầy, mất hẳn tiếng cười, chồng tôi quyết định mua nhà dọn ra riêng với Má cùng đi với chúng tôi. Trong lúc đang lo thủ tục mua nhà thì một buổi sáng cuối tuần tôi thức dậy sớm mà không thấy Anh bên cạnh, tôi rón rén đi ra bếp thì thấy Anh và anh D đang rù rì nói chuyện. Tôi rút lui về phòng nằm đọc sách. Sau đó Anh vào và kể cho tôi nghe là anh D lo ngại nếu chúng tôi dọn ra thì anh chị ấy không thể trả nổi tiền thuê nhà hàng tháng. Chồng tôi hứa sẽ phụ trả tiền nhà thuê cho gia đình anh chị DD cho đến khi nào họ có thể tự túc được.

Qua nhà mới, tôi thi vào làm Nurse Aide trong nhà thương Saint Francis. Chị D cũng được tuyển dụng cùng khóa với tôi. Sau mấy tuần được huấn luyện, tôi phải làm ca hai, từ 3 giờ chiều đến 11 giờ đêm.

Rồi tôi có thai lần đầu. Lúc đó tôi không hiểu “ốm nghén” là gì, chỉ biết mỗi lần Má nấu nấm Đông Cô thì tôi ói tới mật xanh mật vàng. Dù đã vào phòng đóng cửa nhưng cái mùi nấm Đông Cô vẫn theo vào trong phòng ngủ nên tôi vẫn bị ói liên hồi.  Vì vậy khi biết Má sắp nấu món Nấm là tôi lái xe ra khỏi nhà. Có hôm tôi lên nhà ba mẹ tôi nhưng chẳng có ai ở nhà ban ngày. Ba mẹ tôi đi làm, các em thì đi học nên tôi thường lang thang ngoài mall cho đến giờ đi làm.  Việc này bị nhà chồng cho là tôi hỗn láo, không muốn Má ở chung. Gần ngày sanh con đầu lòng, Anh bảo tôi xin nghỉ làm. Ở nhà tôi còn khổ hơn vì anh chị của Anh đến thăm Má mỗi ngày.  Chị C của Anh, bữa thì đem vài cái nấm, bữa thì đem vài quả lê hái bên sân trường đại học, dúi dúi cho Má. Tôi không hiểu tại sao chị C phải mất công làm như vậy vì Má muốn gì, cần gì là chúng tôi mua ngay cho Má.  Cho đến một hôm, Mẹ tôi gọi điện thoại bảo tôi về nhà gấp, Mẹ cần hỏi tôi vài chuyện.

Bước chân vào nhà, tôi thấy Mẹ ngồi nơi bàn ăn, khuôn mặt buồn bã. Mẹ không trả lời khi tôi hỏi Mẹ có khỏe không. Tôi ngồi xuống chiếc ghế đối diện với Mẹ mà lòng đầy âu lo. Tôi tưởng Mẹ không khỏe hay có tin không vui từ VN.  Một lát Mẹ nhìn vào mắt tôi, hỏi:

“Sao con không nghe lời Mẹ dạy ?”

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

“Con không nghe lời Mẹ chuyện gì ?”

Giọng Mẹ buồn buồn nhắc lại những gì đã dặn dò tôi, nào là phải thương và quí nhà chồng hơn nhà mình, nào là phải lo cho Má chu đáo hơn lo cho Mẹ vv và vv…  Tôi bật cười nói với Mẹ: “Khổ quá! biết rồi, nghe rồi, áp dụng rồi. Sao mẹ nói mãi thế ? Mẹ kêu con về để dạy con lại vậy thôi sao?”

Mẹ cầm tay tôi, thở dài rồi kể cho tôi nghe là bạn của Mẹ nói với Mẹ là nghe chị C của anh nói tôi bỏ đói Má, không cho Má ăn uống gì cả, chị C phải mua thức ăn đem đến cho Má. Lúc đó tôi giận Mẹ vô cùng vì Mẹ nghe những lời như vậy mà rầy tôi, nên hỏi Mẹ:

“Mẹ có nghĩ là con làm như vậy không ?”

Mẹ siết chặt tay tôi, nói:

“Mẹ không tin con gái mẹ làm như vậy vì mẹ biết tính nết của con”

Tôi ngắt lời Mẹ:

“Biết tính con rồi, sao Mẹ không nói cho người ta biết mà còn kêu con về để la con ?”

Mẹ tôi gật gật cái đầu, chậm rãi đáp:

“Dĩ nhiên là Mẹ đã nói với bạn mẹ những việc đó không thể nào có, vì đó không phải là cá tính của con, nhưng mẹ vẫn hỏi con cho rõ ngọn ngành”

Ra khỏi nhà Mẹ, tôi lái xe đến nhà . Chỉ có  và cháu L (lúc đó chừng 3 tuổi) ở nhà.  Tôi kể cho nghe chuyện tôi vừa bị oan.  Nghe xong  nói tôi đừng có buồn, tính tình của cô C nó như vậy, cô không đi làm ở nhà rảnh rỗi nên ưa gây chuyện.   cũng nói Má già nên lẩm cẩm và khuyên tôi nên bỏ qua, đừng nói lại với Anh.  Tôi không nghe lời khuyên của  mà đem chuyện này than phiền với Anh. Nghe xong, Anh ôm tôi và nói trong nước mắt:

“Vì Má khó tính nên mãi đến hơn 30 tuổi, gặp em, anh mới dám lấy vợ. Thương anh, em chịu khó nhịn cho yên nhà. Anh mang ơn em suốt đời.”

Nghe lời Anh, tôi không nói gì nhưng rất ấm ức. Má thương và quí Anh vô cùng. Tôi cũng yêu và kính trọng Anh không ít. Có những lúc Má kể cho tôi nghe về cách cư xử của những người con dâu lớn với Má, nghe xong tôi xót xa cho Má. Má không hề nói nặng tôi nhưng đối xử với tôi khá lạ lùng.  Với cái bụng bầu đã gần ngày sinh của tôi, Má vẫn nhắc tôi đem rác ra ngoài để khỏi nhọc công Anh phải làm, dù Anh đã cẩn thận dặn tôi không được làm việc nặng khi Anh đi làm. Mỗi lần tôi làm bếp, Má luôn xuất hiện khi thấy tôi cầm chai tiêu định rắc vào món ăn với câu nhắc nhở: “Câu H đau bao tử mà cô cho ăn tiêu là chết sớm, ai nuôi tôi …”  Có lần  đến thăm, nghe Má bảo tôi đem rác ra ngoài,  bất mãn can: “Cái bụng cô Ti lớn như vậy sao không để chú H khiêng rác mà bà bắt cô ấy khiêng”. Má chỉ nói gọn “Cậu ấy không có khỏe đâu bà”.

Rồi tôi sinh con đầu lòng.  Theo lời chỉ dẫn của những người đã có con, tôi nhất định không cho con ăn đêm để tập cho con quen.  Nghe cháu khóc mà không thấy tôi bế, Má giận lắm ra bế cháu lên.  Tôi cự thì Má bảo phải để yên nhà cho Anh ngủ để còn đi làm chứ nó khóc như vậy Anh không ngủ được, sinh ốm, chết thì không ai nuôi Má. Sáng hôm sau anh D và chị C đến thăm Má. Má kể chuyện tôi cứng đầu không chịu dỗ con ban đêm, để Má và Anh không ngủ được. Tôi tức không nói được nên thở không được, tay chân bủn rủn hết.  Đúng lúc đó, một người bạn của Ba Mẹ tôi đến thăm tôi sinh con đầu lòng. Thấy tôi bị như vậy, chú đến chỗ Mẹ tôi làm (cách nhà chúng tôi chừng 3 miles) kể cho Mẹ nghe rồi chở Mẹ đến nhà tôi ngay, vì chú sợ tôi bị “sản hậu” có thể nguy đến tánh mạng.

Khi mẹ tôi đến thì Anh D, chị C cũng đã chở Má ra khỏi nhà.  Mẹ tôi khóc khi thấy tay chân tôi lạnh ngắt, mặt mày thì tím dắt.  Mẹ ôm tôi và than thở: “Sao khổ vậy con ơi! Chồng con gì mà khổ thân như vậy! Con có chết thì chỉ có mẹ là thiệt thòi thôi, con ơi!” và Mẹ ở lại với tôi cho đến khi Anh đi làm về. Mẹ nói với Anh để Mẹ đem tôi và con về nhà Mẹ nhưng Anh không chịu. Từ đó tôi bị gắn cho cái tội là đuổi mẹ chồng ra khỏi nhà.

Má dọn vào ở một mình trong căn nhà thuê trên đường số 5, cách nhà anh chị DD và chị C một block đất trống, đứng bên này thấy được bên kia.  Với 3 người con trai và một gái cùng sống tại Tulsa, chỉ cách nhau vài miles mà Má không ở với ai cả. Thấy Má cô quạnh một mình, tôi cầu cứu , nhờ nói  về lại với chúng tôi, nhưng anh D không cho, bảo là để Má ở một mình tiện hơn.  Con cháu muốn đến thăm, đến chơi với Má thoải mái hơn.

Chỉ một khoảng thời gian rất ngắn sau đó, anhD đi Houston thăm bạn, những người anh đã gặp trên đường di tản. Sau chuyến đi đó anh D quyết định đem gia đình anh và  về Houston với lý do Tulsa mùa đông lạnh quá không tốt cho bệnh suyển của anh và cháu L. Cũng với lý do thời tiết, Má muốn đi Houston sống. Vài tháng sau, chồng tôi đưa Má về Houston bằng máy bay. Anh D đã thuê cho Má cái apartment một phòng ngủ bên cạnh cái apt hai phòng của gia đình anh và .  Trước khi Má rời Tulsa, tôi đem con đến thăm. Má ngập ngừng hỏi tôi:

“Chắc cô không cho cậu H về Houston ở gần tôi đâu phải không ?”

Tôi hỏi lại:

“Tại sao Má hỏi con như vậy ?”

Má ngập ngừng:

“Thì những chuyện đã xảy ra khiến tôi nghĩ như vậy”

Tôi trêu Má:

“Nếu con không cho chồng con đi, thì Má làm gì con ?”

Má nhìn tôi, đáp:

“Tôi biết cô không phải người xấu. Cô không cấm cậu H ở gần tôi đâu. Cô biết tôi thương cậu H mà cậu H cũng thương tôi. Thầy mất sớm…”

Dĩ nhiên là tôi không cấm được Anh gì cả nhưng thật tình là tôi đã rất vui mừng khi gia đình anh chị DD dọn khỏi Tulsa.

Trong chuyến đưa Má về Houston, chồng tôi đi xin việc tại hãng điện của thành phố.  Chỉ mấy tuần sau là họ gọi, mời trở lại để interview. Khi được hãng điện Houston cho việc với số lương gấp rưỡi lương đang làm tại hãng điện Tulsa, Anh nói với tôi là nếu tôi không muốn đi thì Anh sẽ ở lại Tulsa. Tôi xin Anh vài ngày để suy nghĩ.

Có lẽ đó là thời gian chờ đợi lâu dài và hồi hộp nhất trong đời Anh dù chỉ có 2 ngày. Tôi cũng mất ăn mất ngủ vì suy nghĩ. Tôi cầu cứu mẹ tôi, Mẹ chỉ nói:

“Hiếu thảo với cha mẹ là điều tối quan trọng trong đời người. Hiếu thảo với cha mẹ chồng lại quan trọng hơn vạn lần”

Chỉ một câu nói của Mẹ là tháo gỡ tất cả vướng mắc trong tôi. Khi tôi nói với Anh là tôi bằng lòng đi Houston, Anh ôm tôi, hôn lên tóc rồi nói trong nghẹn ngào:

“I know you’re a good girl, Bé”

Nỗi Oan Ức

Đến Houston, anh D làm thợ tiện cho một hãng tiện vùng Đông Nam. Chị D tiếp tục làm nurse aide trong một nhà thương vùng downtown. Trước năm 75 anh chị đều là giáo sư của một trường trung học tỉnh lỵ, cách Saigon khoảng hơn một giờ chạy xe gắn máy.  Rồi gia đình anh chị T cũng bỏ Tulsa về Houston sinh sống.  Anh chị DD ra mua nhà mới, khu Đông Nam của Houston. Má lại đổi qua sống một mình trong cái apt một phòng ngủ, cùng chung cư với anh chị T.  AnhD rủ chồng tôi mua nhà cùng khu vực nhưng chúng tôi quyết định mua vùng Tây Nam nên các anh chị ở gần Má hơn chúng tôi. Mỗi cuối tuần Anh đều đưa tôi và con về thăm Má và thỉnh thoảng chúng tôi ghé thăm . Má rất thương cháu nội trai. Có lần vợ chồng anh Cả của chồng tôi từ Canada sang thăm Má, Má mách với anh Cả là “Ở chung một nhà mà một cô thì chỉ có làm, không chịu ăn, còn một cô thì chỉ ăn, không chịu làm, mà bừa.” Khi nghe anh chị Cả kể lại tôi đã cười ra nước mắt vì những tưởng Má không hề bận tâm là tôi đã phải làm việc nhà như một con sen khi mới về làm con dâu út của Má.

Cuộc sống tại Houston khá yên ổn. Má vẫn khỏe mạnh, chỉ bị đau nhức xương cốt khi trở trời. Trong khi  thường đi chùa PQ mỗi sáng Chủ nhật, thì Má không bao giờ đến chùa nhưng khi Chùa có chương trình bán đất tại một nghĩa trang của người bản xứ, để làm khu nghĩa trang đặc biệt của người Việt, thì Má muốn mua đất ở đó cho hậu sự. Chồng tôi mua 6 lô hàng ngang cho Má vì policies của nghĩa trang này là phải có ít nhất 6 lô mới được một tấm bia đứng.  chung với bác B mua 6 lô, 3 lô phía này, 3 lô phía đối diện. Sau đó  và bác B đã dựng tấm bia đứng ngay chính giữa 6 lô đất này. Trên bia khắc sẵn ngày sinh mà chưa có ngày tử, mỗi phía cho từng người.

Vài năm sau, Má mất. Ngày hôm trước Má kêu mệt, chị D đưa Má đi bác sĩ. Bác sĩ nói Má bị cảm nhưng hôm sau Má mệt hơn, chở vào bệnh viện thì Má mất. Má ra đi nhẹ nhàng, không đau đớn, không phiền hà con cháu. Thầy nói tuổi tôi hợp với giờ mất của Má nên tôi và 2 người cháu nội của Má được chọn vào tẩm liệm Má. Chồng tôi và các anh chị cũng như các cháu nội ngoại khác phải ở ngoài vì “kỵ tuổi”. Các anh chị đưa cho tôi một bịch giấy có áo dài và quần của Má, rồi trước khi tôi vào tẩm liệm Má, chị C đưa cho tôi thêm một bao giấy nữa, nói là áo quần, vật dụng của Má. Chị dặn tôi để những vật dụng đó vào trong áo quan cho Má ấm và dặn dò liệm Má phải nhẹ tay, cẩn thận từng chút.  Tôi làm xong nhiệm vụ, lòng thanh thản nhẹ nhàng.

Hôm sau trở lại nhà quàn, gặp Bà, tôi chào, thì  lạnh lùng đáp “Không dám, chào Cô”. Tôi thắc mắc không biết tại sao  lại lạnh lùng và xa cách với tôi như vậy nhưng tôi không có thì giờ để suy nghĩ vì khách và bà con đến thăm Má rất đông. Tối về, chồng tôi hỏi:

“Sao hôm qua em liệm áo quần của bà tham cho Má ?”

Tôi ngạc nhiên:

“Mấy anh chị đưa cho em bịch áo quần của Má mà.”

Anh hỏi lại:

“Chứ không phải tự em lấy nhầm áo quần của Bà Tham sao?”    

Tôi cãi lại:

“Không, em đâu có biết áo quần nào các anh chị muốn liệm cho Má. Chính chị C đưa cho em mà. “

Chồng tôi nói nhẹ:

“Vậy mà anh D nói em lấy nhầm áo quần của Bà nên Bà giận em lắm.”

Mà  giận tôi một thời gian thật vì như anhD nói với chồng tôi là  tin rằng  sắp chết vì tôi đã lấy áo quần của  liệm cho Má. Sở dĩ có chuyện này vì, sau này tôi nghe kể lại, là  sợ lạnh nên đem theo thêm áo quần, phòng khi cần đến. Lúc đến nhà quàn Bà đã để bịch áo quần vào một góc. Chị C thì nhất định chối việc chính chị đã đưa bịch áo quần của  cho tôi. Suốt một năm trời tôi sống trong lo âu và sợ hãi. Tôi cầu Trời khẩn Phật nếu được thì cho tôi chết thay  chứ nhỡ  mất, thì trong nhà lại kết tội là tôi giết Bà. Thấy  lạnh lùng, chúng tôi cũng ngại ghé thăm. Chỉ gặp  dịp Tết hay cúng giỗ, hoặc có bà con phương xa đến nhờ chở đi thăm .

Làm thợ tiện được vài năm thì anhD bị lay-off, anh ra mở một tiệm giặt máy (washateria) và làm một tờ báo Việt ngữ, chuyên quảng cáo các cơ sở thương mại do người Việt làm chủ.  Khi tôi sinh đứa con thứ hai và đang nghỉ 6 tháng để lo cho con thì một đêm khuya đang ngồi thiền, tôi bỗng thấy anhD đến ngồi trong góc nhà, đối diện với tôi, nhìn tôi mà không nói gì cả. Tôi xả thiền lên nằm cạnh chồng vì cảm giác là lạ làm tôi hơi sợ. Khoảng nửa tiếng sau, điện thoại nhà reng, chồng tôi nhấc máy. Trong đêm khuya thanh vắng tôi nghe giọng  thảng thốt bên kia giây nói: “Anh D chết rồi chú ơi”. Chồng tôi đang nửa tỉnh nửa mơ vì lúc đó chỉ hơn 2 giờ sáng, nên hỏi  dồn dập.   nói cảnh sát mới đến nhà báo tin anhD bị xe đụng chết tại chỗ. Lúc đó anhD mới 43 tuổi ta.

Cái chết của anh D mang tôi lại gần  hơn. Chúng tôi đến thăm , chị D và hai cháu thường hơn. Cháu nhỏ nhất chưa được hai tuổi. Chị D bỏ việc làm nurse aide về trông coi tiệm giặt. Bà lại âm thầm nuôi cháu và gửi tiền về Việt Nam nuôi con. Mỗi Chủ nhật  lên chùa làm công quả. Có bữa chúng tôi ghé thăm,  chưa về thì chúng tôi lên Chùa đón Bà về. Rồi có tin người con trưởng của  mất tại VN vì ung thư trong khi chờ đợi đi Mỹ do  bảo lãnh. Tôi lại một lần nữa chứng kiến sự can đảm chịu đựng của  “làm tuần” cho con gái tại chùa. Tôi chỉ thấy mắt bà long lanh lệ, chứ chưa bao giờ nghe  khóc gào gì cả.

Tình Đời

Vài năm sau khi anhD mất, cô Út qua đoàn tụ với  và chịD cùng 2 cháu.  Chúng tôi đến thăm mới biết là trong thời gian ở Việt Nam, cô Út đã bỏ đạo Phật qua đạo Baptist.   chỉ nói là tại ở Việt Nam cô Út cô đơn nên bị họ dụ dỗ.  Chị C, sau đám tang của Má, đã ly thân với chồng và cũng về Houston sống với con gái út của chị. ChịC mai mối cô Út của  với anh của một người con dâu của chị.  Anh này đang ở Tulsa, một mình nuôi con vì vợ anh ấy bỏ chồng con, đi theo “tiếng gọi con tim”. Anh ấy đến Houston vài lần để gặp và tìm hiểu cô Út. Chúng tôi tưởng sắp được ăn cưới cô Út nhưng hoài vẫn không thấy được mời.  Sau này tôi được biết sở dĩ cuộc hôn nhân không thành vì cô Út muốn anh ấy “trở lại đạo” và vì sự lấn cấn trong việc chia sẻ tình thương của anh ấy với người con trai của anh ta.

Làm tiệm giặt một thời gian chị D quen một người đàn ông bản xứ. Ông S hay đến tiệm sửa máy cho chị. Ông S dạy chị và cô Út vẽ tranh sơn dầu. Mỗi lần chúng tôi đến thăm, chị khoe những tác phẩm của chị và cô Út đã vẽ.  Sau khi kết hôn với ông S, chị D bán tiệm giặt, đến một thành phố nhỏ có hồ phía Bắc Houston, nơi anh S có một căn nhà tiền chế  đã cũ, xây “lâu đài tình ái” với anh S. Hai người xây một căn nhà sàn khá đẹp. Tôi chưa hề đến, chỉ nghe chồng tôi nói mà thôi. Chồng tôi khen anh S là xây nhà lần đầu mà anh S làm rất khéo.   vẫn ở với cô Út và cháu ngoại trong căn nhà ngày xưa anh chị DD mua trước khi anh D mất. Chúng tôi vẫn đến thăm  nhưng không thường xuyên như trước. Bà tránh nói đến chuyện chị D tái giá và chuyện cô Út cải đạo.

Không biết có phải chuyện tái giá của chị D làm cho chị C của Anh bất bình mà tỏ ra thân thiện với tôi hơn không. Chị C thường gọi phone nói chuyện và nhiều lần nhắc đến chuyện “chị D lấy Mỹ”,  rồi tâm sự xa gần là “Ở lâu mới biết lòng người”. Khi thấy tôi không “hợp tác” với chị trong việc nói chuyện về người khác thì chịC cũng không nói thêm nhiều nữa. Dù vậy thỉnh thoảng ChịC vẫn gọi than phiền chuyện này chuyện kia. Chị hay làm thức ăn cho chồng tôi vì theo chịC thì tôi không chịu nấu nướng thức ăn ngon cho cậu em út của chị.

Theo năm tháng  yếu và mất dần trí nhớ. Chị D và cô Út thay nhau săn sóc . Lúc thì  ở Houston, khi thì lên trên hồ ở với chị D và anh S. Chồng tôi có đưa anh chị Cả, từ Canada sang Houston trú lạnh vài tháng mùa Đông, đến nhà mới của chị D thăm . Còn tôi chỉ thăm  khi  về Houston.

Một lần chúng tôi đến thăm Tết , gặp cháu Th đang ra xe đi chơi. Tôi lì xì cho cháu rồi vào nhà ngồi nói chuyện với  mời chúng tôi ăn quất ngọt hái từ vườn cùng với mứt bánh. Ăn xong  nhờ chúng tôi giúp  ra vườn hái thêm Quất. Trước khi ra về,  cho chúng tôi khoảng 20 quả quất ngọt. Tôi nhận cho  vui, dù nhà tôi cũng có trồng đủ 3 loại quất; chua, ngoài ngọt trong chua, và ngọt. Vài tuần sau, chị C phone cho tôi khuyên tôi không nên tới thăm  nữa. Tôi hỏi tại sao thì chịC nói là mách với chị là “cô Ti đến thăm mà ăn cắp Quất” của .  Tôi nghe xong chỉ cười và nói với chị C là “có ‘cậuH’ đi với em mà chị”. Nhưng đó là lần cuối cùng tôi đến thăm . Tôi không buồn giận  vì không biết  có nói không nhưng để tránh phiền phức nên tôi không đến thăm  nữa. Anh thì chỉ nói là  lẫn rồi. Mấy năm sau chị C cũng theo Má và anhD.

 

Cách đây ba năm,  có tham dự đám cưới con gái chúng tôi.  không còn nhớ gì nhiều nữa. ngồi xe lăn, khi chúng tôi chào hỏi,  chỉ cười ngây thơ như đứa bé lên hai. Hai tháng trước đây, trong một lần nói chuyện với chị D, chị cho biết  yếu lắm rồi. Tôi nói với chị là tôi sẽ lên thăm nhưng khi hỏi Anh đi với tôi thì Anh nói xa quá, chờ  về Houston rồi thăm. 

Cuối Đời 

Tin  mất được cháu L gửi bằng email đến bà con thân thuộc vào sáng sớm  thứ Bảy cuối cùng của tháng Ba. Bản tin viết  mất từ chiều hôm trước. Chồng tôi gọi điện thoại cho chịD, hỏi chương trình tang lễ, chị nói không có chương trình gì cả. Anh chuyển phone cho tôi chia buồn với chị. Tôi hỏi lúc nào chúng tôi có thể viếng . Chị nói không có thăm viếng, chỉ có một cái memorial service tại nhà thờ Baptist của người Việt vùng Đông Nam Houston, lúc 6 giờ chiều thứ Ba mà thôi. Nhưng sáng hôm sau, chị cho biết chúng tôi sẽ được viếng Bà từ 7 đến 8 giờ chiều Chủ Nhật.

Từ nhà thờ Holy Rosary trong downtown Houston, sau buổi thánh lễ cầu nguyện bình an cho NS Việt Khang và những nhà tranh đấu tại Việt Nam, chúng tôi lái xe đến nhà quàn thì trời bắt đầu tối. Xa và lạ đường, dù có GPS trong cellphone, chúng tôi vẫn bị lạc một quãng, khi đến nơi thì đã 7:15′.  Trong căn nhà quàn nhỏ  của tỉnh lỵ, đứng bên xác Bà chỉ có chị D, cô Út, cháu L, cháu Th và một người đàn ông da trắng lạ. Chúng tôi được giới thiệu ông là mục sư của một nhà thờ Tin Lành trong tỉnh mà anh S và chị D thường đi lễ.

 nằm trên bàn giữa căn phòng nhỏ, giống như phòng nguyện, có đèn khá ấm cúng. Khuôn mặt an bình như đang ngủ. Không áo quan nhưng có 2 chậu hoa Lily nhỏ màu trắng và vài chậu ferns. Chị D nói nhờ không có áo quan nên thấy được  rõ hơn.  Chồng tôi hỏi tại sao không có áo quan, chị trả lời là nhà quàn nói không cần. Anh hỏi như vậy làm sao thiêu, chị nói chị không biết. Rồi chị nói thêm là nhà quàn sẽ thiêu Bà thứ hai, đến thứ ba chị và gia đình sẽ đem tro của  về chôn tại nghĩa trang chùa, nơi  đã có sẵn mộ phần và bia đứng.

Hơn 7 giờ 30 tối anh chị T và con trai của anh chị mới đến vì lạc đường. Anh T ngạc nhiên hỏi “Ủa chưa liệm à” nhưng không ai trả lời anh. Chị D cho chúng tôi biết là nhờ cháu L từ CA bay về và muốn thấy Bà Ngoại trước khi thiêu nên nhà quàn mới dành cho gia đình một tiếng đồng hồ. Vì vậy chúng tôi mới được viếng . Anh T hỏi chị sao không thấy chồng chị, chị trả lời là anh S đang trong bệnh viện vì còn yếu sau những lần chạy chemo vì ung thư phổi.  Chị D cũng nói người con thứ hai của từ NaUy không sang vì xa quá.

Mọi người rời nhà quàn lúc 8 giờ tối sau khi nhờ tôi bấm vài tấm hình. Trên đường lái xe về Houston chúng tôi khá thắc mắc về thủ tục mai táng của . Anh không hiểu tại sao  lại không có được một cái áo quan.  Theo suy đoán của Anh thì có thể  đã lo xong việc hậu sự với nhà quàn VP tại Houston từ lâu lắm rồi. Anh lý giải là bia đứng đã được dựng sẵn từ lâu thì hẳn là áo quan và chi phí tang lễ cũng đã được trả xong từ lâu lắm rồi.  Trong lúc tôi lái xe, Anh mở phone nghe tin nhắn. Một người cháu dâu của Bà đang ở Cali, vợ của cháu ruột gọi  bằng cô, để lại một message trong phone của chồng tôi với giọng bất mãn về việc tang lễ của . Chị phiền trách cô Út khá gay gắt: “Cô Út có theo đạo gì thì theo nhưng tang lễ của Bà đâu có làm như thế được”.  Về đến nhà sau 10 giờ tối, khi nhìn vào cuốn lịch treo tường, tôi chợt ước ao mọi việc vừa xảy ra trong ngày chỉ là “Cá Tháng Tư”khi thấy Chủ Nhật là ngày 1 tháng 4 năm 2012.

Từ những thành phố xa, vài người con của chị C gọi điện thoại cho Anh, báo tin sẽ về dự đám tang của . Tôi nghe Anh nói đám tang có làm gì đâu mà về.  Dù vậy tối thứ hai thì các cháu từ Dallas về đến và sáng sớm thứ ba thì người con lớn của chị C từ Tulsa cũng có mặt tại Houston để dự buổi chôn tro của  tại nghĩa trang lúc 11 giờ sáng.  Sở dĩ tôi không dùng chữ “Lễ” vì không có một vị mục sư hay vị thầy nào cả. Tôi không tham dự buổi chôn cất này vì có việc khẩn phải làm, nhưng khi mọi người về lại nhà tôi thì tôi được biết là nhân viên của nghĩa trang đã đào huyệt nhầm chỗ.  được chôn trên phần đất của bác B. Chôn xong mọi người mới thấy điều này. Chị D có đưa cho anh T một cuốn kinh Phật, bảo anh muốn đọc thì đọc.  Tôi cũng được nghe kể là khi sắp hạ huyệt thì có cơn gió lớn, làm mọi thứ rơi hết xuống đất. Và cháu L đã lên tiếng “Bà giận nên làm đổ hết đó”. Buổi hạ huyệt của  chỉ có người trong gia đình và vợ chồng một người bạn của anhD ngày trước. Tất cả chưa được 20 người  Xong buổi hạ huyệt các cháu trở lại Tulsa và Dallas, không dự buổi lễ tưởng niệm được tổ chức buổi chiều cùng ngày tại nhà thờ.

Trong thánh đường khá lớn của Vietnamese Baptist Church, Chị D, cô Út và hai cháu L, Th ngồi dãy ghế đầu. Chị D muốn chúng tôi và gia đình anh chị T  ngồi hàng ghế ngay sau lưng họ, nên dù đã ‘an tọa’ ở dãy ghế phía sau, chúng tôi phải dời lên trên theo lời yêu cầu của chị D. Bằng hữu và thành viên của nhà thờ ngồi vài hàng ghế phía sau. Tổng cộng khoảng trên dưới 60 người. Không có một người quen của  từ chùa. Buổi lễ tưởng niệm được cử hành với hai ngôn ngữ, Mục sư H.Q.Kh làm lễ bằng tiếng Việt, một thanh niên người Việt rất trẻ dịch lại tiếng Anh. Đang ngồi nghe chăm chú với sự ngưỡng mộ bởi giọng nói trầm ấm của mục sư Kh cũng như giọng tiếng Anh không có âm hưởng tiếng Việt của người dịch, tôi chợt ngỡ ngàng khi nghe mục sư Kh thao thao:

“Bà … đã sáng suốt quyết định trở về với Chúa năm 2003, sau khi nghe mục sư Tôn Thất Bình rao giảng…”

Rồi mục sư Kh kêu gọi những người chưa về với Chúa hãy thức tỉnh về với Chúa để khi chết sẽ được về dưới chân Chúa và sẽ gặp Bà…

Mục sư Kh chưa dứt lời mà những cặp mắt của chúng tôi đã vội tìm nhau. Anh T nhìn tôi. Chồng tôi nhìn tôi. Tôi chỉ lắc đầu.  Quay sang con bé, tôi nói nhanh “Mẹ chết con không được convert mẹ nghe chưa”.  Con bé nắm chặt tay tôi, nói nhỏ “Mẹ, đừng có lắc đầu, họ đang quay phim.”

Mục sư kết thúc buổi lễ và mời mọi người sang phòng bên cạnh có thức ăn nhẹ để hàn huyên. Tôi nói với Anh và con bé “Không ở lại nha, mình cùng đi về”. Cầm chìa khóa xe trong tay, tôi bước ra khỏi giáo đường. Anh T theo chúng tôi ra ngoài sân đậu xe. AnhT lắc đầu nói với chúng tôi là “Họ không có văn minh”. Trong parking lot chúng tôi gặp gia đình một người con khác của chị C từ Dallas vừa đến. Các cháu cho biết sở dĩ đến muộn vì xa lộ bị đóng do những cơn bão lốc ban trưa. Anh T đưa các cháu vào bên trong để gặp chị D và cô Út trong khi chúng tôi lái xe ra khỏi khuôn viên nhà thờ. 

Trên đường về nhà tôi hỏi chồng tôi là có tin  đã “sáng suốt” quyết định về với Chúa không.  Chồng tôi cười lớn hỏi lại “Bộ em tin hả ?”. Tôi chỉ lắc đầu thay câu trả lời. Một lát, Anh nói chậm rãi “Cô Út cải đạo, chị D cũng cải đạo mà bây giờ mình mới biết, Họ tin vào Chúa thì họ làm những gì họ nghĩ là tốt cho Bà mà thôi.” Tôi nói với Anh “Sao lại ‘cả gan’ làm như vậy được.”  và hỏi thêm “Nếu anhD còn sống, anh có nghĩ là cô Út làm được vậy không?” Anh đáp “Chắc chắn là không.”

Hơn một tuần sau, sau cuộc điện đàm với cháu ruột của  ở Cali, chồng tôi kể lại với tôi là, cháu của  cho biết là anh ấy yêu cầu chị D gửi cho một tấm hình của  để “làm tuần” cho Bà. Anh ấy đã nhận được hình và đang “làm tuần” cho  tại một ngôi chùa bên đó ./.